Hiển thị các bài đăng có nhãn Hư Không Tạng Bồ Tát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hư Không Tạng Bồ Tát. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

Hư Không Tạng Bồ Tát hiện thân cứu độ










PHÙ TRỢ NGƯỜI LÂM CHUNG
Đại sư Dagpo Rinpoche
Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch
Nhà xuất bản Thời Đại




Kinh Đại thừa nói về các diệu trí vô thượng lúc cận tử

Mặc dù tất cả giáo pháp của Đức Phật đều có chung một mục đích, nhưng các giáo pháp này lại vô cùng khác biệt trên phương diện đề tài cũng như sự tu trì. Mỗi quyển kinh sẽ nhấn mạnh một điểm nào, trên một chiều hướng nào đó. Vì đức Phật rất quan tâm việc làm sao giúp các đệ tử Thanh văn đương thời của Ngài một cách hữu hiệu nhất, bằng cách ban cho họ những tư liệu mà họ có thể dùng được và không nhận chìm họ với những dữ kiện dư thừa. Ngài không hề tìm cách giảng về một đề tài từ đầu đến tận cùng rốt ráo để rồi không bao giờ trở lại nữa. Ngài thường phân bố các điều giải thích dần dần trong các bài Pháp, và không ngại nhắc lại nhiều lần các ý niệm quan trọng, nếu cần thì thêm một sắc thái, một sự soi sáng hay mở bày mới hơn.

Theo cách đó, trong quyển "Kinh Đại thừa nói về các diệu trí vô thượng lúc cận tử", một lần nữa đức Phật tuyên thuyết về các trạng thái tâm thức mà chúng ta nên phát khởi lúc gần nhắm mắt lìa đời. Lần này có năm tâm thức.

Có một số trong năm tâm thức này đã được đề cập trong bản kinh trước, nhưng lại được phát biểu một cách hơi khác đi, như quý vị sẽ thấy.

Theo thông lệ, trước tiên tôi sẽ truyền dạy kinh này bằng cách đọc lên [toàn văn kinh] một lần:

"Quy mạng nhất thiết chư Phật và chư Bồ Tát.

Tôi nghe như vầy, một thời Bạc Già Phạm tại Sắc Cứu Cánh thiên cung, thuyết Pháp cho đại chúng. Lúc ấy Hư Không Tạng Bồ Tát, vị đại anh hùng, lễ Bạc Già Phạm và hỏi rằng:

– Bạc Già Phạm, Bồ Tát phải quán như thế nào vào lúc cận tử?

Bạc Già Phạm dạy:

– Hư Không Tạng Bồ Tát, lúc cận tử, Bồ Tát phải quán các diệu trí lúc cận tử. Thế nào là các diệu trí lúc cận tử?

1) Vì tất cả các pháp bản thể đều thanh tịnh, nên quán tưởng viên mãn nhất là quán về tánh Không của tất cả các pháp.

2) Vì tất cả các pháp đều có trong tâm Bồ-đề, nên quán tưởng viên mãn nhất là quán tâm đại bi.

3) Vì tất cả các pháp bản thể là quang minh, nên quán tưởng viên mãn nhất là quán vô nhất vật trong các pháp.

4) Vì tất cả các pháp đều vô thường, nên quán tưởng viên mãn nhất là quán tâm vô chấp.

5) Vì tâm là nhân của trí huệ bát-nhã, đừng tìm tánh Phật ở đâu khác.

Bạc Già Phạm lặp lại bằng kệ rằng:

Các Pháp vốn thanh tịnh,
Hãy quán về tánh Không.
Đầy đủ Bồ-đề tâm,
Hãy quán tâm đại bi.

Các pháp vốn quang minh,
Quán pháp vô nhất vật.
Các Pháp vốn vô thường,
Hãy quán tâm vô chấp.

Tâm sinh diệu trí huệ,
Phật tánh tìm đâu xa?

Bạc Già Phạm thuyết Pháp như thế rồi, Bồ Tát Hư Không Tạng và đại chúng vô cùng hoan hỉ tán thán.

Phật thuyết Kinh Đại thừa nói về các diệu trí vô thượng lúc cận tử."

Kinh Đại thừa này đã được tuyên thuyết trong điều kiện nào? Đó là một ngày đức Phật có các vị đệ tử vây quanh, nhất là các vị Bồ Tát. Một trong các vị Bồ Tát này tên là Hư Không Tạng (Tạng ngữ: Namkhai Nying Po) đảnh lễ đức Phật và hỏi: Lúc cận tử, các vị Bồ Tát nên quán như thế nào?

Trong lời giải đáp, đức Phật dùng chữ "diệu trí vô thượng" để nói về năm trạng thái tâm thức mà Ngài đặc biệt sách tấn. Chúng ta đã thấy rằng mình không bắt buộc phải áp dụng cả năm. Ngược lại, mục đích là để có sự lựa chọn và áp dụng vào từng trường hợp riêng, tùy theo điều mà người lâm chung có thể hay không thể tư duy: tánh Không, hoặc tâm đại bi v.v...


1. Quán tánh Không

Lời dạy rất ngắn gọn này thật ra nói lên sự không có thực của vạn vật, tức là tánh Không của chúng. Lúc lâm chung, khởi lên trong tâm trí tuệ về tánh Không của các pháp là một điều vô cùng lợi ích. Để giảng rộng lời kinh, "các pháp" nghĩa là các hiện tượng, "bản thể vốn hoàn toàn thanh tịnh" nghĩa là bản thể của chúng hoàn toàn không có tự tánh hay thực thể. Vì thế, chúng ta phải quán xét, phải phát triển hiểu biết về sự vắng mặt của tự tánh [tự tồn] trong tất cả hiện tượng như nói trên.

Tôi nghĩ rằng quý vị nghe câu này có vẻ quen thuộc, vì chúng ta đã gặp lại niệm tưởng thứ mười trong mười một niệm tưởng đã được nêu rõ trong quyển kinh đề cập trước đây.

Không cần phải nói, lời khuyến dụ này không phải dành cho bất cứ ai cũng được. Người nghe phải từng được học tập trước đó, phải có một hiểu biết căn bản. Nhưng nếu đã có được sự hiểu biết cần thiết, việc có thể quán xét về tánh Không trong giờ phút ấy sẽ mang đến một sự lợi ích lớn lao, bởi rất nhiều lý do. Chúng ta đã đề cập qua, nhưng nhắc lại về khái niệm này cũng không phải là một sự dư thừa.

Trong Phật giáo, "phàm phu" là người còn ở trong cõi Ta-bà, còn luân hồi trong các cảnh giới hữu vi quyết định bởi nghiệp và phiền não. Cho rằng đó là trường hợp của chúng ta, thì nguyên nhân là từ vô thủy chúng ta đã bị đánh lừa bởi nhận thức sai lầm về cái gì là có. Thế nhưng, nếu phân tích một cách đúng đắn thì chúng ta có thể nhận ra rằng sự vật được nhận thức – bất cứ một hiện tượng nào – có thật đấy, nhưng chắc chắn không phải dưới dạng thức mà nó trình hiện. Đúng vậy, cái hình tướng trình hiện trong tâm trí chúng ta là một sự kiện được nhận thấy một cách biệt lập với sự vật khác. Chúng ta có cảm tưởng là nó xuất hiện bằng chính khả năng của nó, không tùy thuộc vào bất cứ sự kiện nào khác, vào một nhân hay một duyên nào, trong khi sự thật lại khác hẳn.

Các hiện tượng có là một điều đương nhiên, nhưng chúng luôn luôn đến từ một nhóm nhân tố, nói giản dị là từ một nhóm nhân duyên. Thế mà tâm trí ta lại thấy ngược hẳn, và trong khi cảm nhận của chúng ta hoàn toàn sai lầm, ta lại tin đó là chân thật đến nỗi ta chấp vào sự vật dưới cái hình tướng chung ấy. Chúng ta tin rằng sự vật tự có, và có một cách độc lập, ta gán cho chúng một tính cách tuyệt đối. Chính cái thấy sai lầm đó của chúng ta đối với tất cả các sự hữu đã tạo nên cái vô minh gọi là căn bản, vì vô minh này đã trói chặt chúng ta vào cõi Ta-bà từ vô thủy cho đến nay.

Cho nên, hiểu theo hướng ngược lại, thấy được sự thật, nhận thức được sự vắng mặt của tự tánh là rất có ích cho chúng ta. Nhất là nếu quán xét được như thế ngay trước khi chết thì thật là kịp lúc.

Tốt hơn hết là hãy lấy một thí dụ có ý nghĩa vì gần với ta nhất, đó là cái "tôi", cái "ta", và cách thức mà chúng ta tự nhận thức về mình. Suốt ngày chúng ta dùng đến chữ "tôi", chữ "ta": "Tôi làm cái này, tôi làm cái kia", "tôi đi đến chỗ đó" v.v... Khi chúng ta đang nghĩ như thế, "ta đến, ta đi" v.v… và khả năng thực hiện điều đó tùy thuộc vào cái cấu tạo cá nhân chúng ta, nghĩa là vào thân và tâm ta. Ấy vậy mà chúng ta không thấy khía cạnh đó, và ta không hề nghĩ rằng mọi sự vốn diễn tiến như thế.

Thật ra, thỉnh thoảng chúng ta nên dành một ít thì giờ để quan sát cách ta nhận thức về chính mình khi nghĩ đến những gì ta làm, điều này khá quan trọng. Khi chúng ta đang nghĩ đến chương trình "ta sẽ đi đến đó", thì ta hình dung cái "ta" đó như thế nào? Phải chăng là chúng ta hình dung nó như một cái "tôi" hoàn toàn độc lập, tự hữu, không tùy thuộc vào bất cứ gì khác, ngay cả thân và tâm của nó? Phải chăng đó là hình ảnh được thành lập trong trí của chúng ta?

Hình ảnh một cái "tôi" độc lập đối với tất cả, và nhất là đối với thân và tâm, là cái mà ta gọi là "chấp ngã", biểu trưng của sự vô minh. Rõ ràng chúng ta hiện hữu như một cá nhân, nhưng để hiện hữu, chúng ta phải có một thân và một tâm đã chứ! Không biết chúng ta sẽ làm cách nào để hiện hữu như một cái "tôi" nếu hoàn toàn không kể đến thân tâm và không tùy thuộc vào chúng?

Ấy vậy mà chúng ta nào có nhận thức sự vật như thế đâu! Thật thế, khi chúng ta nghĩ "tôi sẽ đi đến chỗ đó", ta nhận thức về cái "tôi" ấy rất giản dị, nếu không nói là đơn giản hoá quá mức! Chúng ta hài lòng với ý nghĩ "tôi" trong tâm, không hề đặt nghi vấn, cho đến nỗi không một chút nghi ngờ rằng cái "tôi" ấy không hề độc lập như mình tưởng!

Để lấy một thí dụ rõ rệt hơn, hãy tưởng tượng là có người công kích hay lăng nhục chúng ta. Thường thì chúng ta phản ứng như thế nào? Hãy thú nhận rằng chúng ta rất phật ý và cảm thấy có chút gì tức giận. Vì chúng ta phẫn nộ, có thể chúng ta nảy sinh ý nghĩ: "Nó dám nói thế với ta! Với chính ta!" Và cái "ta" ấy có vẻ tự áp đặt lên chúng ta. Nó hiển hiện như một thực tại, tự hữu, một hiện thể tuồng như độc lập. Chắc chắn không phải trong những lúc như thế mà chúng ta có thể tự nhận ra rằng cái tự xưng là "ta" tuyệt đối ấy hoàn toàn không hề tuyệt đối. Phải, chúng ta hiện hữu như một cái "ta", như một "cá thể", nhưng là tùy thuộc vào thân và tâm của mình. Không có thân và tâm, chúng ta là cái gì?

Xét trường hợp ngược lại. Lần này chẳng những người đối diện không công kích ta mà còn đưa ta lên mây: "Tôi phục ông (hay bà) quá! Ông thật là tài trí vẹn toàn! Ngoài sự hiểu biết uyên thâm, ông còn tỏ ra thật là tốt đối với người khác! Đã vậy mà còn sang trọng quá!"






