Hiển thị các bài đăng có nhãn Điển Phật Mẫu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điển Phật Mẫu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

Bút Điển Mẹ Diêu Trì








Đêm mùng 1- Giêng- Bính Tý (1938).



DIÊU TRÌ KIM MẪU


THI :

Từ Mẫu xem qua bắt động lòng,
Tình thương vô tận, đứng, ngồi, trông.
Sớm chiều tựa cửa chờ tin nhạn,
Ngày tháng nương hiên đợi bóng hồng.
Lắm lúc ngậm ngùi bầy trẻ dại,
Đòi phen nhắc nhở đám con Rồng.
MẸ già thổn thức nào an dạ,
Đổ lụy vì đâu vắng ẵm bồng.


Ẵm bồng nhớ bầy con vắng dạng,
Ngồi, đứng, trông tin nhạn mỏi mòn.
Sớm chiều tựa cửa trông con,
Chẳng hay con trẻ vuông tròn phận chưa?
Buồn than thở khi trưa lúc tối,
Quặn chín chiều ruột rối vò tơ.
Công danh lòng trẻ đợi chờ,
E khi mến tục hững hờ nhà Huyên.
Nay Chí Tôn rộng quyền ân xá,
Chắc phen nầy MẸ đã gặp con.
Bỏ hồi cách trở nước non.
Bao nhiêu miếng ngọt miếng ngon để dành.








Đức Phật Mẫu giáng cơ năm Đinh Sửu (1937).



DIÊU TRÌ KIM MẪU



MẸ mừng các con Ái Nữ.
Lành thay ! Lành thay ! Ngày nay MẸ rất hân hạnh vui mừng thấy các con níu nhau hồi về với MẸ, chạnh nhớ nỗi niềm từ lúc nọ, nung lò bảo sanh, đùm bọc các con cho đến nay đã 6 triệu niên dư, có lúc MẸ chi xiết nỗi mừng, MẸ tưởng nhớ rằng các con thân mến đã dắt nhau hồi về với MẸ.
Nào hay đâu MẸ mắc mưu với đàn con. MẸ hồi tưởng khi các con vắng MẸ trửng giỡn trước ao sen, gió thổi lắc lơ cành sen nghiêng qua lắc lại. Ôi ! Đau thảm cho già chống gậy ngóng trông, mà các con đành lìa MẸ, xa khơi nơi vòng trần thế tục mà quên cả cội căn.
Nay nhờ Đại Đạo hoằng khai ân xá, nên chi MẸ mới tầm đặng các con. Vậy các con hãy hiểu rằng: Trong kiếp chót cuối cùng nầy mà lo tu niệm, bồi công lập đức, hầu có trở về với MẸ.
MẸ ban ơn cho các con. Tòa sen ngôi báu rực rỡ chói ngời, hạnh hưởng tiêu diêu, đời đời khoái lạc. Chớ các con ở chi trần thế mà bụi tục vấn vương cho tấm thân đày đọa.
Vậy MẸ cho các con phép cơ tạo Thiên.
MẸ dạy :


THI BÀI :
Nơi Diêu Điện, lưỡng ban chầu chực,
Nhớ đến con bứt rứt lòng già.
Gậy nâng chẳng quản đường xa,
Gậy châm mây bạc đưa già đến đây.
Nơi đàn nội xum vầy đông đủ,
Nhìn các con ủ rủ tấm lòng.
Thương con khổ não chập chồng,
Đau lòng MẸ xuống quyết bồng con lên.
Con ôi ! Khá tâm bền sức gắng,
Những lời vàng MẸ dặn ngày xưa.
Khiêm cung, nhẫn nại, lọc lừa,
Giúp đời nào nại sớm trưa tháng ngày.
Cõi trần tục trưng bày đủ cách,
Nhủ các con vào vách tứ tường.
Thảm cho con dại lầm đường,
Nay Thầy mở Đạo, buồm trương rước về.
Đem con trẻ trở về Tiên cảnh,
Chọn linh căn tánh hạnh thuần lương.
Long Hoa sắp soạn khai trường,
Thi tài chọn đức, con bươn kịp giờ.
Nhìn kỹ lại con thơ MẸ thảm,
Ruột chín chiều đòi đoạn thắt đau.
Thấy con lòng Mẹ xót xao,
Con ơi Con hỡi ! Con nào thấu chăng ?
Nhắc đến đây khó dằn giọt lệ,
Thương con khờ chẳng kể thân già.
Nước non chớn chở bao la,
Quyết tìm một gậy mệt già viếng con.
Đối với trẻ cho tròn phận MẸ,
Mượn vần thơ thỏ thẻ đêm khuya.
MẸ khuyên em chị chớ lìa,
Học gương Diệu Thiện danh bia lưu truyền.
MẸ dành để Đào Tiên cho trẻ,
Rượu bồ đào tay lẹ con nâng.
Mây vàng sẵn chực bên chân,
Đưa đường Tiên cảnh, Chín từng hồi nguyên.


MẸ từ giã.


Từ giã các con ở lại trần,
MẸ về Tiên cảnh dạ bâng khuâng.
Khuyên con gắng chí lo tu niệm,
Dứt điển MẸ mau tách dặm lần.

THĂNG


THI :

Lần lừa mùi thế bước càng gay,
Biển khổ trăm năm nhọc xác đày.
Kẻ trí cắn răng theo lũ dạy,
Người ngoan nhắm mắt níu phường say.
Hý tràng nao nức nhiều lui tới,

Cõi tục mơ màng lớp đổi thay.
Sẵn gió buồm giương thuyền đợi khách,
Trễ chơn đợi đến ắt thâu ngày.


DIÊU TRÌ KIM MẪU








Rằm tháng 8 năm Nhâm Ngọ (dl 2-9-1942).




DIÊU TRÌ KIM MẪU


Mừng các con Nam Nữ.
MẸ vui được thấy các con biết lo cho chúng sanh tức là lo cho mình vậy.
Mình tu cho chúng sanh, mình lập vị cho chúng sanh, tức là mình lập vị cho mình. Phải hiểu cho rõ, nếu chúng sanh chưa ai đắc đạo thì ta phải cầu nguyện cho người đắc đạo trước ta.
Nếu mình cứ mong cho cao phẩm giá, tức là trái với Thiên ý, mình phải hằng ngày trau giồi tánh đức, lo chung cho thiên hạ, ấy là phương pháp tu tắt đó.
Thường ngày công phu mà mình chất chứa tánh tự kiêu thì cũng không mong đắc Chánh quả được, bất quá đắc một vị Địa Tiên đó thôi.
Vậy muốn cho hoàn toàn thì rán tập cho biết trừ các điều xấu xa, tập thường ngày tầm Chơn lý, kiếm hiểu huyền vi, răn mình hằng bữa, đó là đường chánh sáng láng cứ lo bước tới.
Đạo chia ra 3 Chi : Thế, Pháp, Đạo. Mình tu cho đúng theo Luật, hành theo Pháp, thì chúng sanh nơi thế ca tụng công đức mình, trọng kính mình, ấy là mình đắc Thế.
Hễ đắc Thế thì phải tầm Pháp đặng cứu chữa, dạy bảo theo Pháp. Nếu mình hành Pháp hiển linh , chúng sanh ứng mộ thì mình đắc Pháp.
Nếu đắc Pháp thì phải tầm Đạo. Đạo là vô vi, muốn tầm không phải dễ, mà dễ khó là do nơi mình. Nếu đi được 2 khoản thì khoản sau nầy phải ráng, nếu đắc đạo thì nhập cõi Niết Bàn.
MẸ ban ơn cho các con Nam Nữ.


Nhứt khí tạo đoan cả Địa cầu,
Nương theo Mẹ cả giảng vài câu.
Kính dâng Tam bửu hằng năm vẹn,
Tặng lễ mừng thầm đắc chẳng lâu.


Nhị châu Chơn võ nhớ cùng không,
Nương cõi Thiên cung gởi bóng hồng.
Kính tặng vài câu mừng bạn cũ,
Tặng người hiếu hạnh chịu phòng không.


Tam Kỳ khai mở Đạo lần ba,
Nương náu ít lâu rõ báu hòa.
Kính lượng bề trên ban đức tánh,
Tặng người tài trí hứng Đài Cao.


Tứ đức vẹn toàn mới xứng danh,
Nương hơi nhang khói chỉ điềm lành.
Kính mừng quí vị ân cần tịnh,
Tặng khách nâu sồng diệt quới khanh.


Ngũ hành vận chuyển đoạt Huyền Thiên,
Nương níu đôi năm khỏe tự nhiên.
Kính có công tu nay gặp hội,
Tặng mình hữu hạnh phục qui nguyên.


Lục lạc khua rân cả ngũ châu,
Nương chi vật chất phải âu sầu.
Kính xin tỉnh giấc lo tu sớm,
Tặng quyết cầu ân cổi ách sầu.


Thất thế náu nương chớ tưởng lâu,
Nương cùng quí vị chỉ đường cầu.
Kính đem đến tận bờ dương liễu,
Tặng nghĩa đài sơn kẻ chực chầu.


Bát vu hành khất bữa mơi chiều,
Nương tưởng mình to giống kẻ thiêu.
Kính đến Tây phương tầm Xá lợi,
Tặng tình đồng đạo phải đồng yêu.


Cửu Thiên mở cửa rước người hiền,
Nương chí dắt dìu khách hữu duyên.
Kính lập công to qui cựu vị,
Tặng tiền phát khởi lập căn nguyên.


Thu cúc hứng sương khách kiếm mùi,
Chín Cô cùng MẸ đến chung vui.
Thương nhau tầm kiếm chừng nào gặp,
Công đức vẹn toàn sẽ hiệp ngôi.


THĂNG








Đàn cơ ngày 15-8-Bính Tuất, Tý thời (dl 10-9-1946).




DIÊU TRÌ KIM MẪU
Thiếp chào chư Thiên mạng Nam Nữ.
Thiếp xin tỏ đôi lời cùng Ngự Mã Thiên Quân Hộ Pháp. Từ ngày Thiếp đến chung cùng chư Thiên mạng đến nay thì tính đã 20 năm có lẻ, chỉ lấy tình thân ái thiêng liêng mà xưng hô cùng nhau là vì Thiên Thơ tiền định. Thiếp đến dìu đường cho con cái Chí Tôn đến ngày thành Đạo. Ngày nay đã đúng kỳ sở định, Thiếp mới đặng quyền nhìn nhận con cái của Thiếp.
Vậy từ đây, Thiếp chỉ dụng lời chí thiết yêu đương, là MẸ con tương hội. Vậy Thiên mạng đừng phiền Thiếp nghe !
Hộ Pháp xem bài văn Thiếp mà nghĩ đến tình trạng của Diêu Trì đau thảm đến dường bao, con ! Khi con mông trần buổi nọ.
Cửu Nương nối điệu toàn văn động đình.
Các con Nữ phái bình thân.