Trước những lời tâng bốc như thế, có người vẫn có thể giữ tâm bất động và biết rõ mình thật sự như thế nào, nhưng phần đông sẽ cảm thấy khoái chí, êm tai. Thay vì nhận thấy đó chỉ là những lời nói làm đẹp lòng, thường thì họ lại dễ dàng nảy sinh ý nghĩ: "Nghĩ cho cùng, ông ta nói đúng! Ta đây cũng khá lắm chứ!" Đồng thời, ý niệm chúng ta có về chính mình như là một cá nhân có thật, rõ ràng hiện hữu bằng chính khả năng của mình. Hắn có đó, hoàn toàn có đó. Chúng ta thấy như vậy và không đi tìm xa hơn.

Một thí dụ khác rất thông thường. Cho là chúng ta có một ngôi nhà. Nhưng mái nhà bị thủng và chúng ta phát hiện có nước dột. Là một tay thợ gan dạ, chúng ta quyết định tự sửa lấy. Vì chỗ dột nằm ngay bên cạnh máng nước, chúng ta bèn mạo hiểm trèo lên gần mé. Thình lình chân ta trượt trên mái nhà, chúng ta hoảng hồn, sợ điếng người. Thật ra chúng ta chưa ngã, chỉ bị trượt chân thôi, nhưng lập tức chúng ta hãi hùng nghĩ rằng "Tôi ngã!" Và dĩ nhiên, cái "tôi" đó rất thật có đối với chúng ta. Chúng ta thấy đó là một cái gì hoàn toàn tự nó hiện hữu, chứ không hề nghĩ rằng cái "tôi" ấy, nghĩa là cá nhân của chính ta đây, là một hiện tượng hoàn toàn tương đối và giả danh. Trong giai đoạn hiện thời, chúng ta không có khả năng nghĩ như thế!

Khi ở bờ mé của mái nhà hay của một hố thẳm chúng ta hoảng hốt kêu lên "tôi ngã", hay trước mặt mọi người, sung sướng với những lời tâng bốc quá khích chúng ta tự bảo "nghĩ cho cùng, ta cũng khá lắm chứ!", cái khái niệm "tôi" hình thành trong trí chúng ta [theo cách đó] có phải là một sự "chấp thật có" không? Không, chưa hề. Bề ngoài nó có vẻ như thật một cách tuyệt đối, nhưng chúng ta chưa nảy sinh tâm chấp trước vốn đi đôi với sự thật sai lầm ấy. Tuy nhiên, một nhận thức về một sự việc mà tướng trạng chung có vẻ như hiện hữu độc lập theo lý thuyết lại thường kéo theo một tâm chấp trước đối với tướng trạng chung ấy. Thế là chúng ta tin rằng cá nhân thật sự hiện hữu dưới bề ngoài ta nhìn thấy được, hay nói cách khác, đúng như tướng trạng chung mà họ trình hiện. Vậy thì, sự chấp thật tức là sự tin tưởng rằng đối tượng được nhận thức – ở đây là cái cá nhân dưới dạng cái "tôi" – tự nó hiện hữu, không tùy thuộc vào bất cứ gì khác.

Để miêu tả từ đầu đến cuối tiến trình này, trong trường hợp một kẻ phàm phu, thì người này hình dung bất cứ đối tượng nhận thức nào của mình, và đặc biệt là cái "tôi", hoàn toàn biệt lập với tất cả mọi nhân duyên. Trên căn bản của những sắc tướng bên ngoài như thế, họ bèn "chấp" mọi vật dưới dạng ấy: Họ tin chắc rằng mọi sự vật, và đặc biệt là chính con người của họ, hiện hữu thật sự dưới hình tướng mà họ nhận thấy. Đó là cái mà Phật giáo gọi là "chấp ngã", hay nói cách khác là "chấp thật".

Sự chấp ngã ban cho đối tượng bị chấp (cái sở chấp) một quyền lực rất lớn, chấp ngã càng nặng bao nhiêu thì quyền lực càng lớn bấy nhiêu: cái cá nhân có vẻ như thật có (với nghĩa là biệt lập với mọi nhân duyên) được thành lập như một cái gì tuyệt đối và có một tầm quan trọng tối cao đối với người chấp ngã (năng chấp). Khái niệm về "tôi" càng chắc chắn bao nhiêu thì khái niệm về "người khác" cũng đồng thời chắc chắn và rõ rệt bấy nhiêu. Sự ngăn cách giữa "tôi" và "người khác" trở nên rất rõ ràng và triệt để, và không hề có một mối tương quan hay một nhịp cầu nào giữa hai bên. Kết quả là, một cách rất tự nhiên và không thể tránh được, ta cảm thấy đắm luyến mãnh liệt đối với cái "tôi" mà ta cho là tối thượng, cùng với tất cả những gì mà ta nghĩ là đứng về phe ta. Và cũng không tránh được, điều đó làm khởi sinh ác cảm với "kẻ kia" và những gì dính dấp tới hắn. Từ đó – sự đắm luyến đối với chính mình cùng những gì thuộc về mình, và ác cảm đối với kẻ khác lẫn những gì thuộc về họ – nảy sinh tất cả mọi phiền não của tâm thức. Và mỗi lần các phiền não khởi sinh, dầu là vì đắm trước hay vì ác cảm, chúng sẽ tác động lên ba bình diện (thân, khẩu và ý) và kéo theo sự tích lũy trong tâm những chủng tử tương đương. Sau đó, các chủng tử ấy sẽ biến thành nghiệp báo đưa chúng ta đi vào những kiếp tái sinh mới trong cõi Ta-bà.

Đó là cách phàm phu cứ thế mà xoay vần trong thế giới Ta-bà, do phiền não và nghiệp thức đưa đẩy đi từ cõi hữu vi này đến cõi tạo tác khác. Khi ta tự bảo là nên, hay nói cách khác là phải, cấp bách thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn ấy, cái vòng luân hồi vô tận đưa ta đến những kiếp tái sinh đồng loại ấy, thì chỉ có một cách duy nhất là chấm dứt ngay những yếu tố nuôi dưỡng nó. Phải trừ diệt vô minh, và chính xác hơn là cái vô minh ngã chấp. Đó là lý do vì sao trong bản kinh này đức Phật đã nhấn mạnh ngay từ đầu là người hấp hối mà tư duy được, tức là hiểu được "vạn pháp đều không", với nghĩa là chúng không "có" một cách biệt lập và có thật tánh – thì thật là tốt cho người ấy.

Một người phàm phu chắc chắn có chấp ngã, nhưng điều đó không có nghĩa là sự chấp ngã lúc nào cũng hiện diện trong tâm thức họ. Điều đó không phải lúc nào cũng rõ ràng minh bạch. Chỉ trong những trường hợp như vừa đề cập trên thì nó mới xuất hiện một cách rất rõ nét. Vậy thì chính những kinh nghiệm hơi tế nhị, tốt hay xấu, khởi động niệm tưởng về ngã khiến cho sự chấp ngã công khai phát xuất. Nếu không, dĩ nhiên là sự chấp ngã hiện hữu nơi mỗi người, nhưng rất thường xuyên một cách tiềm tàng.

Tại sao tư duy về tánh Không, về sự vắng mặt của tự tánh vào lúc cận tử lại là điều đáng làm và phải lúc?

Vì là phàm phu, nên từ vô thủy chúng ta đã quen chấp ngã, tức là cái vọng tưởng chấp lấy mọi sự vật và ngay cả chính mình, như những thực thể tuyệt đối. Lúc giờ chết gần kề, sự chấp ngã trở nên mãnh liệt bội phần. Nó sẽ nổi lên với một sức mạnh vô song, một là do thói quen cố hữu, hai là vì cái giờ phút tế nhị đang trải qua. Thế nhưng, sự chấp ngã tăng cường sẽ củng cố tất cả những gì mà nó phát sinh.

Với thời gian, chúng ta đã chấp trước khá nhiều vào chính chúng ta và thân tâm của mình. Trong những giây phút quá đặc biệt này, sự chấp trước tăng lên rất mạnh vì chúng ta biết rõ rằng mình sẽ không còn ở lâu trong cõi đời này nữa. Thân xác chúng ta sẽ không còn nữa. Chúng ta sẽ phải bỏ nó lại phía sau vì nó sẽ bị tiêu diệt, tan biến. Một người phàm phu, trong viễn cảnh ấy gần như không thể nào không bị chìm đắm trong một sự chấp trước vào thân thể của mình mãnh liệt hơn lúc trước rất nhiều. Càng thấy mình sắp mất nó, mình càng bám chặt vào nó. Sự khát ái và tham luyến đối với thân thể sẽ làm cho một chủng tử nghiệp trở nên thành thục, đó là nghiệp đưa ta đi tái sinh, vì chính nghiệp này sẽ phóng ta vào một kiếp sống mới trong cõi Ta-bà.

Một người lâm chung sẽ ở trong trạng thái tâm thức nào? Họ thường tự nhủ: "Ta sẽ biến mất! Ta sẽ bị tiêu diệt!" Thật ra, cái sẽ biến mất là thân xác của họ, nhưng họ lại không thấy như thế. Họ sẽ không thể phân tích như thế nếu họ không đã từng miên mật huân tập từ trước. Phản ứng tự nhiên sẽ là "Tôi đang biến mất" chứ chắc chắn không phải là "chỉ có thân thể tôi đang bị hủy diệt chứ không phải tôi".

Người lâm chung tự đồng hóa một cách rất tự nhiên với thân thể, và đó là bởi vì quá chấp chặt vào thân thể của họ. Sự chấp trước vào thân thể của họ mạnh đến nỗi họ thấy mình với nó là một. Họ không thể làm khác hơn được. Đó là những phản xạ tự nhiên. Vào cuối đời, sự đắm trước đối với chính họ sẽ bùng lên một cách tự động, trừ những trường hợp ngoại lệ.

Thật thế, điều gì xảy ra cho những người đã nhờ thiền định mà trực tiếp hiểu được tánh Không, sự vắng mặt của một cái ngã tự hữu và tuyệt đối? Những vị đã chứng đắc điều này được gọi là bậc thánh (arya), nhưng các ngài không có cùng chung một trình độ. Có nhiều cấp bậc khác nhau. Hai cấp bậc đầu bao gồm các vị thánh còn phải sinh vào Dục giới, tức là cõi mà chúng ta đang sống. Thuật ngữ Phật giáo gọi là "nhập lưu" và "nhất lai" (tức là các bậc thánh Thanh văn chỉ còn mỗi một kiếp tái sinh nơi Dục giới).

Mặc dầu thật chứng được tánh Không, nhưng ngay cả những vị này cũng còn nảy lên một niệm chấp ngã trong tâm lúc cận tử. Sự khác biệt với phàm phu – những người chưa chứng được tánh Không – nằm ở chỗ là nhờ ý thức được sự vắng mặt của tự tánh nơi vạn pháp và nhất là nơi con người, các vị thánh này không nhượng bộ tâm chấp trước. Trong tâm họ nảy sinh niệm chấp ngã, nhưng họ không để cho niệm này trói buộc. Họ không bị niệm chấp trước khống chế, vì họ không tin vào nó. Họ hiểu rất rõ rằng những điều hiện ra trong trí họ toàn là những vọng tưởng tai hại, hoàn toàn sai lầm.

Những vị thánh đã đạt đến một trình độ cao hơn, tức là những vị không bao giờ còn phải tái sinh trong Dục giới, đã vượt qua sự chấp trước cho đến mức, dẫu trong phút lâm chung, niệm ấy cũng không còn có thể nảy sinh trong tâm họ.

Như vậy, khi chưa đạt đến trình độ cao của quả vị thánh, chắc chắn là lúc cận tử tâm của chúng ta bị xâm chiếm bởi sự ái luyến bản thân. Một trong các hậu quả là niệm chấp ngã rất mãnh liệt trong tâm người lâm chung. Vì thế mà đức Phật đã khuyên rằng, nếu được thì lúc ấy nên tư duy về tánh Không, và quán "sự vắng mặt" – hiểu theo nghĩa đen – của mọi hiện tượng, tức là [tính chất] "Không, vô tự tánh" của mọi hiện tượng, dẫu chỉ trong khoảnh khắc.

Mục đích là để đối trị tâm chấp ngã, chấp trước vào bản thân, và để hạn chế những tai hại về sau của các tâm ấy.

NGŨ ĐẠI HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT TỐC TẬT ĐẠI THẦN NGHIỆM BÍ MẬT THỨC KINH










MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 18

NGŨ ĐẠI HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT
TỐC TẬT ĐẠI THẦN NGHIỆM BÍ MẬT THỨC KINH

SỐ 1194

Quyển Ba Mật Tạng
Kim Cang Trí thích nghĩa
五大虛空藏菩薩




Y theo kinh Du Dà đã nói
Đời sau bạch phước các Tỳ kheo
Tu lâu các pháp Phật bí mật
Không đươc hiện tiền các phước trí
Cùng với không quang không địa vị
Quí tánh cao nhơn nhưng bạc phước
Vì muốn hoá độ các chúng sanh

Nói ra pháp rất bí mật nầy
Ba đời chư Phật pháp thần nghiệm
Mau chóng đắc được pháp cứu cánh
Thích tôn dạy bảo các Tỳ kheo
Tuỳ lực bố thí tiền tài báu

Vì quả Bồ đề gọi chọn lựa
Truyền thọ nhớ niệm gắng tu hành
Nếu như bố thí không cung kính
Thọ đạo tu hành không cảm ứng

Muốn cho pháp nầy được đại nghiệm
Cần phải tạo lập bí mật bàn (mâm).



Cây bạch đàn, cây bá, cây quế sống trăm năm thành linh mộc, dùng tạo thiên bàn vuông vức hai tấc năm phân, hoặc ba tấc, địa bàn bốn mặt sáu tấc, hoặc bảy tấc, thiên sắc dùng màu xanh, trong viện địa màu vàng, trung viện màu xanh, ngoài viện màu đỏ, phương dưới bốn mặt hư không màu xanh, dưới màu vàng. Thiên hậu (chiều dài) một tấc ba phân, địa hậu một tấc tám phân. Mặt hướng Đông, Thiên bàn hoạ Phước Trí Hư Không Tạng Bồ tát ngồi trên hoa sen báu màu trắng, đội mão báu ngũ Phật, dùng các thứ anh lạc nghiêm sức nơi thân, tay phải thí vô uý, tay trái cầm hoa sen báu, trên hoa có chày yết ma màu vàng. Hướng Đông vẽ chữ Hồng. Hướng Nam vẽ chữ Đát lạt (trah) biến thành Bồ Tát Năng Mãn Hư Không Tạng ngồi trên hoa sen đỏ, đầu đội mão ngũ Phật trang nghiêm như trên, hình sắc màu đỏ thịt. Tay phải cầm kiếm báu, tay trái cầm hoa sen xanh, trên hoa có như ý bảo châu, quanh châu lửa cháy rực rỡ. Hướng Tây có chữ Hật rị (hrih) biến thành Bồ Tát Thí Nguyện Hư Không Tạng ngồi trên hoa sen màu tím, đầu đội mão như trên, trang nghiêm như trên, chấp tay nơi ngực, hình sắc hồng ba lợi (màu hồng). Hướng Bắc có chữ Ác (ah) biến thành Bồ Tát Vô Cấu Hư Không Tạng ngồi trên hoa sen trắng, đội mão và trang nghiêm như trên, tay trái thí vô uý, tay phải cầm hoa sen báu, trên hoa có mặt trăng tròn sắc trắng như nước. Trung ương có chữ Vam biến thành Bồ Tát Giải Thoát Hư Không Tạng đội mão và trang nghiêm như trên, ngồi trên hoa sen màu trắng vàng (vàng lợt). Tay phải thí vô ý, tay trái cầm hoa sen báu, trên hoa có chày một chia màu vàng. Ở trên đảnh của thiên bàn, vẽ hình tượng của bảy ngôi sao; địa bàn nội viện tám phương; vẽ hình tượng tám Thiên Vương, bốn góc bốn Thiên Vương như sau: Đông Phương Đế Thích, Nam phương Diêm Ma, Tây phương Phạm Thiên, Bắc phương Tỳ Sa Môn. Trung viện Nhị Thập Bát Tú. Hướng Đông vẽ bảy hình Nam màu xanh, mặc áo xanh cầm khí trượng. Nam phương màu đỏ, vẽ bảy hình nam mặc áo đỏ, cầm khí trượng. Tây phương màu trắng vẽ bảy hình Nam mặc áo trắng, cầm khí trượng. Bắc phương màu đen vẽ bảy hình nam mặc áo đen, cầm khí trượng. Ngoài viện vẽ ba sáu cầm (thú), bắt đầu giáp ất, các bộ Dạ xoa vẽ theo hình tượng tên tuổi, vẽ theo màu sắc tuỳ theo phương. Trong nội viên địa màu vàng, trung viện màu xanh, ngoài viện màu đỏ, y theo đây hoạ vẽ.



NGŨ ĐẠI HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT
THÀNH TỰU TẤT ĐỊA


Phẩm thứ Hai


Căn Bản Tối Thượng Tam Đà La Ni:

- Nam mâu a ca xá yết bà da. Úm a lợi ca ma lợi mô lợi sa phạ ha.

Đông Phương Bồ Tát Chú:

-Úm phạ nhựt ra hồng.

Nam Phương Bồ Tát Chú:

-Úm phạ nhựt ra đát lạc.

Tây Phương Bồ Tát Chú:

-Úm phạ nhựt ra hật rị.

Bắc Phương Bồ Tát Chú:

-Úm phạ nhựt ra ác.

Trung Ương Bồ Tát Chú:

-Úm phạ nhựt ra vảm.

Ấn khế như kinh Du dà nói. Người tu hành trước phải tương ưng lập đạo tràng, tuỳ chổ mà lập, cần chọn nơi thanh tịnh vắng lặng, xa lìa chổ ồn ào, dơ uế, bất tịnh, đồng nam đòng nữ, bất tín di, bần cùng, áo quần dơ dáy đựng chạm. Muốn cầu thành tựu, cần phải y pháp dâng các món cúng dường, an trí nơi Bổn tôn bàn, hướng về trước tuỳ nguyện ngày đêm ba thời tụng căn bản chú một trăm vạn biến, tức được đại trí huệ, được đại an lạc đệ nhất trong đời.

Nếu muốn tất cả đều được đại tự tại, tuỳ lực dâng các đồ cúng dường hộ ma, tất cả sở cầu đều được thành tựu. Các vật hộ ma phải tương ưng như đã nói trong các phẩm Tất Địa ( Phần này do sư khẩu truyền chọn lựa đệ tử, nếu không thì không nên trao cho).

Nếu người muốn được đại trí huệ, dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn, mà cầu tức được. Nếu muốn được quốc vương thương nhớ, dùng Tây Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu tức được. Nếu muốn được Vương hậu, thể nữ cho đến các người nữ cao quí thương yêu, dùng tây Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu tức được. Nếu muốn được quan lớn thương yêu, dùng Tây Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu. Nếu muốn thành đại phước trưởng giả, dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu. Nếu muôn được đại quan qui y tôn trọng, dùng Đông Phương Bồ Tát Thêm Đế Thích mà cầu. Nếu muốn thắng được mọi người trong thiên hạ, được tự tại, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Phạm Thiên mà cầu. Nếu muốn thành tựu mọi việc thế gian, xuất thế gian, dùng Trung Ương Bồ Tát thêm Đông Phương Thiên mà cầu. Nếu muốn được đại linh nghiệm cho người khác, dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Tây Bắc Thiên mà cầu. Nếu muốn được đại linh nghiệm, lợi lạc tất cả chúng sanh, dùng Đông Pjương Bồ Tát thêm Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu muốn được quan chức, dùng Đông Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn Thiên mà cầu. Nếu muốn được tất cả mọi người thương mến , dùng Tây Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa môn mà cầu. Nếu muốn thắng các chỗ luận nghị , dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Phạm Thiên mà cầu. Nếu muốn hàng phục kẻ ác, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Tây nam Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ bệnh nóng dùng Trung Ương Bồ Tát thêm Tây Bắc Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ bệnh lao, bệnh thủng, bệnh liệt dung Bắc Phương Bồ Tát thêm Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ các chướng nạn quan vị, dùng Đông Phương Bồ Tát thêm Tây Bắc Thiên mà cầu. Nếu muốn làm chủ các pháp sư, dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Đông Nam Phương Thiên mà cầu. Nếu được chư Phật, Bồ Tát hộ niệm, dùng Trung Ưng Bồ Tát thêm Đông Nam Phương Thiên mà cầu. Nếu muốn được phú nhơn thương yêu, dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu. Nếu muốn cột trói thiên hồ địa hồ (yêu chồn), dùng Đông Phương Bồ Tát thêm Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ diệt quỉ thần dựa vào, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Diêm ma Thiên mà cầu. Nếu muốn diệt trừ định nghiệp, dùng Đông Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn diệt trừ con nít đoản mạng, được sống lâu, dùng Đông Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn phụ nữ mau sanh, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn cấm các ác quỉ ác độc không đến không đến, dùng Đông Phương Bồ Tát thêm Diêm ma Thiên mà cầu. Nếu muốn phản các ác nhơn trú trớ, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu muốn ngưng các nạn lửa, dùng Trung Ương Bồ Tát thêm Tây Bắc Phưong Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ hạn hán,dùng Trung Ương Bồ Tát thêm Đế Thích Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ các tai nạn tật bệnh lưu hành, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn được Cưc Lạc thượng phẩm thượng sanh, dùng Tây Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn cứu độ bảy đời phụ mẫu, lục thân quyến thuộc và tất cả chúng sanh đọa nơi địa ngục được vãng sanh Cực Lạc, dùng Tây Phương Bồ Tát thêm Phạm Thiên mà cầu. Nếu muốn vợ chông thương yêu, dùng Tây Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu (ghi tên tuổi nam nữ hoà hợp thiên địa đối nhau). Nếu muốn vợ chồng xa lìa các ác, dùng Bắc Phương Bồ tát thêm Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu muốn phụ nữ xa lìa thương yêu trở lại, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu. Nếu bị trộm cướp tài vật muốn được lại, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn kêu gọi kẻ ở và trâu ngựa bỏ đi, dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Phạm Thiên mà cầu (trên đây là bốn mươi bí thuật).

Gia trì bỏ mật tác pháp như trong cầu văn trì nghi quỉ đã nói. Kiện pháp nước Thiên Trúc Bồ đề truyền. Không cần nhiều thứ, nhiều người làm rất nghiệm ghi lại, gia trì cúng vật dùng Mã Đầu Minh Vương ấn chơn ngôn:

- Úm a mật lật đổ nạp bà phạ hồng phấn tra sa phạ ha.

Đại luân đàn ấn: Hai tay nắm thành quyền, địa phong câu nhau, để nơi ngực, tụng chú ba biến. Lại gia trì đàn, dùng ấn để nơi miệng.

- Um a phạ nhựt ra chước yết ra nhạ hồng vãm hô.

Niệm Châu gia trì chơn ngôn:

- Úm tỳ lô giá na mạ lệ ta phạ ha.

Lại tụng Thí chuyển niệm châu:

- Úm phạ nhựt ra ngục hê da nhạ bát sam ma duệ hồng.

Kiết tường Thiên tiểu chú:

- Úm ma ha chi lợi duệ sa bà ha.

Thiên Vương Phạm tự chú:

- Úm tỳ trí tu đa ca tất dã ta bà ha.

Tứ Thiên Vương thang chú:

- Úm tự bà la sa diễm đà la dạ sa bà ha.

Sứ giả chú:

- Úm đậu lưu đậu lưu địa lợi địa lợi độ lộ độ lộ ca tha da sa bà ha.

Đại tam ma gia ấn chơn ngôn: Hai tay kết Kim Cang quyền, dựa lưng nhau, thẳng hai phong đầu dính nhau, dùng ấn đưa từ tim lên đảnh ba lần, tán ấn nơi đảnh.

- Năng mồ tam mãn đà một đà nẫm đạt ma đà da tát phạ bà phạ câu hàm.

Quảng Đại Bất Không Ma Ni Phổ cúng dường ấn:

Hai tay Kim Cang hợp chưởng, đầu hai ngón trỏ vịn như hình bảo, thẳng hai ngón cái tức thành, tụng Bất Không Ma ni cúng dường chơn ngôn.

- Úm a mộ dà bố nhạ ma ni bạt nạp ma phạ nhựt lệ đát tha nghiệt đa vĩ lộ chỉ đế tam mãn đa bát ra tát ra hồng.

Cầm độc cổ (chày một chia), tay trái nắm thành quyền để nơi hông trái, tụng Kim Cang chùy chơn ngôn ba biến, dùng chày xoay phải trái mỗi bên ba lần, đưa lên ba lần, gia trì năm chỗ để nơi vú phải, tay trái cầm linh tụng chơn ngôn ba biến, năm lần đưa lên môi, tay trái hai lần đưa ngang môi hai lần lại dùng chày xoay phải trái ba lần, gia trì năm chỗ đem chùy linh để lại chỗ cũ

Chùy chơn ngôn:

- Úm phạ nhựt ra bá nể hồng.