VĂN :
Nhẫng ngồi giữ Huỳnh Hoa Ngự Uyển,
Mà quên nghe đặng tiếng vĩnh sanh.
Đoạn đường lều cỏ chòi tranh,
Tay nương cây gậy một mình trông vơi.
- Nhứt Nương DTC


Tiếp văn :
Trông động cũ màu trời biến sắc,
Trông cung nga thiếu bậc từ quân.
Trông xa đảnh Thánh non Thần,
Trông đền Ngọc Khuyết vắng phần Thiên lương.
- Nhị Nương DTC


Tiếp văn :
Nay đầm ấm con đường hạnh phúc,
Cõi phong trần gội chút hồng ân.
Tiêu diêu phai lợt mùi trần,
Tỉnh say với giọt nước ngần tẩy mê.
- Tam Nương DTC


Tiếp văn :
Tưởng trọn phận tô xuê đảnh Việt,
Nương thuyền từ cứu tuyệt trần ai.
Đường quê nào thấy Thiên thai,
Công trình lập đặng Vân đài chí công.
- Tứ Nương DTC


Tiếp văn :
Mở rộng cửa đại đồng vạn chủng,
Khai nẻo sanh cứu sống nhơn gian.
Trị tâm mở mắt song quang,
Khai đường Cực Lạc, mở đàng Lôi Âm.
- Ngũ Nương DTC


Tiếp văn :
Đưa gương rạng Quan Âm dẫn thế,
Diệt mê hồn tồi tệ kiếp căn.
Cam lồ rửa sạch phong trần,
Gương xưa để bước đi lần cảnh thăng.
- Lục Nương DTC


Tiếp văn :
Nào dè phép Quỉ toan cải chánh,
Mượn quyền Yêu so sánh Chí Linh.
Đem thân lữ thứ làm binh,
Cầm gươm huệ chặt tan tành cung thương.
- Thất Nương DTC


Tiếp văn :
Hỡi nào kẻ lo lường nghiệp Đạo,
Hỡi những trang nóng máu anh phong.
Ngôi Thiên để dựa bóng hồng,
Phục hưng gầy nghiệp con Rồng cháu Tiên.
- Bát Nương DTC


Tiếp văn :
Gầy sự nghiệp tổ tiên ngày trước,
Dựng miếu đường hưởng phước tự do.
Mảng trông bến cũ đưa đò,
Chơn quân Lương tể gây trò vinh phong.
- Cửu Nương DTC


Xin nhượng bút cho Bát Nương.


Đào nguyên lại trổ trái hai lần,
Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.
Cung Đẩu vít xa gươm Xích quỉ,
Thiềm cung mở rọâng cửa Hà ngân.
Xuân Thu định vững ngôi Lương tể,
Phất Chủ quét tan lũ nịnh thần.
Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,
Mở đường quốc thể định phong vân.
- Bát Nương








Đàn cơ ngày 9-Giêng-Đinh Hợi Tý thời (dl 30-1-1947).
(Sau khi Đức Chí Tôn giáng cơ, tái cầu thì có Đức Phật Mẫu giáng).



DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC THIÊN TÔN

Mừng các con. Bình thân.
Các con chưa rõ cái mùi phú quí cao sang nơi thế nầy là cái bẫy để gài những bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, phải sa đọa không mong đắc quả. Bởi cớ ấy mà đứa nào đặng hưởng lộc cao quyền cả thì MẸ lại lo cho đứa ấy sẽ quên cội bỏ nguồn, đành thả trôi chơi vơi nơi bể thảm. Trong đám nầy chỉ có một số ít đứa biết hối ngộ tu tâm, chun vào cửa Phật, cũng lắm đứa miệng niệm Nam mô mà lòng lại cay nghiệt đè ép kẻ yếu thế cô, đương thâu của bá gia về tấn cúng, lòng ham tưởng chúng khen ngợi mà không kiếm hiểu câu tội phước công bình kia.
Trời Phật, Thánh Thần chẳng đòi, không biểu lễ cúng chi cả. Các con vì lòng tín ngưỡng, chẳng biết điều chi, tạm dùng lễ để cung kính, rốt lại để khoe mình và để chìu theo thói phàm tục.
Các con hiểu Đạo, MẸ chẳng nói nhiều, các con khá suy nghĩ.
Chư Tiên, chư Phật cùng các Đấng Thiêng liêng chỉ dùng Tâm trong sạch, tín ngưỡng kỉnh thành, ấy là một vật báu để hiến lễ đó.
Trên Thế, cũng chẳng khác chi trên sân khấu, sắp cho đủ lớp, nào là trung nịnh, hiền dữ, chen lấn múa men, la gầm, than thở, rốt cuộc bôi mặt thì đứa nào cũng ra đứa nấy. Dầu các con đặng địa vị cao sang thế nào cũng chẳng nên tự kiêu tự đắc, húng hiếp những đứa thấp hèn.
Các con rán ẩn nhẫn, hằng ngày bền chí trau tâm. Chỗ Hằng sống là nơi căn cội của các con.
Vậy các con cũng chẳng nên quyến luyến thế đời mà quên cựu vị nghe !
MẸ mừng đặng thấy các con hội hiệp với nhau. Vậy các con hãy nắm tay nhau cho chặt chẽ, đi cho vững.
MẸ ban ơn cho cả Nam Nữ. MẸ thăng.


* * * * *


THI :

Lượng sóng đời kia khó định chừng,
Vườn Xuân khô lá khó trông Xuân.
Hiên mai gió tạt nghiêng rèm hạnh,
Giậu tối trăng soi đổ bợn trần.
Tiếng hạc kêu vui xa thẳm thẳm,
Hơi quyên chào thảm lóng gần gần.
Chờ xem thế cuộc tùy duyên phận,
Đừng tính đeo mang gánh nợ trần.

Diêu Trì Kim Mẫu





11

Đàn cơ ngày 2-2-Đinh Hợi, lúc 1 giờ khuya, (dl 22-2-1947).




DIÊU TRÌ KIM MẪU
Mụ chào các con. Mừng.
Mụ lấy làm thậm cảm tình, mặn nồng, hiếu hạnh của các con, nhứt là Hộ Pháp, đã lập nên Đền Thờ trọng hậu.. Cả Diêu Trì Cung đều để lời cảm ơn.
Nữ phái các con,
Kể từ đây, đã có nơi MẸ con hội hiệp. Khá nên để trí tưởng rằng, chẳng buổi nào MẸ không ở gần các con, chung chia đau thảm, chỉ xin các con có một điều trọng yếu là các con phải tập tánh hòa nhã, yêu ái lẫn nhau mà chia buồn sớt thảm cùng nhau, ấy là lễ hiến cho MẸ quí hóa hơn hết.
Nếu biết thương yêu thì chẳng có chi hơn là dạy dỗ trẻ thơ đặng khôn ngoan đạo đức.


THI :

Đầy lòng yêu ái đám quần linh,
Nghĩa cử chỉ trông một tấc thành.
Lựa chọn những gì riêng kiếp trái,
Đớn đau chỉ nặng mối thâm tình.


Nếu Mụ còn điều ước vọng thì chỉ trông Ngự Mã Thiên Quân giúp Mụ thường thường cơ bút đặng dạy dỗ Nữ phái .
Hộ Pháp, theo ý Mụ thì chẳng nên làm lễ Mụ trong thời Tý, e cho thất lễ với Từ Bi. Vậy nên sửa lại trong giờ Ngọ Sóc Vọng cho có thế con cái của Từ Bi dâng lễ cho Người.

THĂNG


* * * * *


THI :

Chờ về vắng bặt tiếng thu qua,
Tiếng nhạn kêu sầu tiếng thiết tha.
Vườn trước ngơ trông cây liễu rủ,
Non xưa chạnh nhớ bóng trăng tà.
Thi đề thảm, lóng hơi oanh thán,
Cầm trổi buồn, nghe tiếng dế hòa.
Dặm thẳng lương nhân xin khá gắng,
Đường dài nghĩa nọ dễ đâu xa.

DIÊU TRÌ KIM MẪU

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2021

THƠ MẪU




THƠ MẪU :


Bà linh hiển ứng độ quần sanh

Chúa thương thường chuyển con dân Việt

Xứ sở oai linh càng oanh liệt

Thánh minh rạng tỏa vùng Nhật Nguyệt

Mẫu trên các Mẫu an nhân loại

Núi Thất Sơn danh Thánh Địa đầu

Sam tỏa điển vàng vùng Mẫu ngự

Châu rực tình thương đời Tiên Phật

Đốc mở Thiên Đàng Đại Nam Vinh



TRÌNH MẸ VIỆT NAM



Xa Gần Khải Tấu Mẫu Hoàng

Trần gian thôi đã đá vàng nát tan

Con thơ đâu dám than van

Đắng cay bèo bọt lầm than chẳng từ



Thế trần nhiều nỗi ưu tư

Đọa đày hồn vẫn ầm ừ u mê

Giành tranh quyền chức lê thê

Lợi quyền tiền bạc lối về vắng hoang



Con Đà lãnh lệnh Mẫu Hoàng

Nhẫn Hòa kiên trí tìm đàng khai tâm

Hòa tan con đã chế châm

Lần lần trao gởi tình thâm diệu huyền



Mẫu ơi! Lắm lúc đảo điên

Con thơ nặng nghiệp Trần miền Hạ san

Dù cho trắc trở muôn vàn

Hạnh từ của Mẫu ngút ngàn con theo



Chông gai qua ải qua đèo

Nuốt dòng lệ máu vâng theo ý từ

Con nào màng quảy riêng tư

Thiên lệnh con lãnh thuyền từ độ tha



Thân đà tạo dựng bởi Cha

Hồn thơ do Mẹ đẫy đà dựng nên

Đến nay Cha Mẹ xây nền

Đựng tòa cửu tháp ơn trên nghìn trùng



Chờ ngày hội ngộ trùng phùng

Vui cùng Mẫu Mẹ ung dung gần kề

Tháng ngày xa cách ủ ê

Vàng tan, ngọc nát trọn về chúng sanh



Con thơ não nuột ý thanh

Mà sao sinh chúng vắng tanh thế này

Gió mưa tiết khí đổi thay

Hạ Ngươn thôi những tháng ngày đảo điên



Mẫu ơi lãnh lệnh Cửu Thiên

Tài hèn, trí mọn oan khiên lại nhiều

Hồng trần nay đã tiêu điều

Kéo dài con sợ gặp nhiều trớ trêu



Lên cao tuột dốc đứt diều

Gánh gồng vai đã nổi biêu tháng ngày

Cha chờ Mẹ gọi thương thay

Mà sao sanh chúng cối chày nhịp canh



Thôi cho con dại về nhanh

M ẫu ơi thật sự tròn vành đắng cay

Đất trời nổi gió tỉnh say

Mẫu thương, ôi hỡi trả vay chừng nào?