Linh chơn ngôn

- Úm phạ nhựt ra kim tra đổ sử dả hô.

Phụng hiến ứ già ấn minh. Hư không tạng bốn phương kết. Kim Cang võng. Sái địa chơn ngôn.




***
NGŨ ĐẠI HƯ KHÔNG TẠN NGHI QUỈ
Thích Quảng Trí dịch ra Việt – Mùa Đông Bính Tý 1996

KINH QUÁN HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT










KINH
QUÁN HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT

- Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Đàm Ma Mật Đa Nước Kế Tân - Đời Tống.
- Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang
Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh
---o0o---



Tôi nghe như vầy, một thuở đức Phật trụ ở núi Khư Đà La, nương theo chỗ sở trụ của bậc tiên nhân Chánh Giác, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo và một ngàn vị Bồ tát của Kiếp Hiền mà ngài Di Lặc đứng đầu. Lúc bấy giờ, trưởng lão Ưu Ba Ly liền đứng dậy, sửa sang y phục, làm lễ đức Phật mà bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Trước đây, ở trong kinh Công Đức, ngài nói là tên của Đại Bồ tát Hư Không Tạng có thể trừ tất cả nghiệp ác chẳng lành, sửa trị vua Chiên đà la... cho đến Sa môn Chiên đà la, các ác luật nghi. Như việc ác này muốn sửa trị thì phải quan sát Bồ tát Hư Không Tạng ra sao? Giả sử được thấy thì làm sao ở chung để bố tát tăng sự? Nếu Ưu bà tắc phá năm giới, phạm tám giới trai, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na xuất gia phạm bốn trọng cấm, Bồ tát tại gia hủy phạm sáu trọng pháp, Bồ tát xuất gia phạm tám trọng cấm... mà những người lỗi như vậy đức Thế Tôn trước đây ở trong Tỳ ni nói rằng, quyết định tẩn xuất đuổi đi như hòn đá lớn đã vỡ. Nay ở trong Kinh này, đức Phật nói rằng, Bồ tát Hư Không Tạng đại bi có thể cứu các khổ và nói chú để trừ tội lỗi. Giả sử có người này thì làm sao biết được? Lấy gì làm chứng? Nguyện xin đức Thiên Tôn phân biệt giải nói!

Đức Phật bảo ngài Ưu Ba Ly rằng:

- Ông và người giỏi trì Tỳ ni đời vị lai cần phải giáo hóa những chúng sinh phạm tội này và an ủi ý của họ! Lời hoằng thệ đại từ của Thế Tôn không lường, chẳng bỏ tất cả. Ở Kinh Công Đức thậm thâm nói về pháp sửa trị tội gọi là quyết định Tỳ ni, có ba mươi lăm đức Phật cứu thế đại bi mà ông phải kính lễ. Khi ông kính lễ phải mặc áo tàm quí, như mắt phát sinh nhọt sinh ra hổ thẹn sâu sắc, như người bệnh ghẻ theo lời dạy của lương y, ông cũng như vậy, nên sinh ra tàm quí. Đã sinh ra tàm quí rồi, từ một ngày cho đến bảy ngày lễ mười phương Phật, xưng danh hiệu của ba mươi lăm vị Phật và đặc biệt xưng danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng đại bi. Hành giả tắm gội thân thể, đốt mọi thứ hương thơm danh tiếng như kiên hắc trầm thủy, lúc sao mai mọc, quì dài chắp tay, buồn khóc nước mắt như mưa xưng danh hiệu Hư Không Tạng mà bạch rằng: “Thưa Đại đức! Đấng Đại bi Bồ tát! Ngài thương nghĩ đến con nên vì con hiện thân”. Bấy giờ, phải khởi lên tư tưởng này: “Trên đỉnh Bồ tát Hư Không Tạng đó có ngọc Như Ý. Ngọc Như Ý ấy tạo ra sắc vàng tía”. Nếu thấy ngọc Như Ý tức là thấy Thiên quan (mũ trời). Trong thiên quan này có ba mươi lăm tượng Phật xuất hiện. Trong ngọc Như Ý có mười phương Phật tượng xuất hiện. Thân Bồ tát Hư Không Tạng lớn hai mươi do tuần. Nếu hiện đại thân cùng với Bồ tát Quán Thế AÂm.v.v... thì Bồ tát này ngồi kiết già, tay nắm vua ngọc Như Ý. Ngọc Như ý ấy diễn xướng mọi pháp âm hợp cùng Tỳ ni. Nếu Bồ tát này thương xót chúng sinh nên hóa làm hình dáng Tỳ kheo và tất cả sắc tượng, hoặc ở trong mơ, hoặc khi ngồi thiền, dùng ấn ngọc Ma ni in vào cánh tay người đó. Hoa văn của dấu ấn có chữ Trừ tội. Được chữ này rồi thì trở lại trong chúng Tăng nói giới như cũ. Nếu Ưu bà tắc được chữ này thì chẳng ngăn chận xuất gia. Giả sử người chẳng được chữ này thì liền trong hư không có tiếng xướng lên rằng: “Tội diệt! Tội diệt!” Nếu không có tiếng trong không cho biết Tỳ ni thì trong mơ thấy Bồ tát Hư Không Tạng bảo rằng: “Tỳ ni tát! Tỳ ni tát!” Ông giáp Tỳ kheo nào đó, ông giáp Ưu bà tắc nào đó, lại khiến cho cho họ sám hối từ một ngày cho đến bốn mươi chín ngày. Nhờ sức lễ bái ba mươi lăm đức Phật và Bồ tát Hư Không Tạng nên tội ông giảm nhẹ. Người biết pháp lại sai bảo họ làm vệ sinh cầu tiêu (chuồng xí) trải qua tám trăm ngày mà ngày ngày bảo họ rằng: “Ông làm việc bất tịnh! Ông nay phải một lòng làm vệ sinh tất cả cầu tiêu, không cho người biết. Làm vệ sinh xong tắm gội sạch, làm lễ ba mươi lăm đức Phật, xưng danh hiệu Hư Không Tạng, hướng về mười hai bộ Kinh, năm vóc gieo xuống đất, nói lên tội ác của ông”. Sám hối như vậy lại trải qua ba mươi bảy ngày. Bấy giờ, kẻ trí nên gom gần lại ở trước tượng Phật mà xưng danh hiệu ba mươi lăm vị Phật, xưng danh hiệu Văn Thù Sư Lợi, xưng danh hiệu của Bồ tát Kiếp Hiền... được những vị ấy làm chứng, rồi lại bạch yết ma pháp thọ giới như trước. Người này nhân sức khổ hạnh nên tội nghiệp tiêu trừ vĩnh viễn, chẳng chướng ngại ba thứ nghiệp Bồ đề.

Đức Phật bảo ngài Ưu Ba Ly rằng:

- Ông hãy giữ gìn phép quán Hư Không Tạng này, vì chúng sinh không tàm quí đời vị lai phạm nhiều nghiệp ác mà phân biệt giảng nói rộng rãi.

Khi nói lời này thì Bồ tát Hư Không Tạng ngồi kiết già, phóng ra ánh sáng màu vàng, trong ngọc hiện ra ba mươi lăm đức Phật rồi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ngọc báu Như Ý này từ Thủ Lăng Nghiêm sinh ra. Vậy nên chúng sinh thấy ngọc thì được như ý tự tại.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn sắc bảo Ưu Ba Ly rằng:

- Ông hãy giữ gìn Kinh này, chẳng được vì nhiều người giảng nói rộng rãi! Ông chỉ làm một người giữ gìn Tỳ ni vì chúng sinh không nhẫn nhục đời vị lai mà làm con ngươi của tròng mắt (nhãn nhục) vậy. Ông hãy thận trọng chớ quên mất!

Ngài Ưu Ba Ly nghe lời đức Phật nói hoan hỷ phụng hành.
KINH QUÁN HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT

- hết-





Ghi chú: (Theo Kinh bản Nguyên, Minh)

Kinh Quán Hư Không Tạng Bồ tát ở trên (nguyên bản là bên phải) căn cứ vào Khai Nguyên Lục, nguyên là bản dịch đơn, chỉ có hai tờ giấy, phần sau Kinh cũ còn có tám tờ Kinh văn. Căn cứ vào lời xét đoán của giảng sư Trúc Đường hiệu đính Đại Tạng thì nhìn chung là người đời sau nhặt nhạnh gom góp những bài chú của Kinh Hư Không Tạng cùng với danh hiệu Phật và thần chú trong các Kinh để làm pháp khuyên đời tu hành nên chẳng thể liền nối theo sau Kinh Quán Hư Không Tạng được, kể cả Trúc Bản và Phước bản đều không. Lại căn cứ vào Kinh này, đức Thế Tôn trước đây ở Kinh Thâm Công Đức, ngài nói phép sửa trị tội gọi là Quyết Định Tỳ Ni, có ba mươi lăm đức Phật tức là phát xuất từ Kinh Bảo Tích, quyển thứ chín mươi, đề mục Ưu Ba Ly hội cùng với Linh Quyết Định Tỳ Ni đồng bản. Phần Kinh văn còn lại đều liệt kê ra đây. Tuy nhiên xem xét tỏ tường, theo lý phán đoán cũng có thể hội ý, những gì đáng bảo tồn thì hãy gạn lọc lấy.

A di lệ xa a di lệ xa ca lưu ni ca (1) Già la già la tỳ già la san già la ca lưu ni ca (2) La mậu la la mậu la tỳ già đà lệ (3) Ma tào khư phục xà ma na ca lưu ni ca (4) Chân đà ma ni phú la di ca lưu ni ca (5) Tát bà a xá di tha phá di (6) Đà hội đà lợi (7) Phá cừu phá cừu (8) Lưu để tỳ tỳ già cừu (9) Chất tỳ tỳ già cừu ca lưu ni ca (10) Phú lệ di đỏa ma ma a xa (11) Tát đỏa ba tha già a thâu ca kiệt khâu tá ha (12).

Ba mươi lăm danh hiệu Phật:

Thích Ca Mâu Ni Phật - Kim Cương Bất Hoại Thân Phật - Bảo Quang Phật - Long Tôn Vương Phật - Tinh Tấn Quân Phật - Tinh Tấn Hỷ Phật - Bảo Lực Phật - Bảo Nguyệt Quang Minh Phật - Hiện Vô Ngu Phật - Bảo Nguyệt Phật - Vô Cấu Phật - Ly Cấu Phật - Dũng Thí Phật - Thanh Tịnh Phật - Thanh Tịnh Thí Phật - Bà Lưu Na Phật - Thủy Thiên Phật - Kiên Đức Phật - Chiên Đàn Đức Phật - Vô Lượng Quang Phật - Quang Đức Phật - Vô Lượng Khí Quang Phật - Na La Diên Phật - Công Đức Hoa Phật - Liên Hoa Du Hí Thần Thông Phật - Tài Công Đức Phật - Niệm Công Đức Phật - Thiện Danh Xưng Phật - Hông Viêm Tràng Vương Phật - Thiện Du Bộ Công Đức Phật - Đấu Chiến Thắng Phật - Thiện Du Bộ Phật - Châu Trân Trang Nghiêm Công Đức Phật - Bảo Liên Hoa Du Bộ Công Đức Phật - Liên Hoa Quang Thiện Trụ Ta La Thọ Vương Phật.

Đó là ba mươi lăm danh hiệu Phật quá khứ.

Hư Không Tạng Bồ tát Đà la ni:

Đa trịch đá - A di xà - Ca lưu ni ca - Già la già la tỳ già la - Ca lưu ni ca - Mậu la la lá mậu la tỳ ca đà la - Ma ma kiếp khư - Phục xa ma na - Ca lưu ni ca chân đa ma ni - Phú la di - Ca lưu ni ca - Tát đỏa xá ma - Đá bà xà - A nhã đà lị - Bà phá cùng cùng lưu đề - Tỳ ty già cùng - Trì lật tỳ ty già cùng - Ca lưu ni ca - Phú lê đà đâu ma ma a xá - Tát đỏa ba lợi ba già - A thâu ca kiệt đề - Tá ha.

Nếu có chúng sinh bị đủ thứ các bệnh bức thiết thân họ, tâm họ tán loạn, điếc, mù, câm, ngọng, các căn chẳng đủ, chi tiết đều lạ, lúc có tướng chết đến... Những việc như vậy thì một lần hướng về Đại Bồ tát Hư Không Tạng xưng danh hiệu sẽ tiêu trừ các bệnh. Nếu muốn không bệnh thì người đó nên đốt hương trầm thủy, hương kiên hắc trầm thủy hay hương nhã đa kiệt lưu, làm lễ đại thiện trượng phu Hư Không Tạng. Vị thiện trượng phu này ở trong giấc mơ đêm, hiện làm hình dáng Bà la môn tại trước mặt người ấy, hoặc hiện hình dáng Đế Thích, hình dáng trời Công Đức, hình dáng trời Diệu AÂm, hoặc hình dáng La sát, hoặc hình dáng đại thần, hoặc hình dáng binh lính, hình dáng lương dược, hoặc hình dáng cha mẹ... ở trong đêm mơ, tại trước người bệnh, đúng như thật nói đủ thứ thuốc thang tùy theo bệnh. Những người bệnh ấy chỉ một lần uống là trừ khỏi, không còn. Lại có người như vậy chọn lấy việc mưu cầu như muốn hỏi han nhiều nghĩa, muốn chỗ tịch tịnh, muốn hành thiền định, muốn trí tuệ, muốn được danh xưng, muốn cầu khéo léo, muốn cầu tự tại, muốn được sắc đẹp, muốn được phong ấp, muốn được thế lực, muốn tài năng, muốn được tiếng nói hay, muốn được con cái, muốn được quyến thuộc, muốn được công đức, muốn được bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, muốn được lời nói ý nghĩa, muốn được người cung kính, muốn thoát khỏi các ác tai, dừng ở bố thí... cho đến trụ ở tuệ, muốn được sống lâu, muốn được đủ thứ đồ cần dùng mà được rồi có thể sử dụng... thì người này làm lễ Đại Bồ tát Hư Không Tạng. Hoặc tại A lan nhã, hoặc ở trong rừng, hoặc tại nơi đất trống, người ấy đốt hương trầm thủy, hương kiên hắc trầm thủy, hương Nhã đa kiệt lưu, chí tâm chắp tay, năm vóc gieo xuống đất, lễ khắp mười phương rồi nói câu Đà la ni trên thì liền được toại nguyện.

Năm mươi ba danh hiệu Phật quá khứ:

Phổ Quang Phật - Phổ Minh Phật - Phổ Tịnh Phật - Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật - Chiên Đàn Quang Phật - Ma Ni Tràng Phật - Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật - Nhất Thiết Thế Gian Lạc Kiến Thượng Đại Tinh Tấn Phật - Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật - Tuệ Cự Chiếu Phật - Hải Đức Minh Quang Phật - Kim Cương Lao Cương Phổ Tán Kim Quang Phật - Đại Cương Tinh Tấn Dũng Mãnh Phật - Đại Bi Quang Phật - Từ Lực Vương Phật - Từ Tạng Phật - Chiên Đàn Quật Trang Nghiêm Thắng Phật - Hiền Thiện Thủ Phật - Thiện Ý Phật - Quảng Trang Nghiêm Phật - Kim Hoa Quang Phật - Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Vương Phật - Hư Không Bảo Hoa Quang Phật - Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật - Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật - Bất Động Trí Quang Phật - Hàng Phục Chư Ma Vương Phật - Tài Quang Minh Phật - Trí Tuệ Thắng Phật - Di Lặc Tiên Quang Phật - Thế Tịnh Quang Phật - Thiện Tịch Nguyệt AÂm Diệu Tôn Trí Vương Phật - Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật - Nhật Nguyệt Quang Phật - Nhật Nguyệt Châu Quang Phật - Tuệ Tràng Thắng Vương Phật - Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật - Diệu AÂm Thắng Phật - Thường Quang Tràng Phật - Quán Thế Đăng Phật - Tuệ Oai Đăng Vương Phật - Pháp Thắng Vương Phật - Tu Di Quang Phật - Tu Mạn Na Hoa Quang Phật - Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật - Đại Tuệ Lực Vương Phật - A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật - Vô Lượng AÂm Thanh Vương Phật - Tài Quang Phật - Kim Hải Quang Phật - Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật - Đại Thông Quang Phật - Nhất Thiết Pháp Thường Mãn Vương Phật.

Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân và tất cả chúng sinh khác nữa được nghe năm mươi ba danh hiệu Phật đó thì những người này ở trong trăm ngàn vạn ức A tăng kỳ kiếp chẳng rơi vào đường ác. Nếu lại có người có thể xưng danh hiệu năm mươi ba đức Phật đó thì họ sinh nơi đâu cũng thường được gặp chư Phật mười phương. Nếu có người có thể chí tâm kính lễ danh hiệu năm mươi ba vị Phật thì trừ diệt bốn trọng tội, năm nghịch tội và tội bài báng Phương Đẳng cũng đều thanh tịnh hết.

Tỳ Ba Thi Phật - Thi Khí Phật - Tỳ Xá Khư Phật - Câu Lưu Tôn Phật - Ca Na Hàm Mâu Ni Phật - Ca Diếp Phật - Thích Ca Mâu Ni Phật - Đông Phương Bảo Quang Nguyệt Điện Diệu Tôn AÂm Vương Phật - Nam Phương Thọ Căn Hoa Vương Phật - Tây Phương Tạo Vương Thần Thông Viêm Hoa Phật - Bắc Phương Nguyệt Điện Thanh Tịnh Phật - Hạ Phương Thiện Tịch Nguyệt AÂm Vương Phật - Thượng Phương Vô Số Tinh Tấn Nguyển Thủ Phật.

Đức Phật bảo ngài Bảo Võng Bồ tát rằng:

- Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân khởi lập giảng đường lớn như ba ngàn đại thiên thế giới. Bên trong giảng đường tạo lập tinh xá mà số lượng kể có hàng ức, đều dùng gỗ chiên đàn đỏ làm thành. Rồi họ đem tất cả nhạc cụ cúng dường các đức Phật đến hàng trăm ngàn kiếp. Sau khi đức Phật nhập diệt, họ lại xây dựng tháp miếu, dùng tràng phan, hoa cái, bảo bình, lò hương, kỹ nhạc ca ngợi để cúng dường. Ý ông thế nào? Công đức người này chắc là nhiều lắm chăng?

Ngài Bảo Võng bạch đức Phật rằng:

- Rất nhiều! Thưa đức Thế Tôn!

Đức Phật dạy rằng:

- Chẳng bằng người tụng niệm danh hiệu Phật ở sáu phương này và cung kính làm lễ. Người ấy đời đời thường sinh ra trong gia đình Chuyển Luân Vương, đoan chính đầy uy đức. Đến lúc sắp mạng chung thì hàng trăm ức chư Phật trao tay khiến cho người ấy chẳng rơi vào ba đường ác. Giả sử người ấy có trọng tội ngũ nghịch đáng vào địa ngục thì khiến cho ở đời hiện tại thọ bệnh đau đầu nhẹ. Do sự chịu đựng này mà chẳng vào ba đường ác nữa. Vậy nên chí tâm cung kính làm lễ... nói rộng như vậy ở Kinh Bảo Võng đồng tử.

Đông phương Tu Di Đăng Quang Minh Phật - Đông Nam phương Bảo Tạng Trang Nghiêm Phật - Nam phương Chiên Đàn Ma Ni Quang Phật - Tây Nam phương Kim Hải Tự Tại Vương Phật - Tây phương Đại Bi Quang Minh Vương Phật - Tây Bắc phương Ưu Bát La Liên Hoa Thắng Phật - Bắc phương Liên Hoa Tu Trang Nghiêm Vương Phật - Đông Bắc phương Kim Cương Tự Tại Vương Phật - Thượng phương Thù Thắng Nguyệt Vương Phật - Hạ phương Nhật Nguyệt Quang Vương Phật.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có Bồ tát phạm vào giới ban đầu mà ở trước mười chúng, dùng tâm chánh trực, trân trọng sám hối đầy đủ. Người mà tay phạm giới thì ở trước năm chúng, dùng tâm chánh trực trân trọng sám hối đầy đủ. Người mà tay bắt nữ nhân, mắt nhìn với ác tâm thì hoặc trước một người, hai người dùng tâm chánh trực trân trọng sám hối đầy đủ. Nếu có vị Bồ tát thành tựu năm tội vô gián, phạm đến nữ nhân hay phạm đến nam tử, hoặc có tay phạm, phạm tháp, phạm Tăng... còn phạm những thứ như vậy.v.v... thì Bồ tát nên phải ở bên ba mươi lăm vị Phật, với những trọng tội đã phạm, ngày đêm ở một mình, hết lòng sám hối. Pháp sám hối là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng.

Diệu AÂm Bồ tát - Văn Thù Sư Lợi Bồ tát - Dược Vương Bồ tát - Dũng Thí Bồ tát - Túc Vương Hoa Bồ tát - Thượng Hạnh Ý Bồ tát - Trang Nghiêm Vương Bồ tát - Dược Thượng Bồ tát - Đắc Cần Tinh Tấn Lực Bồ tát - Quán Thế AÂm Bồ tát - Vô Tận Ý Bồ tát - Trì Địa Bồ tát - Trang Nghiêm Tướng Bồ tát - Phổ Hiền Bồ tát.

Mười bốn vị Bồ tát đó, muốn thấy đến chỗ Diệu AÂm (?) trong pháp hoa. Nếu người niệm và làm lễ thì đời hiện tại được phước.

Chủng Chủng Hạnh Bồ tát - Vô Lượng Hạnh Bồ tát - Thanh Tịnh Hạnh Bồ tát - Kiến Lập Hạnh Bồ tát. Tụng danh hiệu bốn vị Bồ tát và niệm lễ thì mạng chung chẳng trải qua ba đường ác.

Đông phương Không Vô Bồ tát - Nam phương Thiện Tư Nghị Bồ tát - Tây phương Hỷ Tín Tịnh Bồ tát - Bắc phương Thần Thông Hoa Bồ tát. Niệm, lễ bốn vị Bồ tát này thì được phước ba đời, đi đến Phật đạo.

Bạt Đà Hòa Bồ tát - La Lân Na Kiệt Bồ tát - Kiều Mục Đâu Bồ tát - Na La Đạt Bồ tát - Tu Thâm Di Bồ tát - Ma Ha Tu Tát Hòa Bồ tát - Nhân Đạt Bồ tát - Hòa Luân Điều Bồ tát. Tám vị Bồ tát này rút ra từ trong Bát Chu. Tám người này cầu đạo đã từ vô ương số kiếp đến nay chưa thủ chứng Phật mà nguyện rằng: “Nhân dân trong thiên hạ của mười phương kia đều được Phật đạo. Họ có gì gấp gáp đều gọi đến danh hiệu tám người chúng ta thì liền được giải thoát. Khi họ mạng chung, tám người chúng ta liền sẽ bay đến nghênh đón họ”. Người tụng niệm, lễ bái tám vị Bồ tát đó thì được phước đời hiện tại. Khi mạng chung, tám vị này nghênh tiếp họ đem về đất nước cực lạc, hóa sinh trong hoa sen, làm Vô sanh Bồ tát.

Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, Tu Bồ Đề, bốn vị Thanh văn này mà có người tụng niệm, lễ bái thì khiến cho người đó được phước đời hiện tại.

Phú Lâu Na - A Nan - La Hầu La là những bậc Thanh văn. Ba vị quyền Thanh văn này, nếu có người tụng niệm, lễ kính thì khiến cho đó được phước Đại thừa.

Phần xá lợi thứ nhất ở tại thành của nước Câu Thi Na. Phần xá lợi thứ hai ở tại nước Ba Bà. Phần xá lợi thứ ba ở tại nước La Ma. Phần xá lợi thứ tư ở tại nước Thứ Lặc. Phần xá lợi thứ năm ở tại nước Tỳ Lâu. Phần xá lợi thứ sáu ở tại nước Tỳ Gia Ly. Phần xá lợi thứ bảy ở tại nước Ca Ty La. Phần xá lợi thứ tám ở tại nước Ma Già Tha. Phần xá lợi thứ chín ở tại nước Bình Đầu La. Phần xá lợi thứ mười ở tại nước La Diên Na.

Sau khi đức Phật vừa rời khỏi thế gian thì được khởi dựng mười ngôi tháp này. Đang lúc bấy giờ, trong hai mươi tám vạn dặm của cõi Diêm phù đề, chính thức có mười ngôi tháp mà nếu có người niệm, lễ bái thì được phước đức không lường, sau khi chết chẳng bị rơi vào ba đường ác.

Trên trời có bốn ngôi tháp là:

Phía Đông thành của trời Đao Lợi, trong vườn Chiếu Minh có ngôi tháp thờ tóc của Phật.