Phương Xa nước mắt tuốt trào

Con than cùng Mẫu biết sao bây giờ?

Đất Trời giông gió u ơ

Tỉnh say người vẫn thật khờ tỉnh say.





RỒNG TIÊN



Rồng xuống biển rước Tiên bay lên núi

Sinh trăm con trong một bọc vuông tròn

Nòi Bách Việt năm ngàn năm tiến mãi

Vượt phong ba rồi biến hóa đời đời



Trăm giống quí đến nay ngày khai hội

Qui về nguồn mở cửa nước trời Nam

Người Việt ta ôi nguồn cội nguyên Tiên

Trong Càn Khôn vinh hiển cõi Thượng Thiên



Rồng bay lượn rực trời Tiên hạnh phúc

Quấn quýt yêu tình Thái Cực nảy sinh

Thiên thần cất nhạc trời vang vũ trụ

Đón mừng ngày dân Việt khải hoàn ca



Âm ba vọng nảy mầm dòng giống quí

Nhất tinh cầu cả vũ trụ ngợi ca

Nước Việt Nam cùng nhân loại reo ca

Gốc Tiên Rồng hãnh diện đón Long Hoa




THƯỢNG ĐẾ & PHẬT MẪU






THƯỢNG ĐẾ & PHẬT MẪU



QUÍ NGÀI LÀ AI?

Phàm làm con người trên quả địa cầu nầy, lắm lúc chúng ta ngồi suy tư về sự hiện hữu của mình, rồi tự dưng sẽ nhìn thấy cả một kỳ diệu trong việc cấu trúc nên hình thể con người. Từ các cơ quan như: Cơ quan thị giác, cơ quan xúc giác, cơ quan thính giác, cơ quan vị giác, cơ quan khứu giác… và các bộ máy như: Bộ máy tuần hoàn, bộ máy tiêu hóa, bộ máy bài tiết… cho đến hệ thần kinh chi chit trong cơ thể rồi đến các trung khu trên não bộ…Các chức năng của những bộ phận nêu trên họat động một cách vi diệu khiến chúng ta phải thừa nhận có bàn tay sáng tạo của Đấng Tạo Hóa đã vẽ nên hình! Đó là phần hữu hình, còn về mặt vô hình như: Tánh linh, mặc khải, cảm nhận, kiến thức, tư tưởng, ý thức, tiềm thức, vô thức, lương tâm, linh hồn….ai đã tạo nên? Phải chăng cũng là Đấng Tạo-hóa?
Vượt ra ngoài phạm vi lớn hơn, với vũ trụ bao la, các vì tinh tú luôn luôn vận hành theo một trật tự vi diệu, vạn vật sinh tồn, thiên nhiên mầu nhiệm…Có thể nói, vũ trụ hãy còn nhiều bí mật mà loài người chưa đủ khả năng khám phá! Ắt phải có một Đấng Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ với quyền năng vô đối đã tạo nên.
Từ các suy tư kể trên, qua kinh sách của đạo Cao Đài, qua các đàn cơ dạy đạo của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, chúng ta đã được giải đáp rất nhiều về những bí mật của vũ trụ, về sự nhiệm mầu của Đấng Tạo Hóa, và về sự hiện hữu của hai Đấng tối cao, tối linh mà nhơn loại tôn thờ. Đó là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà người tín đồ Cao Đài gọi là Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.



Vậy Thượng Đế, Ngài là ai? Ngài như thế nào? Ngài ở đâu? Ngài làm gì? Đó là những câu hỏi muôn đời và vẫn chưa có câu trả lời nào được con người chấp nhận một cách trọn vẹn. Ngoại trừ các bậc chơn tu đã giác ngộ mới nhận diện được Ngài, còn phần đông chúng ta chỉ cảm nhận Ngài qua đức tin trong tôn giáo của mình mà thôi. Điển hình như Pascal, một khoa học gia, một nhà toán học, một triết gia lớn của nhơn loại đã nói: “ Dù không thể dùng lý trí để chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế vì Ngài quá siêu việt đối với sự hiểu biết của con người, nhưng chúng ta cần phải tin tưởng vào Đấng sáng tạo tối cao.”
Với Pascal, niềm tin ở Thượng Đế là nền tảng để khám phá mọi bí mật của thế giới vô hình, là yếu tố cần thiết để diện kiến được Ngài, là điều hữu ích cho kiếp làm người. Do đó Pascal đã khẳng định:

“Hãy quỳ xuống, anh sẽ thấy được Thượng Đế” Vậy thì:



I-THƯỢNG ĐẾ, NGÀI LÀ AI?
Điều nầy giáo lý của các tôn giáo đã có lời giải đáp đặt trên nền tảng đức tin của từng tôn giáo. Riêng về tôn giáo Cao Đài, nhờ phương tiện thông linh bằng cơ bút, người tín đồ Cao Đài mới biết chắc rằng: Có một Đấng duy nhứt, tối cao, tối đại, tối linh …đã tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. Đấng ấy trong thời Hạ Nguơn mạt pháp nầy đã giáng cơ mở Đạo và dạy Đạo. Ngài tự xưng là: Ngọc Hoàng Thượng Đế kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Tát. Với danh xưng nầy có nghĩa Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế nay gọi là Đấng Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Như trên đã nói, với phương tiện cơ bút, Đức Chí Tôn khai Đạo và dạy Đạo nên cũng nhờ váo đó nhơn loại ngày nay có thể biết rõ ràng về Thượng Đế. Chính Ngài đã giáng cơ giải thích về thân thế củ Ngài như sau:
“Khi chưa có chi trong Càn Khôn Thế Giới thì khí Hư vô sinh ra chỉ có một mình Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái. Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn Khôn Thế giới. Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm và gọi chung là Chúng Sanh.
Các con đủ hiểu rằng, chi chi hữu sanh cũng bởi do Chơn Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống vì vậy lòng háo sanh của Thầy vô cùng tận. “
Một đàn cơ khác, Đức Chí Tôn giải thích thêm:
“ Khai thiên địa vốn Thầy, sanh Tiên Phật cũng Thầy. Thầy đã nói một Chơn Thần mà đã biến Càn Khôn Thế Giới và cả Nhơn Loại. Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy. Các con là chư Phật, chư Phật là các con. Có Thầy mới có các con, có các con rồi

mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới nên mới gọi là Pháp. Pháp có, mới sanh ra Càn Khôn Vạn vật, rồi mới có người nên gọi là Tăng.
Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.”
Nói tóm lại, như trên đã trình bày: Khi trời đất chưa phân định, không gian lúc bấy giờ chỉ là Hư Vô Chi Khí. Với cái tên gọi như vậy, vì cái thể của nó trống không đối với mắt phàm của con người, nhưng kỳ thực trong cái không ấy vẫn chứa đựng một nguồn sống tiên khởi. Từ nguồn sống ấy biến ra muôn loài, vạn vật…Trong đó có con người. Con người gọi tên nguồn sống ấy bằng nhiều danh hiệu khác nhau, chẳng hạn như Đức Chúa Trời, Đức Chí Tôn, Đấng Tạo Hóa, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đấng A- La, Đấng Giê- Hô- Va….
Vậy Thượng Đế tuy vô hình nhưng thực sự hiện hữu.



II – THƯỢNG ĐẾ Ở ĐÂU?
Nhờ Thánh Ngôn của đạo Cao Đài, chúng ta biết được nơi ngự của Đức Chí Tôn là Bạch Ngọc Kinh, là một tòa nhà to lớn làm bằng ngọc trắng được mô tả qua đàn cơ ngày 1-1 năm Bính Dần (1926) như sau:

Một tòa thiên các ngọc làu làu,
Liền bắc cầu qua, nhấp nhóa sao.
Vạn trượng then gài ngăn Bắc Đẩu,
Thiên trùng nhiếp khảm hiệp Nam Tào.
Chư Thần chóa mắt màu thường đổi,
Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao.
Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,
Vững bền muôn kiếp chẳng hề xao.



Để có một khái niệm rõ ràng về hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh, chúng ta hãy nhớ lại hình ảnh Tòa Thánh Tây Ninh được Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đứng ra xây cất theo mô hình do Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch giáng cơ vẽ ra, phỏng theo hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh trên cõi Thiêng Liêng. Do đó Tòa Thánh Tây Ninh cũng được gọi là Bạch Ngọc Kinh tại thế.
Ngoài Bạch Ngọc Kinh, Đức Chí Tôn còn ngự tại Linh Tiêu Điện ở Ngọc Hư Cung thuộc từng trời Hư Vô Thiên mỗi khi có Đại Hội Quần Tiên, nơi đó Đức Chí Tôn ngự trên đài cao để chủ tọa Đại Hội Ngự Triều.
Linh Tiêu nhứt tháp thị Cao Đài,
Đại Hội Quần Tiên thử ngọc giai,
Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,
Cổ danh bửu cảnh lạc Thiên Thai.

III – THƯỢNG ĐẾ LÀM GÌ?
Trong bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế mà người tín đồ Cao Đài tụng niệm hằng ngày có một đoạn cho chúng ta biết vài nét về quyền hành của Đức Thượng Đế. Bài kinh viết bằng Hán Tự và xin được diễn Nôm như sau:
Đức Thượng Đế tạo ra vạn vật và dưỡng dục vạn vật,
Trên thì chưởng quản 36 tầng trời và 3.000 thế giới.
Dưới chưởng quản 72 địa cầu và Tứ Đại Bộ Châu.

…………………………………………………………………….

Là vua của Nhật, Nguyệt, Tinh và thời gian.
Tức là vua của không gian và thời gian.
Là chủ của Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Là Đấng Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng,
Là Đấng Đại Thiên Tôn.
Cũng cần nói thêm, trong bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: “ Hóa dục quần sanh “ đã cho chúng ta thấy Thượng Đế luôn luôn quan tâm đến sự thăng tiến của vạn vật.
Thật vậy, kể từ Nhứt Kỳ Phổ Độ, qua Nhị Kỳ Phổ Độ, rồi đến Tam Kỳ Phổ Độ, Thượng Đế đã mở ra nhiều mối Đạo ở nhiều nơi…. cũng không ngoài mục đích dạy dỗ con người tìm con đường trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống và thăng cao Thiên vị.
Với hai chữ “Trở về “mà chúng tôi vừa mới nói, xin được nói rõ hơn, giáo lý Cao Đài cho biết, Linh hồn hay Chơn linh là điểm Linh Quang từ khối Đại Linh Quang của Đức Chí Tôn ban cho để nhập vào phàm thể của mỗi người. Chơn Linh ấy làm con người có tánh Thánh hầu gìn giữ và dạy dỗ phàm thể.
Bởi nguồn gốc Chơn Linh của mỗi con người là do một phần Chơn Linh của Đức Chí Tôn từ cõi Thiên nên Đức Chí Tôn hằng nói: “Thầy là các con, các con là Thầy “và chính vì thế, khi rời khỏi xác phàm, Chơn Linh con người tìm đường trở về gốc cũ ở cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Người tín đồ Cao Đài cho rằng cái chết của xác phàm tại trần gian là sự “Qui hồi cựu vị “hay ngắn gọn hơn là “Qui vị “để chỉ sự trở về của Linh Hồn.

IV – VỚI ĐẠO CAO ĐÀI, THƯỢNG ĐẾ VỪA LÀ CHA VỪA LÀ THẦY:
Với một Đức Chí Tôn duy nhứt, nhưng trong giáo lý Cao Đài khi giáng cơ dạy Đạo, Ngài thường xưng là THẦY. Vậy Đức Thượng Đế có lúc là Cha, lại có lúc là Thầy. Đó là điều mà Đức Hộ Pháp có lần đã vấn Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn.
Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn là cố Đại văn hào của nước Pháp, lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm Chưởng Đạo Hội Thánh Ngoại Giáo đạo Cao Đài.
Đức Hộ Pháp hỏi : Cha và Thầy khác nhau, tại sao Đại Từ Phụ của chúng ta lấy danh xưng là Thầy ?
Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trả lời bằng một bài thơ chữ Pháp xin tạm dịch ra văn xuôi như sau :
Ngài cùng trong một lúc là Cha và Thầy:
Bởi vì chính Ngài sanh ra tất cả con người chúng ta.

Ngài nuôi dưỡng thân thể chúng ta bằng vật lành mạnh

Và tạo ra linh hồn chúng ta bằng phép ThiêngLiêng.
Nơi Ngài,tất cả là thông thái và trí huệ.
Sự tiến hóa của linh hồn là công nghiệp của Ngài không ngừng.
Những vật chất hèn mọn là châu báu trước mắt Ngài.
Những linh hồn hèn hạ, Ngài biến chúng thành ThầnThánh.
Luật của Ngài là Bác ái, Quyền của NgàilàCôngchánh
Ngài chỉ biết Đạo Đức và không biết thói xấu.
CHA : Ngài ban cho các con sanh khí của Ngài.
THẦY : Ngài di tặng cho họ cái Thiên Tánh riêng của Ngài
Tóm lại, ngày nay, vào thời Nguơn Mạt Pháp, nhơn loại đang đắm chìm trong nền Văn minh vật chật, bỏ lơi con đường Đạo Đức khiến cho xã hội loài người càng ngày càng bất ổn, sống tranh giành, cấu xé, chiến tranh tàn sát nhau…và có cơ nguy dẫn đến chỗ tự diệt vong. Trước cơ nguy nầy, để cứu vớt toàn thể con cái của Thượng Đế, Ngài đã dùng huyền diệu cơ bút khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Việt Nam vào năm 1926. Với nền tân tôn giáo nầy, mọi kinh kệ, lễ bái, giáo lý, Pháp Chánh Truyền, Thể Pháp, Bí Pháp…nhất nhất đều do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ dạy qua cơ bút rõ ràng … Như vậy, Thượng Đế quả thực hiện hữu. Ngài đang chưởng quản cả Càn Khôn Vũ Trụ. Dưới mắt Ngài những vật hèn mọn là châu báu, những linh hồn hèn hạ, Ngài biến chúng thành Thần Thánh. Sự tiến hóa của linh hồn là công nghiệp không ngừng của Ngài. Luật của Ngài là Bác Ái, quyền của Ngài là Công Chánh. Ngài là Giáo Chủ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ dưới tôn chỉ: Tam Giáo Qui Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt và với Thiên Đạo Ngài truyền Bí Pháp giải thoát con người, với Thế Đạo, Ngài đưa xã hội loài người lập đời Thánh Đức.
Thượng Đế quả thật hiện hữu, Ngài là Cha của muôn loài, là Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ, nếu không trọn đức tin nơi Ngài, đó là một mất mát rất nhiều cho kiếp sống làm con người!







V-VÀI CẢM NHẬN

Đức Chí Tôn, với Càn Khôn Vũ Trụ Vạn Vật Ngài là Chúa Tể, với toàn thể nhơn loại Ngài là Đấng Cha chung, đặc biệt với người tín đồ Cao Đài, Ngài vừa là Cha, vừa là Thầy và cũng vừa là Giáo Chủ của đạo Cao Đài.Ở mỗi cương vị, Ngài có cách hành sử khác nhau:
Là Chúa Tể, trên thì Chưởng Quản Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế giới, dưới thì Thất Thập Nhị Địa, rồi Tứ Đại Bộ Châu…Guồng máy quản trị của Ngài có chư Thần Thánh Tiên Phật tùng hộ …Tất cả thiên vạn sự đều chu toàn một cách vi diệu…mà con người khó thấu hết được!
Đức Chí Tôn vừa là Cha Thiêng Liêng, vùa là Thầy nên việc gần gũi và dễ cảm nhận hơn khi Ngài nói: “ Một trường thi công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc thì phải đi tại cửa nầy mà thôi”
Vậy, mở Đạo là mở trường thi công quả, mở Đại Hội Long Hoa là mở cửa đón con cái trúng tuyển của Ngài vào Bạch Ngọc Kinh.
Thầy mở trường dạy học trò với tất cả lòng thương yêu, với hồng ân Đại Ân Xá…Học trò một lòng sùng kính Thầy, nguỡng mộ Thầy, ngày đêm chăm chỉ tu học. Học trò đông, thi đỗ nhiều nên ngôi trường của Thầy là ngôi trường chung cho nhơn loại, đạo do Thầy mở vào thời Tam Kỳ Phổ Độ cũng là nền đạo chung của toàn thể nhơn loại. Do vậy, người tín đồ Cao Đài hãy mau truyền khắp nơi trên thế giới, để nhơn loại cùng nhau hiệp lực hoàn thành đời Thánh Đức. Đó là Thánh ý của Đức Chí Tôn đang mong chờ con cái của Ngài mau chóng làm cho nên hình tướng.
Tóm lại, Đức Chí Tôn là Cha, Ngài đã bày tỏ tình Cha đối với con là Hồng Oai, Hồng Từ, Vô Cực, Vô Thượng…Là Thầy, Ngài muốn chính tay Thầy dìu dắt các con cho nên Đạo…
Riêng việc tự đảm nhận vai trò Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ngài đã hạ mình một cách tận cùng, vì là Đấng Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ mà phải hạ mình tá danh là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát để điều hành mối đạo nơi quả Địa cầu thứ 68 hết sức nhỏ bé nầy… Tất cả cũng vì đàn con đang đắm chìm trên biển trần khổ. Với nỗi niềm nầy, có lần Ngài đã phân trần với đàn con của Ngài qua đàn cơ ngày 11 tháng 9 năm 1929 như sau:
Các con coi, bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình độ rỗi nhơn sanh… là thế nào? Phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát, hai phẩm chót của Tiên, Phật. Đáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao, tối trọng., còn Thầy thì khiêm nhường…. là thế nào? Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy. Thầy lại nói, buổi lập Thánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu đến nhọc công Thầy.
Sau đó, ngày 13 tháng 2 năm 1927 Thầy giáng cơ giải thích tiếp rằng:
Thầy đã nói Ngũ Chi Đại Đạo bị qui phàm là vì khi trước Thầy giao chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao chánh giáo cho tay phàm nữa.
Như vậy, chúng ta cả thảy đều thấy rõ: Chính Thầy trực diện dạy dỗ các con, chính Thầy dìu dắt các con trên con đường Đạo cho đến khi các con của Ngài được hội hiệp cùng Ngài trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Bằng từng ấy, chúng ta cũng đủ cảm nhận: Thầy đến với chúng ta với cả tình thương vô bờ bến, với ý chí không lực nào cản nổi để giải cứu con cái

của Ngài từ thể xác cho đến Linh hồn.
Đó là nguyện ước của Thầy, tuy nhiên phần đạt đạo hãy còn ở chỗ chúng ta có quyết tâm cùng không. Bởi cớ đó nên Đức Chí Tôn quả quyết rằng:
Nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy, là cái đời tạm của các con, thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng. Ấy vậy vấn đề tự lập là vấn đề các con phải lo đó.
Còn điều nữa cũng cần nghĩ thêm, là trong thời buổi nầy, Đức Chí Tôn đến khai đạo không phải để nhân loại sùng bái Ngài, mà là để cứu rỗi nhân loại và lập đời Thánh Đức cho nhơn loại.
Điều nầy, Đức Hộ Pháp đã từng thuyết giảng rằng: Lạy Đức Chí Tôn không đem lợi ích gì cho Ngài đâu, mà lợi ích là cho chính mình đó.
Ngoài ra Đức Chí Tôn cũng vì đàn con đang đau khổ nên không còn nghĩ đến cái oai linh cao vòi vọi của một Đấng là Chúa Tể cả Càn Khôn Vũ Trụ mà sẵn sàng tá thế một cách hết sức giản dị để đem lại cho các con cái của Ngài mọi sự dễ dàng trên con đường tu luyện, Ngài không đòi hỏi phải tốn của hao tiền để thiết lập những ngôi đền đồ sộ để thờ kính Ngài. Chỉ dụng lấy TÂM thờ kính Ngài cũng đủ lắm rồi!

Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,
Không cần hạ giới vọng cao ngôi.

Sang hèn trối kệ, tâm là quí,
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi.