Phía Nam thành của trời Đao Lợi, trong vườn Thô Sáp có ngôi tháp thờ áo của đức Phật.

Phía Tây thành trời Đao Lợi, trong vườn Hoan Hỷ có ngôi tháp thờ bát của đức Phật.

Phía Bắc thành trời Đao Lợi, trong vườn Giả Ngự có ngôi tháp thờ răng của đức Phật.

Cõi người có bốn ngôi tháp:

Tháp thứ nhất thờ nơi giáng sinh ở trong vườn Lâm Tỳ Lâm, thành Ca Tỳ La, nước Câu-tát-la.

Tháp Đạo tràng thứ hai ở dưới cây Bồ đề trong thành Già Gia, nước Ma Già Đà.

Tháp Chuyển Pháp Luân thứ ba ở trong vườn Lộc Dã, thành Ba La Nại, nước Già Thi.

Tháp thứ tư Bát Niết bàn ở vùng Song Thọ, thành Câu Thi La, nước Ma La. Tám tháp của cõi trời, người mà ai niệm, lễ cũng đều khiến cho người đó được phước đời hiện tại.

Kinh Tập Pháp Duyệt Xả Khổ Đà la ni:

Nam mô Phật Đà Gia - Nam mô Đạt Ma Gia - Nam mô Tăng Già Gia - Nam mô Tỳ Thủ Đà Già Gia - Nam mô A Già Kiệt Phù Già Gia - Nam mô Ma Ha Tát Bà Bà Già Lợi Gia - Đa trịch điệt đá lâm di lợi - Bà bả bà di lưu già ha. Đàn ma đà na xà na hí hi - Tri để - Bà cư bà già gia - Na gia ba la - Tát bà ma ha hí tri để lợi ương cầu tri lợi mặc cầu tri lợi - Tỷ bà tát bà gia na - Tỷ lâm bà xà ha đà xá gia thâu - Tát bà ta la - Tam mạn bát để ba - Ba ba lợi ma ha a na tá ha.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các đại chúng rằng:

- Ta vốn ở trong vô số kiếp, khi làm phàm phu tên là Già Tha Đà ở tại nước Gia Luân La, làm thương khách, chuyên trị nghề buôn bán, hư dối không thật, tạo các hành động ác chẳng thể kể xiết, hoang dâm vô đạo chẳng thể nói cho đủ. Lúc đó ta ngu si hại cha yêu mẹ, trải qua trong nhiều năm, nhân dân cả nước đều biết cả, lên tiếng nói rằng: “Già Tha Đà đó hại cha yêu mẹ trải mấy năm nay”. Ta suy nghĩ mình cùng với loài lục súc không khác, lại không là việc của con người. Ở nước Gia Luân La, ta vượt thành chạy trốn đến vùng đầm sâu. Vua nước này tên là Tỳ Xà ra lệnh bảo nhân dân trong nước rằng: “Già Tha Đà này dâm hoang vô đạo. Vì việc này mà nếu có ai có thể bắt được người này thì sẽ được ban cho vật báu. Lúc đó, ta kinh sợ, liền ra khỏi nước, làm Sa môn. Ở tại nước khác, ta tu hành mười điều thiện, ngồi thiền, học đạo, ngày đêm khóc lóc, tuông trào nước mắt, trải qua ba mươi bảy năm. Do tội ngũ nghịch che ngăn nên lòng chẳng định, lo buồn không thể ở được. Trong ba mươi bảy năm, ở tại hang núi, ta thường cất tiếng kêu khóc: “Khổ thay! Khổ thay! Ta phải dùng tâm gì để khử trừ cái khổ này?” Ta buồn than, xuống khỏi hang xin ăn, giữa đường, được một cái bát lớn ở dưới đất. Trong bát có một quyển Kinh trong hộp, không còn Kinh nào khác mà chỉ có Kinh Tập Pháp Duyệt Xả Khổ Đà la ni. Kinh nói về hằng hà sa những đức Phật quá khứ đã vào Nê Hoàn thì thường ở tại nước Tỳ Duyệt La diễn nói Đà la ni này và giao phó cho các vị Đại Bồ tát. Về sau nếu có người được nghe Đà la ni này thì người này thuở đời quá khứ đã tu trì năm giới, mười điều thiện Kinh này sẽ khiến cho họ được nghe, có người tuy nghe mà chẳng để tâm, chẳng tu tập thì đó gọi là vô duyên. Đà la ni này có thể trừ khử hàng trăm ức kiếp sinh tử với đại tội ngũ nghịch. Nếu có người đọc tụng thọ trì thì nhất định chẳng rơi vào ba đường: địa ngục, ngã quỉ và súc sinh. Vì sao vậy? Vì các đức Phật quá khứ khi sắp vào Nê hoàn từng nói Đà la ni này, tôn trọng khen ngợi, ngưỡng mộ công đức của Đà la ni ấy chẳng thể kể lường và đem phó thác cho các vị Bồ tát. Về sau nếu có chúng sinh được nghe Đà la ni này mà để tâm tu tập thì phước báo khó kể xiết giống như biển báu núi Tu Di (?), người phàm chẳng thể lường được. Nếu có người làm các hành động ác, trộm nghe tên Đà la ni này chẳng kịp tu tập nhưng ôm giữ trong lòng, chết đọa vào điạ ngục. Ở trong tất cả địa ngục, nhờ ơn đó, người này chẳng bị thống khổ hành hạ. Có người có thể hiện thân tinh cần tu tập thì được nhìn thấy hàng trăm ngàn vạn đất nước Phật, được phước không lường, chẳng thể nói đủ được, chỉ có các đức Phật cùng các vị Bồ tát mới có thể cứu xét tường tận còn hàng nhị thừa Thanh văn thì chẳng thể được biết. Vì sao vậy? Vì Đà la ni này chẳng phải là lời nói của một đức Phật hay hai đức Phật mà là lời nói của hằng hà sa số các đức Phật quá khứ. Lúc đó, ta được Kinh này liền chẳng đi khất thực nữa, vui mừng hướng về hang. Đến ở trong hang, ta đốt hương, lễ bái, buồn rơi lệ, khen ngợi, kính ngưỡng. Ở trong hang, ta tu tập, đọc tụng trải qua một năm được Kinh đầu tiên. Vì nghiệp chướng của tội nên ta chẳng thể được vào tâm hoài. Lúc đó ta liền vào đêm trăng thu, tắm gội tu hành trải qua một thất, bảy ngày. Như đứa trẻ mới học ta bối rối chẳng chút tiên nghi. Ta lại làm bảy ngày nữa cũng bối rối như vậy, không khác. Trong lòng sầu não, chẳng biết làm sao? Trong ý nghĩ thấm từng chữ của Đà la ni này, trải qua vài lần phản ứng, trong lòng chợt định, khi đó ta vui mừng lắm! Như người được hàng trăm ngàn cân vàng mà người không biết thì bên trong lòng vui mừng chẳng dừng, ta thì cũng vậy. Ta tu hành vài năm thì bay đi không ngăn ngại, nhìn thấy các đức Phật ba đời trong mười phương. Về sau có hành giả đúng như pháp tu hành.

Hư Không Tạng Bồ tát Đà la ni chú:

Nam mô Phật đâu Phật đa - Ma ha Mục Kiền Liên tá - Đa trịch điệt tha - Y lợi kiết lợi di lợi trì lợi - Tát bà già y lợi di lợi - Tát bà già di lợi tá ha.

Đà la ni này thì cần vào ngày mười bốn, ngày mười lăm mỗi tháng, lúc sao mai mọc, tụng tám trăm lần chú này, đốt hương trầm thủy tốt, khói hương chẳng dứt, cần dùng tám trăm cành hoa vàng, khiến cho người được phước. Nếu có thiện nam tử hiện thân yên ổn thì sở nguyện cầu trong lòng không gì chẳng thu hoạch được. Nếu có thiện nữ nhân muốn hóa thành nam tử có thể chí tâm, một ngày một đêm sáu thời hành đạo, tụng trì Đà la ni đó thì tội của một kiếp hay hai kiếp tiêu tan, vĩnh viễn chẳng vào đường ác, cần đúng vào thời gian mát mẻ của mùa xuân, mùa thu tức là tháng ba, tháng tư hay tháng tám, tháng chín.

- hết -

--- o0o ---

Kinh Thần Chú Bồ Tát Hư Không Tạng













Kinh Thần Chú Bồ Tát Hư Không Tạng

Thất dịch

Bản Việt dịch của Tuệ Khai




Tôi nghe như vầy, một thuở đức Phật ở tại trú xứ của tiên thánh trong núi Khư La Đế Gia, cùng với vô số chúng đại Tỳ kheo và số chúng Đại Bồ tát nhiều vô lượng vô biên như cát sông Hằng. Ngài diễn nói kinh Công Đức Như Lai rồi, bấy giờ ở phương Tây có ngọc báu Như Ý tự nhiên xuất hiện với trăm ngàn ngọc báu Thích ca tỳ lăng già làm quyến thuộc. Sự phát ra ánh sáng sủa ngọc báu Như Ý đó đều suốt qua hết. Sắc tượng bốn ánh sáng lớn của người, trời, Thanh văn, Bồ tát ở cõi này đều diệt không còn. Chỉ còn lại đức Như Lai và ngọc báu Như Ý, còn bao nhiêu thứ khác đều đồng tướng với vô lượng vô biên, chẳng thể ngôn thuyết hư không.

Lúc bấy giờ, quang sắc của đức Thế Tôn sáng thêm. Chúng sinh trong hội đều chẳng thấy nhau, cũng chẳng được tiếp xúc thân sắc hình tướng. Sự nhìn ngắm của họ cũng chẳng thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng và tinh tú. Mắt chẳng thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng ngửi hương, lưỡi chẳng biết vị, thân chẳng giác xúc, tâm, tâm số pháp, chẳng kể pháp, không ngã và ngã sở, chỉ thấy sắc tướng quang minh của đức Như Lai và ngọc báu Như Ý. Bồ tát tại hội trụ ở Thập Địa, được Thủ Lăng Nghiêm tam muội, nhất sanh bổ xứ, thân tối hậu, tâm chẳng sợ hãi. Vì sao vậy? Vì đã giải được đệ nhất nghĩa không Chân Như bảo tướng của các pháp. Số Bồ tát còn lại, các chúng Thanh văn, trời, rồng, Dạ xoa, A tu la, Khẩn na la, Câu bàn trà, Tỳ xá già, Phú đa na, Ca tra phú đa na, người và chẳng phải người, các người đến hội đều kinh sợ hết. Hoặc ở đây đó chẳng thấy biết nhau, đây là việc gì mà không nơi hỏi han!

Lúc bấy giờ, trong hội có vị Đại Bồ tát tên là Phạm Âm đứng dậy, chắp tay hướng về đức Phật mà nói kệ rằng:

Các pháp nghĩa thật chân

Chúng sinh chẳng thể biết

Ngu ở trong sáu căn

Tham trước các sắc ấm.

Một ấm chẳng nhìn xem

Tìm cầu ở sắc tướng

Nay có chúng như trên

Nghi hoặc với Phật pháp.

Nguyện xin Phật Thế Tôn

Diễn nói tướng chân thật!

Với đây, đó giải thông

Mau chứng như không nhẫn.

Bậc dũng mãnh tu thiền

Thân chẳng thể luận nói

Báu Ma ni Như ý

Tại đỉnh hiện rõ ràng.

Thích ca lăng già bảo

Cách nhau cũng rất gần(chẳng xa)

Ngọc đến các sinh chúng

Đến bờ kia kiện cường

Đều có đại trí tuệ

Muốn đến thấy Thế Tôn

Ắt nói thậm thâm pháp

Quyết định không nghi nan

Nguyện xin Phật Thế Tôn

An ủi những chúng đến

Thành tựu cho chúng sinh

Sở hạnh của Đại sĩ!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

Như lời nói của ông

Việc làm sức tam muội

Người ấy trí tuệ thông

Mới được nghe việc đó.

Bồ tát Hư Không Tàng

Sở hạnh của đại sĩ

Không hí luận, không nương

Sức tam muội như vậy.

Với hai kiến trụ bền

Sở hạnh của ngu hoặc

Vì chấp trước đoạn, thường

Chẳng giải được đây, đó.

Nếu đối hai kiến này

Người muốn được giải thoát

Chấp trước dục chẳng nên

Mau được chứng các địa.