Vậy thì, với Thầy chúng ta chỉ còn biết: Thầy vì nhơn loại mà khai Đạo: Thương nên hết lời chỉ giáo, Thương nên tha thứ mọi tội lỗi từ xưa, Thương nên dùng chính tay mình để dìu dắt đàn con…và đáp lại: Ai thương Thầy thì lòng được rộng mở, thương Thầy tâm sẽ được sáng lên, thương Thầy thì chơn thần được thăng hoa…Càng thương Thầy sẽ thấy càng gần Thầy. Gần đến mức độ cảm nhận được sự huyền diệu vô biên như Thầy đã từng nói: Thầy là các con,các con là Thầy.
Nói tóm lại, trên đây chỉ là những ý nghĩ đơn giản, mạn phép được nêu ra với mong bắc nhịp cầu khơi nguồn từ tâm trí của mỗi người, để mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây…chúng ta đều liên tưởng đến Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Chí Tôn, Đức Đại Từ Phụ…đã hạ mình làm Thầy và luôn luôn ở bên ta để dạy dỗ ta nên người, nên Đạo…Thật hạnh phúc biết dường nào cho toàn cả nhơn loại ở thời Hạ Ngươn Mạt Pháp nầy !.





ĐỨC PHẬT MẪU, BÀ MẸ THIÊNG LIÊNG

Với con người, chúng ta chỉ nhìn thấy một thân xác là xác phàm. Đó là thân xác thứ nhứt, còn thân xác thứ hai là Chơn Thần do Phật Mẫu sanh và thân xác thứ 3 là Chơn Linh hay Linh hồn do Đức Chí Tôn ban cho.
Vậy chúng ta ai ai cũng có hai Bà Mẹ: Mẹ phàm sanh con mang xác phàm, Mẹ Thiêng Liêng sanh con trên cõi Thiêng Liêng gọi là Chơn Thần hay còn gọi là Chơn Thân vì chính thân xác nầy mới là thân xác vĩnh cữu của mình. Thân xác thiêng liêng của một người dù là chất khí nhưng cũng có hình tướng giống xác phàm như khuôn đúc.
Theo giáo lý Cao Đài, Thái Cực là ngôi của Đức Chí Tôn. Từ Thái Cực, Ngài phân ra Lưỡng nghi. Đó là Dương quang và Âm quang. Đức Chí Tôn chưởng quản khối Dương quang, còn phần Âm quang Đức Chí Tôn hóa thân ra Đức Phật Mẫu chưởng quản khối Âm quang.
Đức Phật Mẫu vâng lịnh Đức Chí Tôn thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái cực, rồi đem Âm quang phối hợp với Dương quang để tạo ra các tầng Trời, các quả Tinh cầu và các Địa cầu mà lập thành Càn Khôn Vũ Trụ.
Tiếp theo, Đức Phật Mẫu tạo hóa ra Vạn linh nơi cõi Thiêng liêng vô hình. Vạn linh gồm có bát hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.
Đức Phật Mẫu lại cho Vạn linh đầu kiếp xuống các Địa cầu tạo thành Vạn vật tức là Chúng sanh. Chúng sanh gồm có: Kim thạch, Thảo mộc, Thú cầm và Nhơn loại.
Đối với cha mẹ phàm trần, người cha tạo cho con duy có nhứt điểm tinh, còn huyết khí đều do người mẹ đào tạo mới có.
Về phần thiêng liêng, Đức Chí Tôn chỉ ban cho mỗi người một Chơn Linh, còn Phật Mẫu tạo nên trí não và xác thịt. Do vậy, muốn cầu xin cho đặng siêu thoát linh hồn thì không ai hơn là cầu Đức Chí Tôn và về phần xác thịt, khi đau đớn, khổ sở…thì cầu xin Đức Phật Mẫu.
Thật vậy, Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đã từng giảng:
Thông thường, có nhiều điều ta đến xin Mẹ thì Mẹ cho, còn xin Cha thì không được. Do đó phái nữ cần quan tâm đến điều nầy cho lắm, mỗi khi bịnh hoạn, đau khổ, hoặc cầu nguyện sanh được con là một chơn linh cao siêu nhập thể… thì chỉ có Phật Mẫu mới có đủ quyền năng ban ơn ấy cho.
Do kinh nghiệm bản thân, qua thời gian hơn 5 năm bị lưu đày trên đảo Madagascar, Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đã từng gặp nhiều nguy biến, tuy nhiên tất cả đều vượt qua, đã vượt qua ngoài sức tưởng tượng. Từ đó Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc đặt trọn niềm tin cứu độ nơi Đức Phật Mẫu và đến khi trở về Tòa Thánh Tây Ninh, Ngài thuyết giảng cho mọi tín đồ Cao Đài đều biết nếu lúc gặp nguy biến hay gặp lúc đau khổ, hãy quì xuống giữa không trung niệm danh Đức Phật Mẫu rồi cầu nguyện… ắt sẽ thấy được sự linh ứng kỳ diệu. Niệm danh của Phật Mẫu là : “Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn”
Phật Mẫu là bà Mẹ Thiêng Liêng của vạn loài, Người chỉ biết yêu thương con cái của Người mà thôi. Dầu cho vạn vật, hễ đồng sanh với một bà Mẹ Thiêng Liêng ắt được coi đồng một mực, vì vậy tại Điện thờ Phật Mẫu, lúc vào bái lễ tất cả mọi người đều đồng đẳng, dù là Chức Sắc Thiên Phong cũng mặc đạo phục như một tín đồ bình thường. Trước mắt Mẹ tất cả đều là con cái của Ngài và Ngài luôn luôn lấy tình thương yêu và tâm công chánh đối với các con mà thôi.
Với tình mẹ con sâu đậm như vậy, nên khi khai đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn giao trọn quyền cứu rỗi con cái của Ngài cho Phật Mẫu.
Ngọc Hư định phép cũng nhiều,
Phái vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ
Hoặc:
Ngồi trông con đặng phi thường,
Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh.
( Kinh tán tụng công đức Diêu Trì Kim Mẫu )
Ngoài ra Đức Hộ Pháp còn khuyên tất cả mọi người trong kiếp sống hãy đặt chữ hiếu đối với cha mẹ phàm trần lên hàng đầu, vì Cha là hình ảnh của Đức Chí Tôn và Mẹ là hình ảnh của Đức Phật Mẫu tại thế. Quả thật, con người đến khi nhắm mắt lìa trần, chơn hồn sẽ bái kiến Đức Phật Mẫu ở tầng Trời thứ 9 tại Diêu Trì Cung. Lúc bấy giờ chơn hồn nhìn gương mặt Đức Phật Mẫu chẳng khác gì với gương mặt Mẹ sanh ra mình. Nếu là con có hiếu, gương mặt bà Mẹ tươi cười và chơn hồn cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Ngược lại, nếu là con bất hiếu, chơn hồn thấy gương mặt nghiêm nghị của Mẹ mình và tự cảm thấy đau khổ không thể nói hết được. Chính vì vậy Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc trong những lần thuyết đạo, Ngài thường hay nhắc nhở đến đạo Hiếu của con người, nhất là giới trẻ và Ngài cũng thường lặp đi lặp lại hai câu đề cao về chữ Hiếu của Nho giáo như sau:
Thiên Địa tứ thời, Xuân tại thủ,
Nhơn sanh bách hạnh, hiếu vi tiên.
Nghĩa là: Trời Đất có 4 mùa, mùa Xuân đứng đầu. Con người có trăm hạnh, hiếu hạnh là trên hết.
Vậy làm người chúng ta đã thọ ơn Cha Mẹ phàm trần, thọ ơn Cha Mẹ Thiêng Liêng. Do đó trong cuộc sống chúng ta bao giờ cũng đặt Đạo Hiếu lên hàng đầu bằng cách thực thi đúng mức:
Với Cha Mẹ phàm trần lo phụng dưỡng.
Với Phật Mẫu yêu thương sanh chúng, giúp đỡ người thế cô, tật nguyền
Với Đức Chí Tôn luôn hạ mình làm tôi tớ vạn linh.

Đó là khuôn mẫu mà con người cần báo hiếu với các Đấng sanh thành mà Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã từng nhắc nhở trong những lần thuyết đạo



Hiền Tài Phạm văn Khảm

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

Điển Thơ Mẫu Dạy



KHAI KINH:

"Phật Mẫu sắp bảng tiên số rằng
Kể từ nay đến sau thuyết na
Cúng vía Mậu Kỷ nhứt niên trọn
Bền lòng Mậu kỵ trúng mùa tăng
Kệ rằng văn pháp Kinh Sám Hối
Mẫu ban phân sáng suốt cõi đời
Kinh thơ sám hối Mẫu Hoàng cơ
Vạn linh khắp cả chẳng sót nào.

PHẨM THỨ NHỨT: HOÀNG MẪU SÁM
XƯỚNG:


Mẹ thương con rơi dòng lệ chảy
Chốn cõi trần mắc phải lưới xan
Lỗi lầm con phải vươn mang
Ngày đêm sám hối xin van thoát nàn.

TỤNG:
Con có biết trần gian đau khổ
Khổ trăm đường con cố giăng tơ
Làm sau cứu được con thơ
Mẹ ngồi chờ đợi con thơ trở về
Mong tất cả thoát mê trở lại
Hội Long Hoa Mẹ khải đàn kêu
Nhìn người tài đức xoay chiều
Ai người cứu vớt phong điều về sau
Thời kỳ tận mau mau tu vững
Dời gót đi Ta dụng lời ca
Phật kêu Thần réo gần xa
Điển quang chiếu diệu đâu là Chúa tôi
Đố ai biết cổ xưa Lão Mẫu
Chiếu linh quang rọi thấu kiếp sau
Màn kỳ thi đạo nhiệm mầu
Siêu phàm nhập điển thúc hầu mở thông
Cơ tuyển lựa linh đồng màn chót
Tồn hậu lai tỉa gọt linh căn
Ngọc châu đạo pháp vững vàng
Đạo không sắc tướng đạo nhơn chơn truyền
Con của Mẹ đức tiền căn tốt
Nhập tâm con định chốt căn xưa
Luyện tâm hồn tự xoay khua
Xác thân như biển sóng đưa khơi ngoài
Rèn trí huệ gái trai chớ bỏ
Con cần tin lời đó Mẹ ban
Đừng để rút nước khổ nàn
Khó cứu căn kiếp chớ than chớ phiền
Nay Cộng Đồng xử truyền trọng đại
Khá chấp nghiêm kỳ này vi diễn
Mong sau con rồng cháu tiên
Mẹ này vội vã giáng miền trần gian
Ma Vương đã điểm sang tất cả
Quái yêu ma sinh ra tội tinh
Mẹ muốn cứu cả chúng sinh
Mong con tu đức luyện mình ra sao
Kinh con có Mẹ trao ra suốt
Kinh dâng lên đến Phật trăm tay
Ai ai cũng được kinh này
Nhắc lên từng điểm cho ai Mẹ dành
Con tỉnh ngộ tu hành luyện trí
Trị muôn năm suy nghĩ trước sau
Muôn người một mối khẩn cầu
Nắm tay đoàn kết Năm Châu vững bền
Đau lòng Mẹ mọi miền khắp cả
Lời Mẹ khuyên tất cả Năm Châu
Phật về ngự ở Nam Lầu
Thử xem bổn đạo đường nào Phật đi
Dưng kinh xin từ bi cứu độ
Mẹ gọi kêu Phật độ con ơi
Mong con niệm Phật thành lời
Tập trung bổn đạo con ơi Mẹ mừng
Các con tu Thiên Cung chiếu diệu
Bước nhẹ đi tầm hiểu cho thông
Mẹ về chỉ bảo tam đồng
Con nào tu được Mẹ bồng bế cho




PHÁP ÂM 2019_61

Trăng Thu soi con có hay đâu
Mong con tu đức cầu Mẹ đây
Khai sinh lập địa đủ đầy
Người nào bao kiếp tu đầy đức căn
Đời thương nói đậm cầu nhứt nguyện
NGỌC HOÀNG ra chiếu đồng mới chọn
Hình dáng ai Lão chọn ngại chi
Lòng con tâm đức từ bi
Dù ăn một bát niệm thì đường tâm
Con phải luyện ân cần qua khỏi
Đủ đức tài con hởi sướng vui
Đừng để Cha Mẹ ngậm ngùi
Trắng đen tất cả sướng vui được gì?
Thiên Lôi xuống dắt đi bất chợt
Con hãy nghe lời chót Mẹ ban
Việc làm bớt chút ưu phiền
Nghe lời Mẹ nói thảo hiền Mẹ Cha
Mau mau đến cung tòa Cha Mẹ
Đất Mẹ dành mau lẹ giữ phần
Khuyên con cặn kẻ ân cần
Mong con trung hiếu muôn phần vẻ vang
Mạt kiếp qua muôn dân đừng để
Thiên Cung Cha con trể bước đi
Các con sau cứ bi trì
Trần gian có biết là gì hay không?
Biết kinh tu một lòng một đạo
Mẹ mới tàng con thảo mọi nơi
Thương con căn dặn đôi lời
Dù cho đen trắng một đời nhà tu
Để rồi được phiêu du khắp cảnh
Mẹ nay mong chơn hạnh bước lên
Kêu vang NGỌC HOÀNG giải phiền
Lời Mẹ muốn cứu trần miền nhân sinh
Thương con Mẹ ban kinh bổn đạo
Phật Tăng mầu là đạo muôn năm
Mong con tỉnh ngộ lương tâm
Con đường đi tới chớ lầm hiểm nguy
Nắm trong tay kinh nhi vạn quyển
Phật trăm tay xoay chuyển Phật ơi
Mà sao con phải cực đời
Nào nghèo nào khổ để rồi ngộ đi
Quyết quy y từ bi niệm Phật
Ai niệm nhiều thì Phật chở che
Lời kêu Mẹ gọi lắng nghe
Để mà duyệt sổ chốt kê sau cùng.
Nhạn ven mây xa lìa cảnh cũ
Năm canh dài ủ rủ vì ai
Sông Ngân trước cảnh quang đài
Minh châu lạc nguyệt sen đài hảo xinh
Châu vạn họ nguyệt minh trước gió
Sức đua chen khi tỏ khi lu
Thu Đông Xuân Hạ quí như
Gương hồ không tận kể từ ra đi
Gẩm cảnh trần hồ bi Ta phán
Các đò kia lầm quảng quả đơm
Lập vườn kết quả phục bồn
Ninh nang chiếu phục ao nơm cá bàn
Sớm tìm trăng mai vàng khôi phục
Chư châu nguyên lãnh túc lòng dân
Thế tình mãn lạc trung thần
Khương Thượng còn ẩn trời phân định rồi
Hỏi thế sự tuồng đời nhiều gốc
Nhiều rụng cây bủa tóc tiêu diêu
Thế gian còn đắm tàng tiêu
Bàn môn tả đạo rềnh kêu gớm bầy
Bớ dân rõ chánh xây cất lại
Lão hết câu dân lại ơ hờ
Tam môn dựng đủ cho rờ
Ráng kêu ráng sửa đến bờ huyền thâm.


PHẨM THỨ HAI: HOÀNG MẪU CHƠN KINH
XƯỚNG:

Xứ xứ yếu niệm ĐỊA MẪU KINH
Nhơn nhơn nhược bất ĐỊA MẪU KÍNH
Tụng niệm CHƠN KINH THÁNH khả thành
HƯ KHÔNG ĐỊA MẪU trị nhơn sinh.
Nhứt tăng nhứt đạo nhứt tục nhơn
Trì niệm sẽ đắc trí thiện hườn
Dốc lòng tiếp nhận nhơn sanh chúng
Cung kính trì kinh tụng niệm chơn.
PHẬT MẪU HƯ KHÔNG cầm quyền sửa
Tạo thiên lập địa cổ bàn xưa
Giáng truyền kinh xuống trần phàm cõi
Chỉ giáo nhơn sanh ngộ tỉnh thưa.


PHÁP ÂM 2019_62

TỤNG:
Giáng điển truyền kinh trì trí sáng
Tụng niệm chơn kinh ĐỨC MẪU HOÀNG
Nam nữ tận hành phong sắc tứ
Một tòa sen vàng chín phẩm ban
Phu phụ đồng đắc kim thân rở
VÔ THƯỢNG HƯ KHÔNG ĐỊA thị vô
Danh thơm tiếng tốt muôn đời kiếp
DIÊU TRÌ KIM MẪU vạn danh tô
TỐI CAO hoằng hóa và bảo dưỡng
Trải hết lòng lành bảo mạng trường
Người đời sùng bái hiển linh hiển
HƯ KHÔNG MẪU hóa vĩnh sanh hoàn
Nam tử nhi tử hiếu tâm hiếu
Sẽ nhận con thảo lập công nêu
Tịnh hoải đại trung đại hiếu kết
Công cả tỏa tài đức lập nhiều
HƯ KHÔNG VÔ THƯỢNG chứng lòng hảo
Tốc tu tu tốc cấp tâm tảo
Thoát phàm Thánh đăng Mẫu nêu danh
Sùng tu am tự lửa hương nào
Tạ ơn báo đáp HƯ KHÔNG MẪU
Xuất Thánh Nhơn hiền lạc phong thâu
Ẩn nhẩn tu hành chờ đến hội
Chánh lời Mẫu thuyết chịu xem cầu
Chơn kinh HOÀNG MẪU THIÊN tịch ĐỊA
Biết kỉnh trì niệm từ tứ phía
Đại thọ Hoàng Ân hương khương ninh
Tịnh tâm trì mực chẳng chút lìa
Chiêu Thiên động Địa cùng vũ trụ
Tây Bắc Nam Đông phổ cập ư
Năng niệm Bửu Kinh nhứt phi kinh
Cấp tảo tạo cấp long vô sứ
Phù sanh sự nghiệp hộ tất na
Dụng phá làm sao khỏi phướn ma
Đặng thấy Long Huê hư không cảnh
Ngàn năm bất lão PHẬT DI ĐÀ
Tỏ xem trận thế Ngọc Lộ Bàn
Lập chí phá thông biển dục ngàn
Bát Trận khai mở ngàn trùng sóng
Xem thấy Bạch Vân đặng hồi tâm
Cá vì thay cốt không thành mới
Chớ biết phen này tu đặng tới
Diệu nghĩa huyền vi nói chẳng sai
Mậu phóng duy lòng tổn qua ngày
Tục chẳng đọc thơ đây trăm đúng
Vì tình Mẫu tử héo von cung
Thương vì khờ dạy cùng Mẫu tử
Mẹ xót Mẹ đau hãy vội tu
Càng ngày thúc giục từ giáng thế
Thấy đời lắm kẻ Mẹ diễn hề
Thế mà con mãi mê khờ dạy
Trương lợi tài phế tục nghiệp xây
Mà bước chậm rồi đây trước cuộc
Chậm quá rồi mà nhơn sanh bước

Cũng vì danh nổi cuộc không yên

Ôi trước cảnh tương sát chinh nghiêng

Ngày tận diệt chẳng kiên lòng phá
Để tránh gió thổi lùa cát đá
Lộn nhào lăn giờ đã biết ngày
Chờ bảy nhựt ÂN THIÊN con phải
Một chữ hành trở lại Tiên Cung
Đến lúc đó Phật Thầy hồi chủng
Được hồi nguyên xuất chúng kim niên
Giờ đã đến đứng ngồi không yên
Mong nam nữ lửa phiền tưới tắt
Liệu gìn thời lời khuyên chung tất
Tấm thân con dồi dạt nổi trôi
Hãy mau thức ân huệ liên hồi
Lần gian thế lập đời điên đảo
Kinh lo trước bình niên tu đạo
Sớm học tiên ngoan thảo Mẹ Cha
Bồi công quả khiên giải thoát qua
Đại Đạo ích xem ra đều rõ
Đạp phá thiết hài tư kinh vô
Đông Tây nghe giảng chơn duyên đối
Thanh khử trược bổ hiện tại thời
Nhứt điển thông thân khúc truyền hóa
Cửu chuyển công đình sáu cửa hồi
Đông Tây Nam Bắc linh giả tới
Chẳng chịu hồi đầu chẳng một người
Thân mình khó bảo mê hồn trận
Tác quái đão điên bị tha lôi
Làm sao tính đặng trở hồi lai
Cho đặng toà sen mất một mai
Vâng lời Mẹ dạy chạy giành lấy
Kịp đến Thiên Đường xứ cũ này.


PHẨM THỨ BA: SẤM GIẢNG PHẬT THẦY


Thoi đưa ngày lụn tháng qua
Đường đi hầm hố biết đà mở ra
Gọi thời han hỏi trẻ già
Sang ba vọng cửa sâu xa đạo đời
Tạo duyên thân giả chi ôi
Sự nồng chớ bợn ý lời liệu toan
Gió đưa lướt sóng thuyền loan
Dạy dân chẳng đặng hạ trần lắm ôi
Đã đồng mang lấy tội trời
Đọa vào hắc ám biết đời nào ra
Chịu hơn chịu nhục thân ta
Cũng vì danh lợi cách xa lòng Thầy
Buồn thay tư cảnh ngày nay
Dân sao chẳng chịu tu bài đạo yên
Màn Trời sắp lập Hội Thiên
Người phàm thế tục mau niềng bước vô
Chùa công lập lại nam mô
Mến người hiền đức mời vô chữ đề
Bước đường tu học nhiều bề
Kỳ Hương lộ vẽ chỉnh tề Nam An
Tớ Thầy bước dọc sang ngang
Dẫu khó chẳng ngại gian nan Đạo mầu
Tiếng kêu ơi hởi năm châu
Mau toan bề chánh nạn thâu khổ hình.



PHÁP ÂM 2019_63

Mượn thần xác chuyển xoay thông hiểu
Ta cùng Thầy ra cứu dân yên
Vô vi Đạo mạch ai chế nhạo
Tớ cùng Thầy trần dụng giống hiền
Cuộc thiên cơ biển chuyển ai hay
Lúc mưa đượm kịp thời bươn chải
Cũng giữ đồng cơn thất thời xoay
Cha Phật Thánh khẩn kỳ cung bái
Trăng tròn vì bởi nguyệt căn xoay
Nhớ ông Võ Đế Thánh Thần đây

Độ cho dân được Lạc Hồng lạc

Thiên Đình dĩ định diệu đồ ra

Thương đời tím ruột héo sầu đau
Phật ôi ráng chiếu điển linh mầu
Sông sâu khó nổi bắt cầu tới
Phật Thần còn phải gập ghình sầu
Năm châu còn hỡi đắn đo mãi
Thiên tri dĩ định bước chờ ngày
Thế nào bỏ xác mà đâu biết
Đêm nằm suy nghĩ thân hội này
Xuồng ai nấy kéo xuôi cho chảy
Nước ngược chảy xuôi sóng theo ngay
Phật ơi ráng ngự kỳ gian cấp
Thây thi trôi nổi lạc đàn bầy
Ngày mai không biết chuyện chi đến
Để tâm niệm tưởng THIÊN HOÀNG lịnh
Khuyên cùng khắp hết cả gần xa
Nam mô sáu chữ Phật ơn đền.
Sông sâu ai biết mà dò
Càn khôn thế giới hết bò hết trâu
Rắn rồng lộn xộn biết đâu
Chuột nằm chờ đó lo âu phận mình
Ở tròn Nhơn Đạo hồn linh
Hoàn căn trình đạo thì linh đặng về
Ai còn ai mất loạn bề
Thanh phong nhựt nguyệt ai về thuyền nương.
Chó kia giử chủ đợi trăng tròn
Mèo còn chờ đợi hiệp lầu son
Rồng bay về gặp đều rõ mặt
Hành thiện tu thân hiệp nhứt môn
Tu hành tâm trí mãi trong sáng
Cần lao nhẫn nại phải mang gánh
Diệt trừ hỉ nộ phế tham sân
Bước tới tòa sen lắm hồng trần
Từ đây bước đến đường vô thượng
Trời mơ tám ngõ thuyết khương ngưỡng
Đợi lúc phục hồi quy nhứt thống
Ta mới hồi ba bát luận đường
Đạo cả nhờ kinh giảng nghĩa rành
Tiên phong đạo cốt rõ nội nhành
Xuân Thu tiến bước đường dặm thẳng
Tim thay đạo phục lọt bức mành
Phật Đạo sơn di dọng bon bon
Giáo truyền bá rổi bát chánh thoàn
Kỳ ba an lạc ban rải khắp
Ba kỳ quy độ điểm nguyệt tròn
Biết ai Thiên Tử biết ai thần
Vi trời ngũ quỷ khó thấy lân
Đờn cầm khoan nhặt cuồng ca ngộ
Nền cũ lâu đài giữa cảnh trần
Con đường Bát Chánh chị Hằng nói
Làm sao ngộ đặng khúc khiu nỗi
Dụng pháp nào làm kịp kết nối
Nên trụ mà không được sáng soi
Dầu có chông gai ráng hội này
Mong trò thu xếp lánh trần ai
Đuốc ngọc canh khuya trời một góc
Hoàn cầu địa cảnh khó tỏ bày
Ráng tu coi hội tuyển Long Hoa
Lánh đường thú dữ hiệp một nhà
Di Đà lục tự mau khá nhận
Trở lại ngay đường diện ma ha.



PHÁP ÂM 2019_64

Đạo mầu khó kiếm
Chớ chậm bước chân
Cho thế làm nhơn
Tranh chi tôm cá
Thây thi rơi rả
Thảm khổ vô cùng
Tu niệm bỏ hung
Người mê khá tỉnh
Xét suy bàn tính
Lo tu kẻo muộn
Khó mong kiếp muôn
Hội này chậm trể
Ma quỷ vộ bẻ
Mai đâu thình lình
Thấy thế hải kinh
Nghe đây phân cạn
Các việc dã man
Phải nên dứt bỏ
Tới đời thậm khổ
Cải sửa xác thân
Lo tu hỡi dân
Ngày hai cơm tẻ
Tu niệm lo bề
Quỷ ma bẻ cổ.
Năm canh gió thổi Ngựa chạy dài
Bấy lâu vóc ẩn ở Đông Tây
Cọp rồng hai ngã gom về một
Khung thương bốn hạng kỳ tế thay
Hư vô huyền diệu một chỗ này
Cực Lạc hồi chưa trời đất xoay
VÔ NGUYÊN TỔ PHẬT hồi chưa đến
Ngoài luyện minh châu tạo đức tài
Lập đời Thượng Cổ lương thuần hậu
Không hung không dữ ngàn năm sau
Thái Ất Hồng Quang đạo minh sáng
Sanh hiệu Lão Tử thiền đạo mầu
Có Đức Bồ Đề Đạt Ma Tổ
Trung Nguyên truyền đạo hiệp sanh vô
Huyệt là tổ khiếu cầm chìa khóa
Mười sáu cửa miệng mở hải hồ
Chuông đại đồng đã giục canh ba
Khuyên đừng phụ Phổ Đà Tiên Phật
Đừng mê đời cuốn lôi vật chất
Nay Cổ Già tất bật xa nhà
Thấy người khờ Lão Na chí dựng
Chốn Tây Phương thung dung đặng hướng
Cùng Minh Vương muôn năm chung hưởng
Chọn con lành đắc quả về cung
Bởi chúng sanh trong chúng cõi xây
Vòng vật chất mà nay vương lưới
Khổ tạo nghiệp khởi não phiền
Bởi vô minh ấy nghiệp duyên sanh từ
Cảnh hư không định lại thân thanh
Cho sóng lặng chơn thanh đến thẳng
Vẹn hút mây tan gió điều hòa
Mưa pháp nở cỏ hoa tươi nhánh
Một đường đi tới nhứt tâm thanh
Dù gặp khó khăn sự nhẫn lành
Kiên cố tinh thần cho vững chắc
Không cảnh khó khăn bởi không tranh
Hy sinh mà lẽ phải việc sạch chánh
Đánh thắng ác trược diệt sạch lòng
Giữ đặng ba điều quy tam Phật
Không rõ cội nguồn khổ ôi không
Dìu dắt quần sanh lòng hằng tịnh
Ngộ được chánh pháp thấu rõ thanh
Vọng tưởng tham dục đều không chỗ
Liên hoàn sáng suốt rõ Hoàng Minh
Khuyên rằng nên đồ từ lời nói
Sáng suốt rõ chơn gìn giữ giới
Kiên nhẫn hy sinh diệt khổ bi
An vui thanh tịnh chẳng xấu lời
Mới gội trọn lành tấm gương ấy
Lỗi ta ta xét không phạm phải
Thể vóc này là vốn của ta
Tự chủ tự trị không lạc hoài
Tin rằng có pháp ta giải thoát
An lạc lý chơn mau triển phát
Rõ nẽo hư không đã tìm ra
Chạm vào nẽo chánh thì trí bát
Thế sự vạn bang đô thị giả
Phàm mỗi vật chi tứ khổ ta
Sanh lão bệnh khổ thân là khổ
Kể sao cho biết cái khổ là


PHÁP ÂM 2019_65

Xấu xa ô trược ôi khổ khổ
Giấc mộng ảo huyền mơ mộng lo
Lầm than tàn khốc tàn cay đắng
Khổ này do đâu luận thế dò
Ngã phát sinh ra chiến trường ma
Thế gian giả tạm có chi cầu
Đoạn trường thảm họa do ai vậy?
Xương chất bằng non khổ do đâu
Phải rán tận diệt nguồn cội khổ
Giải thoát lưới trần niệm nam mô
Qua bao trùng khổ giờ đã thoát
Bồ đề thấu rõ lục tự vô
Thế gian hư hủy có chi sướng
Tan hợp hợp tan lắm đoạn trường
Ai sanh tâm ác nghiệp sẽ đến
Dân chúng điêu linh bể hoạn đường
Lặn hụp giữa dòng đều điên đão
Thảm họa dẫy đầy dữ dội bao
Người phải tiêu cho rõ biết nỗi
Vô minh vây mình thoát chỗ nào
Đây mình phải trồng hoa ý tưởng
Mê sa theo các thứ mến thương
Mình vui sướng rồi tàn tan rã
Sự đổi dời thảm khổ đau tường
Nước giữa dòng gió thổi rã tan
Thả linh binh do tạo huê càn
Này tựa giọt sương mù ngọn cỏ
Hởi ai ơi tường tận bể đàng
Đổi dời khổ não đau thương
Than van rên xiết tan thương bể trần
Tuồng đời như giấc mộng lân
Địa cầu vũ trụ xoay lần bất an
Nghịch trần khó thấy an nhàn
Soi gương nguyệt cảnh dẹp tan chơn lòng
Vui mừng đẹp ý vào trong
Trụ tịnh thanh tịnh tịnh không thiên trừ
Lời Thầy chỉ dạy bốn từ
Bát Chánh Đạo Quả viên như Lai Bồng
Miêu suy luận được điều vô ngã
Không còn mê vọng tưởng lòng ta
Tự mình xử lý mà tự hối
Sáu câu lục tự giữ thân đà
CAO MINH trở lại miền Phương Nam
Vì thương sanh chúng trăm họ bởi
Thánh Phật Tiên Thần hạ giới
Vô vi giáng hạ mấy lời tỏ phân
Quanh rộng chầu chu tân phụng gáy
Ngựa lơn tơn trở lại dập đuôi
Rắn tràn lai láng khó lui
Dê hàng chạy khúc bùi ngùi thương dân
NGỌC HOÀNG giáng Nam Lân hình bộ
Thanh nhiệm mầu xưa cổ hội đồng
HOÀNG THIÊN xem thấy lẽ không
Tri tâm huyền bí đạo đồng bốn phương
Mau chơn lẹ kịp trường thi hội
Thánh một nhà mau vội hồi quy
Hiệp chung Phật Thánh chương vi
Trở về cảnh cũ định kỳ chầu Vương
NGỌC MINH HOÀNG đảnh thương xay ra
Ai đạo đức Long Hoa bước tới
Nay đến kỳ NGỌC trị đời
Phải lọc tà chánh hai nơi phân đường
Kể từ nay lở khóc lở cười
Rán tu hành trở lại dân ôi
Kẻo CHA LÀNH phán tội khó mong
Cả tiếng kêu sanh chúng trần hồng
Nay nguy cấp Đại Đồng khá giữ
Ngũ hành rải trái lành ít dữ
Thế bước sang lửa hữu quan biên
Tàn lửa dậy dân ơi trầm biển
Cả sinh linh đội biến mọi nơi
Lộn càn khôn phải chịu tả tơi
Cứ dửng dưng đứng ngồi một chỗ
Kể từ đây lửa trời túc bổ
Lấp bụi trần xác xơ chịu cảnh
Bao mạng người thây rã nạn hằng

PHÁP ÂM 2019_66

Trên mặt đất chẳng lành phân xử
CÕI TỐI CAO càn khôn vũ trụ
Lịnh HOÀNG THIÊN khai khứ mà hành
Không để muộn có lịnh Cao Xanh
Chiến vô thần diện chánh xuống trần
Lấy xác chuyển đạo hạnh Nghiêu Thuấn
Nhơn nhơn khấu Cửu Di Hoàng khứ
Lạp túc kỳ nhơn hạn vô tư
Chi chí đoạn hồng thi tốc chuyển
Luật hóa phùng lục tứ tự nhơn
Hoàng thổ thiểm giai tất yên minh
Tại thử hành năng lý tư hình
Hoán lộ lâm nguyệt khúc tứ giả
Khướt khướt Nam điều nhựt quới linh
Như bất như nhĩ môn chư quí
Bi thử hạ đồ bất ngộ kỳ
Khướt đề vận lực tam lục kiết
Tác ngộ tác thần thời nhứt tri
Cơ khuyết Đông Tây hóa vụ không
Sự nhữ tự chỉ lỗ xuất thâm
Mạt tấn lai sát ngộ sơn đảnh
Viên sự viên xong đối vi tông
Trục đáo chung vai ngã vô lôi
Quân tư trường vị nhứt xuất hồi
Ngọc tố phùng tái tân hy ý
Cố khác khương trang tính thay thời
Hào sự hào tồn như túc tư
Sanh bất phùng bất khả thán lư
Đáo ký phàm sự phương như quý
Tiết tiết tam phùng kim niên như
Nhập nhập đại hý nhu bất đão
Đồ lao sanh vô sự vô mao
Thăng nhựt lậu hòa vô định
Phụ nhơn nhơn phụ khói quang tào
Dĩ dĩ phục dĩ cơ phục dĩ
Thính lai lai thính tự gian khi
Nhứt triêu triêu nhứt bàn Hợi tế
Sửu Cấn âm dương bất tương kỳ
Hoàng lực vi đáo khước tại lâm
Thúc lưỡng như tai thống thị phần
Hiển hiển tương hảo đa kinh biến
Khứ phục hồi an tái cao trào
Ngọc bộ đăng vạn tiêu phong đạo
Thỉ lục chơn tiên tá biển hào
Bất dung sự hữu sanh họa bất
Động không không động phục an trào.

PHẨM THỨ TƯ: HUYỀN MINH SÁM

XƯỚNG:
Đức MINH HUYỀN ban kinh sám nguyện
Kỳ ba hạ thế lành bố điển
Cầu Phật Tiên Bồ Tát oai linh
Ban hồng ân cứu đạo trần hiên.

TỤNG:

Cuối đầu con đảnh lễ HOÀNG THIÊN
Nay con sám hối HUYỀN MINH ĐỨC
Nguyện ĐẤNG TỪ BI OAI LỰC
Điển huyền linh bủa tịnh thức con khờ
Dạy cho con giác ngộ tâm linh
Nhưng con lại vô tình quá đổi
Phải mang số phận luân hồi
Tạo tội chẳng chịu về ngôi hầu kề
Xin THƯỢNG PHỤ dắt về Nhơn Đạo
Bày ra kinh con thảo đề thơ
Quên đài vàng cảnh CHA chờ
Không sao nhớ nỗi phút giờ thiêng linh
Long Hoa Hội HUYỀN MINH CHA cứu
Dạy cho con hiếu tử đạo đồng
Bây giờ thức tỉnh tưởng mong
Long Hoa con được vào trong khoa tràng
Thiện với ác trần gian tội lỗi
Không chịu nhìn sám hối Đạo Nhơn
Sống đó chết đó chẳng còn
Cuối xin THƯỢNG PHỤ dắt con trở về
Đầu cuối lạy BỒ ĐỀ ĐỨC PHẬT
Xá tôi con Phật dắt chánh minh
Dạy con Phật tánh thông tình
Hiền lương đức độ con gìn dạ chơn
Con đảnh lễ Mười Phương Chư Phật
Lễ ƠN TRÊN CHA bực cao minh
Tu cầu thế giới hòa bình
Nay con sám hối tội tình gieo mang
Con còn vướng dương gian buồn bã
Mong CHA hiền bi hạ thế gian
Độ cho sanh chúng tu vàng
Cúi xin THƯỢNG PHỤ đỡ đàng chuyển xoay.
Nay con nguyện Tổ Thầy thông lục
Pháp lành ban nhơn tục hành tu
Nay con lánh dữ quyết trừ
Sân si tham vọng diệt trừ lập thân
Xin Bồ Tát độ hằng trở lại
Độ lòng con tu tại thuyền ban
Nay con lánh dữ quyết trừ
Lạy cầu Bồ Tát sửa sang kiếp này
Nam Mô Phật từ bi cứu khổ
Nam Mô Pháp ban rải ngó cho
Nam Mô Tăng phân rõ đạo ba.
Quan Âm Bồ Tát Phật Đà Nam Mô



PHÁP ÂM 2019_67

Nay con trẻ nguyện cầu Bồ Tát
Đức Mẹ Hiền cầm lạc chuyển xoay
Thế gian đau khổ từng ngày
Nạn tai tai ách Hợi này đợi kia
Nay con trẻ sớm chiều phát thệ
Tiếng kinh cầu đảnh lễ Quan Âm
Hóa hào quang dạo bi tầm
Mẹ nghe Mẹ chứng lời tâm con hiền
Con cung kỉnh Mẹ hiền đức độ
Đã bao ngươn cứu khổ chúng sanh
Nghe tiếng đau khổ con lành
Mẹ liền quán tưởng trần sanh cứu mà
Lòng từ bi Phật Bà cứu độ
Núi non nào sánh phổ Mẹ hiền
Nhơn sinh muôn vạn kỉnh nguyền
Mẹ đều giải cứu đưa thuyền thoát cơn
Nay con trẻ biết ơn tưởng Mẹ
Ở trần miền mau lẹ bước vào
Quan Âm Nam Hải tầm nao
Bạch y thần chú hiển lao giải nàn
Danh hiệu Mẹ trần gian bốn bể
Ai khổ sầu Mẹ bế Mẹ bồng
Con lạy Bồ Tát hiển thông
Nguyện cầu danh Mẹ độ trong nhơn loài
Lòng bi Mẫu ai ai cũng tưởng
Có bao giờ con tưởng Mẹ đây
Bão dông sóng gió vòng xoay
Gọi kêu danh Mẹ cứu tai con hiền
Quan Âm Mẹ chơn truyền đạo pháp
Hiển độ đời kệ pháp minh tâm
Trọn đời vĩnh cửu học tầm
Mẹ ơi cứu trẻ hát thầm ru con
Mẹ ơi hởi cung son trở lại
Trong vòng tay bi đại Phật y
Quán Âm khai trí từ bi
Mong Mẹ ban rãi đạo thi vào trường
Đau khổ lắm đoạn trường nhơn thế
Kiếp phong trần bùn uế đắng cay
Có gì đâu để tiếc thay
Trở về cát bụi bi ai linh hồn
Nay con trẻ dại khôn trần thế
Nguyện cầu xin kinh kệ đại bi
Năm châu bốn bể quy kỳ
Quan Âm Bồ Tát từ bi cứu đời
Đời đau khổ Mẹ ơi lắm lắm
Bởi chúng sanh sa lậm ác mê
Con thì bất hiếu ê chề
Không biết Trời Phật muôn bề đất xưng
Tạo nghiệp lực mấy khi nhơn cách
Bỏ ngoài tâm lành sạch Phật môn
Cho con tìm ánh càn khôn
Ăn năn sám hối tìm đôn tu hành
Quan Âm Mẹ thiện lành soi sáng
Cho con hiền tiếp quản ánh y
Cam lồ Mẹ rưới giải kỳ
Làm lành lánh dử mà đi đúng đường
Con sám hối Phật đường tiếp độ
Thoát nạn trường Phụ Tổ Bồ Đề
Di là Linh Thứu tứ bề
Con hiền vượt khổ lối về Tây Phương
Cầu Quan Âm tình thương tiếp rướt
Cho nhơn sanh duyên phước được lên
Đò thoàn đạo đức tuổi tên
Quan Âm Bát Nhã tỏa đền tiếp đương
Tu mau tu sớm trưa giục hối
Cả một đời dụng lối từ bi
Diệt mau tham giận sân si
Rải tâm vi đạo ánh y u hiền
Mẹ Quan Âm hữu duyên cứu nạn
Đức từ bi che nắng Bồ Đề
Nam Mô Bồ Tát giải mê
Cứu nhơn độ thế trẻ về ngôi xưa.

XƯỚNG:

Lời cầu nguyện con vừa đảnh lễ
Con quỳ xin NGỌC ĐẾ MINH THIÊN
Con quỳ lạy Mẹ Diêu hiền
Đưa đò cứu khổ trần miền năm châu.