Đức Phật bảo Bồ tát Phạm Âm rằng:

– Này thiện nam tử! Bồ tát sơ hành (Bồ tát mới hành đạo Bồ tát) trước phải vì họ nói có duyên tưởng tu hành sáu Ba la mật. Nếu có thể hiểu biết tánh của bốn đại chính là pháp sanh diệt thì nhiên hậu mới vì họ nói tất cả pháp chẳng thể ngôn thuyết không có tự tướng, chẳng sinh, chẳng diệt, không duyên, không sở hữu… tất cả các hạnh đều như vậy hết. Nếu có quan sát như vậy thì lìa khỏi đoạn, thường, cũng không sợ hãi. Đối với tất cả pháp không duyên, không xúc (chạm xúc) thì có thể mau thỏa mãn sáu Ba la mật, cũng chẳng chấp trước các kiến đoạn và thường nữa.

Do thần lực của Phật nên khiến cho những người đến hội ở đại chúng này thấy, nghe, hay, biết đều như trước.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền đưa tay phải lên, bảo đại chúng rằng:

– Bồ tát Hư Không Tạng, hôm nay từ cõi đó đến mà Bồ tát này thiền định như biển, tịnh giới như núi, trí như hư không, tinh tấn như gió, nhẫn như Kim cương, tuệ như Hằng sa. Bồ tát ấy là tràng của các Bồ tát, là thầy dẫn đường đến Niết bàn, là sông ao của thiện căn, là bình báu của người nghèo, là mặt trời trong tối tăm, là ánh trăng cho kẻ mất lối, là núi của người sợ hãi, là thuốc hay của người bệnh phiền não, làm sạch các nước kiến, tiêu diệt các ma oán giống như sương bị chớp trị, như thuốc an-xà-na của người phá giới, là đất của các căn lành, là vòng hoa trong các hoa, là gương soi người ác hạnh, là mắt của kẻ không xấu hổ, là thầy thuốc giỏi của người bệnh, là giường ngồi của kẻ mệt lười, là có thể làm sung túc sự đói rỗng như trời Thi Lợi có thể trừ khát khao, thiếu thốn như ngọc nguyết ái, soi người thiền định như ngọc Nhật ái, là xe của người hành đạo Bồ đề, là ao của người du hí thiền định, là hoa man của người tu pháp trợ đạo, là diệu quả của người làm những Ba la mật, là ngọc báu Như ý soi bậc Thập địa, che người trụ ở Thủ lăng nghiêm tam muội như cây Ba Lợi Chất Đa la, đoạn các kiến kết như dao bén, trừ khử tập khí như kim cương, có thể hàng phục trí ma oán như lửa mạnh. Thân Bồ tát ấy tức là pháp khí của chư Phật, vòng hoa đội đầu của Duyên giác, áo quần của Thanh văn, nhãn mục của chư thiên, chánh đạo của người, chỗ dựa của súc sinh, nơi về của ngã quỉ, nơi cứu hộ của địa ngục, pháp khí của chúng sinh, xe thuyền của Bồ tát, phụ tá của các đức Phật ba đời, giữ cửa thành pháp, đã có thể trang nghiêm mười tám pháp của Phật, đủ Nhất thiết trí. Tộc tính tử đó đáng được thọ sự cúng dường tối thắng của tất cả chúng sinh, chỉ trừ đức Như Lai. Các ông, những người đến hội đều nên đến gần, rồi tùy theo ý lực của mình mà cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, đem đủ thứ trân bảo, tràng phan, bảo cái, hương hoa, chuỗi ngọc… dọn sạch đường đi mà trang hoàng đẹp đẽ. Các ông chẳng bao lâu sẽ thành pháp khí như vậy.

Tất cả những chúng đến hội đều đứng dậy vòng tay, chắp tay hướng về phía Bồ tát Hư Không Tạng đến mà mừng vui kính lễ chiêm ngưỡng không chán.

Lúc bấy giờ, trong hội các vị Đại Bồ tát và Đại Thanh văn, vua trời, vua rồng, vua Dạ xoa, vua A tu la, vua Ca lâu la, vua Khẩn na la, vua Ma hâu la, các tiên ngũ thông… đều tác khởi ý niệm này: “Chúng ta sẽ dùng đồ cúng tối thắng gì để phụng hiến cúng dường tộc tính tử đó”. Bấy giờ, Đại Bồ tát Hư Không Tạng liền biến thế giới Ta Bà này không có núi đồi, đồng trống, gò đống, ngòi khe, khử trừ xú uế, gió bụi, tiếng ghê rợn, hóa sinh ra những cây bảy báu mà hoa trái phát ra hương thơm vi diệu, cỏ cây nương theo đất đều thành bảy báu, bệnh khổ sẵn có của tất cả chúng sinh và khổ của địa ngục đều trừ diệt hết. Quần áo đồ ăn, thức uống, những đồ trang nghiêm thì tùy ý người yêu cầu mà đầy đủ. Thân sắc của con người đoan chánh, các căn hoàn bị đầy đủ. Con người không có phiền não, lòng họ tịch tịnh, ưa tu thiện căn, thâm tín Tam Bảo. Những người đến hội thì mỗi một chúng sinh, trên hai tay đều có ngọc báu Như Ý. Mỗi một viên ngọc báu đều phát ra ánh sáng chiếu soi khắp cõi Ta bà, khiến cho khắp nơi sáng rỡ, phát ra đủ thứ âm thanh nhạc trời vi diệu, mưa xuống đủ thứ áo trời, chuỗi ngọc, hoa trái, hương Đa ma la bạt, hương Ngưu đầu chiên đàn và bột tạp hương… đựng đầy trong đồ đựng đẹp. Hai bên đường cõi ấy, Bồ tát hóa làm bảo đường giống như ngôi Tỳ Giả Diên Đường của Đế Thích. Trong đường ấy (nhà ấy) đều có thiên nữ đoan nghiêm như thể nữ thắng diệu của vua trời thứ sáu, tấu lên kỹ nhạc nhà trời. Bên trên đỉnh đức Thế Tôn, ở trong hư không, có bảo cái lớn, ngang dọc một trăm do tuần với mọi báu trang nghiêm như hoa cái của trời Phạm, xen lẫn vào là những màn lưới báu với sợi vàng, chân châu… Chúng đều phát ra âm nhạc. Đất sinh ra cỏ cây, hoa trái, cành lá cũng phát ra âm nhạc nhà trời. Những âm thanh ấy diễn nói sáu Ba la mật của pháp Đại thừa mà chúng sinh nghe thì đều được bất thoái chuyển Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đại chúng hội thấy Bồ tát Hư Không Tạng hiện đại trang nghiêm thì lòng sinh ra mừng vui, được chưa từng có, đều nói lên rằng:

– Chúng ta sẽ dùng vật gì, ở trước đức Thế Tôn, đặt bày pháp tòa để cho vị Tộc tính tử đó ngồi lên đây?

Bấy giờ, trước đức Phật có hoa sen lớn tự nhiên xuất hiện, ngang dọc mười dặm với bạch ngân làm thân, hoàng kim làm cánh, mã não làm đài, báu Phạm quang làm tua. Lại có hàng trăm ngàn hoa sen như vậy vây quanh. Ở trên hoa sen, Bồ tát Hư Không Tạng ngồi kiết già, trên đỉnh đầu có ngọc báu Như ý. Quyến thuộc đem theo của Bồ tát Hư Không Tạng đều ngồi ở trên những hoa sen vây quanh đó.

Lúc ấy, Bồ tát Di Lặc liền dùng kệ hỏi Bồ tát Dược Vương về việc từ trước đến nay các Bồ tát có danh tiếng lớn thì:

Trước lễ Phật Thế Tôn

Nhiên hậu mới tựu tọa

Đại sĩ này vừa sang

Hiện việc trang nghiêm diệu

Cũng chẳng lễ Thế Tôn

Liền ngang nhiên tựu tọa?

Bấy giờ, Đại Bồ tát Dược Vương dùng kệ đáp Đại Bồ tát Di Lặc rằng:

Nay Đại sĩ này sang

Đã trụ Phật thâm pháp

Chẳng thấy có chúng sanh

Thân mình chẳng phân biệt.

Bồ tát Di Lặc lại dùng kệ hỏi:

Nếu chẳng thấy chúng sanh

Ắt trụ ở thật tế

Vì sao hiện trang nghiêm

Nguyện đáp để quyết định?

Bồ tát Dược Vương lại dùng kệ đáp:

Bậc dũng mãnh phương tiện

Muốn thành tựu chúng sanh

Phàm ngu phân biệt hạnh

Chẳng giải nghĩa thật chân

Chỉ biết đến thế đế

Khổ vì chẳng đạt chân!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tộc tính tử rằng:

– Hay thay! Hay thay! Đúng như lời nói của ông! Tất cả kẻ phàm phu chẳng thể biết việc làm phương tiện và cả giải thoát của một Tu đà hoàn. Giả sử tất cả chúng sinh chính là Tu đà hoàn thì chẳng thể biết hành động phương tiện và cả giải thoát của một Tư đà hàm. Như Tư đà hàm, A na hàm, A la hán chẳng thể biết hành động phương tiện và cả giải thoát của một Bích Chi Phật. Tất cả chúng sinh đều là pháp-già-kiếp Bích Chi Phật chẳng thể biết hành động phương tiện thành tựu chúng sinh và cả giải thoát của một Đại Bồ tát Vô sanh pháp nhẫn. Tất cả chúng sinh đều là Bồ tát Vô sanh pháp nhẫn chẳng thể biết hành động phương tiện và cả giải thoát của một Đại Bồ tát được Thủ Lăng Nghiêm tam muội, các trí vô ngại, thông đạt đệ nhất nghĩa. Đại Bồ tát Hư Không Tạng này đã qua vô lượng vô biên kiếp được Vô sanh pháp nhẫn, các trí vô ngại, Thủ Lăng Nghiêm tam muội, thông đạt đệ nhất nghĩa nên có thể biết hết hành động và các phiền não trong lòng của những chúng đến hội này. Hoặc có chúng sinh thấy sự đại trang nghiêm vi diệu đều được trụ ở Ly dục địa. Vị Tộc tính tử đó ở chỗ kia biến mất mà hiện đến cõi này như Hư không thần thông trí tuệ tam muội khiến cho các chúng sinh sinh ra lòng lìa khỏi dục Nhiên hậu Bồ tát ấy lại hiện Thế đế trang nghiêm tam muội khiến cho vô lượng chúng sinh được thành tựu tam muội như vậy, chẳng cùng chung với Thanh văn, Bích Chi Phật. Nếu vị Tộc tính tử đó hiện Đệ nhất nghĩa vô sanh trang nghiêm thì tất cả người, trời… cho đến Bồ tát bát trụ đều sinh ra kinh nghi mà chẳng thể biết hành động, tướng mạo. Công đức Phật pháp thậm thâm như vậy. Vị Tộc tính tử đó dùng phương tiện trí, ở trong tất cả biển Phật, Pháp, Tăng, lòng không có nghi hoặc, chẳng nhờ người khác mà biết trong pháp bí mật của tất cả Đại Bồ tát. Giống như thắng tràng có thể bày thiện đạo của chúng sinh và đạo Niết bàn có thể trị tâm bệnh phiền não và cả thân bệnh của chúng sinh. Có các chúng sinh ở nơi đồng hoang sanh tử bị tà kiến mai một mà chẳng thể biết hướng đến thiện đạo và Niết bàn phương tiện thì thường nên xưng danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng trong thâm tâm, lễ bái cung kính, đốt hương A già lâu mà cúng dường. Vị Tộc tính tử đó nhìn thấy lòng ô nhiễm và cả phiền não của các chúng sinh ấy. Rồi tùy theo phiền não, các kiến ngu si và căn lành đời trước của họ mà Bồ tát điều phục lòng họ. Nếu họ ở chỗ Phật, chỗ Pháp, chỗ Tăng mà gieo trồng thiện căn, hoặc làm phước nghiệp bố thí, phước nghiệp trì giới, phước nghiệp tu định rồi theo sở ứng ấy, hoặc ở trong mơ, hoặc trong giấc ngủ Bồ tát ấy thường dùng đại phương tiện mà thị hiện chánh đạo cho họ. Do phương tiện chân chánh nên họ mau chóng lìa khỏi tà kiến, tà hạnh, tà nguyện, tà tâm, tà thú (thú hướng) khiến cho thân miệng ý của chúng sinh đó được chánh hạnh, chánh nguyện, thiện hữu, có thể mau chóng tiêu trừ phiền não dơ bẩn, lìa khỏi các đường ác, chẳng hoại thiện nhân, tâm được tự tại, trụ ở nhẫn thậm thâm. Nếu có chúng sinh, thân đủ thứ bệnh, tâm loạn điên cuồng, mắt chẳng thấy sắc, miệng chẳng thể nói, thân bị phân hoại thì phải đem thâm tâm xưng danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng, để được trừ bệnh nên đốt hương A gia lâu hay hương Đa già lâu, lễ bái cúng dường. Vị Tộc tính tử đó ở trong mơ của người ấy hiện ra hình dáng Phạm thiên hoặc hình dáng Đế Thích, hình dáng trời Thi La, hoặc hình dáng Tát la bà sa đế thiên, hoặc hình dáng Sát lợi, hoặc hình dáng đại thần, hoặc hình dáng cha mẹ, hoặc hình dáng trai gái… đứng ở trước người ấy, rồi tùy theo sở ứng của họ mà hiện phương thuốc và đồ vật họ cần, khiến cho người bệnh kia nhân đây tất cả bệnh diệt hết không còn. Nếu có người khuyên dẫn đường tìm của cải, người học hỏi cầu đa văn, người ngồi thiền cầu trí tuệ, người cầu danh dự, người cầu xảo thuật, người cầu tụ lạc, người cầu tôn quí, người cầu sắc lực, người cầu chủng tộc, người cầu âm thanh, người cầu con trai, con gái, quyến thuộc, người cầu bố thí, trì giới… cho đến trí tuệ, người cầu diệu âm thanh khiến cho chúng sinh ưa nghe, người muốn lìa khỏi ác, người muốn khiến cho người khác trụ ở bố thí… cho đến trụ ở trí tuệ, người muốn được trường thọ, người muốn được đồ tư sinh không mất, người muốn khiến cho người san lận tu xả hủy giới, muốn người trụ giới giải đãi tinh tấn, muốn người tà tuệ thành chánh tuệ, muốn người chưa trụ thừa trụ thừa, muốn người tự cầu thừa mà vì người khác cầu thừa, muốn người không có tâm đại bi chẳng tự vì thân chỉ vì chúng sinh… thì dùng phương tiện gì khiến chúng sinh này đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chẳng thoái chuyển, trụ ở đại phương tiện, bốn vô lượng tâm? Những chúng sinh đó nên phải lễ bái cung kính Bồ tát Hư Không Tạng, hoặc ở chỗ không nhàn, hoặc trong vườn rừng đốt hương Đa già lâu hay hương Ca-trà-a-đồ-la, chắp tay kính lễ hướng về mười phương. Lễ rồi người đó nên đọc chú này:

A đá điệt tha – A nhị lị thước – A nhị lị thước – Ca tăng nể ca (thượng) chá (thượng) La (thượng) Chá la tỳ (thượng) Chá (thượng) La (thượng) San chá (thượng) La ca tăng nể ca (thượng) Yết la (thượng) Ma la (thượng) Yết la (thượng) Ma la (thượng) Tỳ (thượng) Già (thượng) A li ma ma pháp (thượng) Bồ (thượng) Tăng xà (thượng) ma na (thượng) Ca tăng nể ca (thượng) Chơn đa ma uể xa la (thượng) Dạ ca tăng nể ca (thượng) ta (thượng) la (thượng) phan ta mê ta (thượng) tha bạt dạ – A hiền nha – A lị ta (thượng) măng cộng ta (thượng) Măng cộng hộ tăng để tỳ (thượng) Phệ già (thượng) cộng đề lị sắt tri (thượng) Phệ già (thượng) cộng ca tăng nhỉ ca liên lị dạ đỗ ma a ta dạ ta (thượng) La (thượng) phan bạt đà (thượng) chá (thượng) a (thượng) thâu ca (thượng) Già (thượng) để ta (thượng) bà ha.

Nếu có thể trì tụng chú này như vậy thì Tộc tính tử đó, hoặc hiện làm hình dáng người, hoặc hình dáng chim thú để hiện bày cho người ấy. Rồi tùy theo phước đức của người đó mà ông vì họ nói pháp, thị hiện một phương tiện. Dùng một phương tiện ông liền có thể khiến cho trăm ngàn na do tha chúng sinh đến trụ ở các thừa, hoặc trụ ở Thanh văn, Bích Chi Phật thừa. Dùng chút ít thời gian phương tiện ông khiến cho họ trụ ở Bất thoái chuyển Vô thượng Đại thừa, được đủ thứ tam muội, các Đà la ni, các nhẫn, các địa. Tộc tính tử đó có chẳng thể nghĩ bàn đại phương tiện trí thành tựu đại bi. Hoặc có chúng sinh có thể lường hư không, phân đều mà không thể lường đại phương tiện trí, đại từ, đại bi, thiền định tam muội lực thành tựu chúng sinh của Bồ tát Hư Không Tạng. Tộc tính tử đó thành tựu chẳng thể nghĩ bàn những công đức thiện như vậy. Nếu có chúng sinh mà lòng họ chất trực, không có dua nịnh quanh co, an trụ chánh kiến, chẳng tự cao, chẳng theo người khác, lìa khỏi san tham, tật đố, không có hư ngụy, lòng thanh tịnh thì Tộc tính tử đó khởi lòng thương xót dạy bảo khiến cho tinh tấn, bày phương tiến chánh khiến cho chúng sinh đó nhờ lực phương tiện tinh tấn đó nên lìa khỏi các suy hoạn, có thể phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hồi hướng tất cả căn lành về với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chẳng thoái chuyển. Do sức phương tiện tinh tấn này nên có thể đủ đầy khắp sáu Ba la mật. Siêng làm tinh tấn mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ tát Hư Không Tạng thành tựu chẳng thể nghĩ bàn công đức cầu hành tinh tấn thành tựu chúng sinh như vậy.

Lúc bấy giờ Bồ tát Di Lặc bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà chỉ riêng trên đỉnh của Tộc tính tử đó có ngọc báu Như Ý còn các Bồ tát khác thì không vậy?

Đức Phật bảo ngài Di Lặc rằng:

– Bồ tát Hư Không Tạng này đã thành tựu đại bi nên đối với những nguy khổ phạm căn bản tội, hướng đến đường ác, thiêu diệt căn lành thì tự hủy hoại. Bồ tát ấy đối với những chúng sinh này chính là đại lương dược (thuốc rất hay), với chúng sinh trụ ở đen tối là làm ánh sáng lớn giống như mặt trời chiếu soi. Nếu có chúng sinh phạm tội căn bản, mũi tên nghi cắm trong tâm, phá hoại pháp khí, mãi rơi rớt ném bỏ, chôn mất căn lành, nhất định rơi vào đường ác, không qui không y. Chẳng lẽ chúng sinh ác là đồ bỏ của người trí sao? Tộc tính tử đó có thể bày chánh đạo, trừ diệt phiền não, khiến cho họ lìa khỏi đường ác. Nếu có chúng sinh tham dục, sân nhuế, ngu si nhiều, nói rằng không có nhân quả, chẳng sợ đời sau, gom chứa không chán, thường làm tham lam, ganh ghét… cho đến chuyên làm mười nghiệp bất thiện, cũng dạy người khác làm thì Tộc tính tử đó giống như thuyền xe có thể thị hiện đường thiện và đường Niết bàn. Vậy nên Tộc tính tử đó đều ứng cúng dường của tất cả người trời trong thế gian chỉ trừ Như Lai.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Di Lặc bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Những gì là tội căn bản? Nếu có chúng sinh phạm tội căn bản bị thiêu diệt thiện căn, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc ném bỏ, lìa khỏi niềm vui người trời thì Tộc tính tử đó làm sao trừ tội để đem niềm vui thiện đạo và niềm vui Niết bàn sung túc vậy?

Đức Phật bảo ngài Di Lặc rằng:

– Vua Sát đế lợi có năm thứ tội căn bản. Nếu vua Sát đế lợi phạm tội này thì bị thiêu diệt căn lành, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc ném bỏ, lìa khỏi niềm vui người trời. Những gì là năm? Vua Sát đế lợi hoặc lấy vật của Phật, vật của Chiêu đề tăng, hoặc dạy người khác lấy thì đó gọi là tội đầu tiên. Chê bai pháp Thanh văn, chê bai pháp Bích Chi Phật, chê bai pháp Đại thừa, tạo tác lưu nạn, phủ che giấu kín. Đó là tội thứ hai. Nếu có người tín tâm xuất gia, cạo bỏ râu tóc, thân mặc áo nhuộm, hoặc có giữ giới hay chẳng giữ giới mà cởi cà sa người ấy, ép buộc hoàn tục, hoặc trói buộc, giam cầm, hoặc thêm đánh đập khổ sở, hoặc đoạn dứt mạng. Đó là tội thứ ba. Nếu tạo tác ngũ nghịch, giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp tăng, ác tâm làm chảy máu thân Phật. Với năm nghiệp này nếu tạo một nghiệp thì đó là tội thứ tư. Chê bai không có nhân quả, chẳng sợ đời sau, thường làm mười nghiệp bất thiện cũng dạy người khác làm, thân mình kiên trụ và dạy người khác kiên trụ ở mười nghiệp bất thiện. Đó là tội thứ năm. Nếu vua Sát đế lợi đối với năm tội này mà phạm một tội thì vua Sát đế lợi đó thiêu diệt căn lành, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc ném bỏ, lìa khỏi niềm vui người trời. Vị Tộc tính tử kia vì người đó nên ở ly xa (xe ly biệt) xuất hiện thân thọ sanh, hoặc làm hình dáng Sa môn uy nghi, hoặc làm hình dáng Bà la môn uy nghi mà vì vua Sát đế lợi nói về Nhất thiết trí, nói về Kinh Tu đa la thậm thâm chưa từng có, các Đà la ni, các nhẫn, các địa, khiến cho vua Sát đế lợi phát lồ sám hối, tu giới, nghe định tuệ, siêng hành tinh tấn, được sinh về xứ thiện. Đại thần phụ tướng có năm thứ tội căn bản. Những gì là năm? Đại thần phụ tướng nếu lấy vật của Phật, vật của Tăng thì đó là tội đầu tiên. Nếu phá hoại thành ấp, tụ lạc, hủy hoại nhân dân thì đó là tội thứ hai. Bài báng chính pháp như đã nói trên thì đó là tội thứ ba. Hủy hoại người xuất gia khiến cho họ khổ não như đã nói trên thì đó là tội thứ tư. Với năm nghiệp vô gián nếu tạo tác một nghiệp thì đó là tội thứ năm. Đại thần phụ tướng với năm tội này nếu phạm một tội thì như đã nói trên. Thanh văn đệ tử có năm thứ tội căn bản. Những gì là năm? Một là sát, hai là đạo, ba là dâm, bốn là vọng ngữ, năm là ác tâm làm chảy máu thân Phật. Thanh văn đệ tử với năm tội này nếu phạm một tội thì như đã nói trên. Sơ hành Bồ tát (Bồ tát mới tu hành) có tám thứ tội căn bản làm hủy hoại Đại thừa, thiêu diệt thiện căn, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc ném bỏ, lìa khỏi niềm vui người trời, ở lâu trong sinh tử, lìa khỏi thiện tri thức. Những gì là tám? Những chúng sinh này do ác hạnh nên sinh vào thế giới ngũ trược ác hiểm này, nhờ chút ít căn lành nên gần thiện tri thức được nghe Kinh điển Đại thừa thậm thâm. Người ấy trí cạn, thiện căn nhỏ nhoi, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Sơ hành Bồ tát nghe nói Kinh điển pháp không thậm thâm, theo đúng như điều nghe ấy thọ trì, đọc tụng, vì người nhận thức nông cạn, theo ý nghĩa nghe ấy mà diễn nói. Người đó nghe pháp lòng sinh kinh sợ, liền thoái lui Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phát tâm Thanh văn. Bồ tát sơ hành này đã phạm tội căn bản. Do phạm tội nên thiêu diệt căn lành, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc ném bỏ, lìa khỏi niềm vui nhân thiên và Niết bàn, hủy hoại tâm Bồ đề. Vậy nên Bồ tát cần phải trước biết tâm hạnh của chúng sinh rồi nhiên hậu dần dần theo thứ lớp mà vì họ nói pháp. Ví như người đi vào biển, từ cạn chuyển dần dần đến sâu. Vì hạng người này nên Bồ tát Hư Không Tạng thọ thân khắp nơi nơi khiến cho sơ hành Bồ tát tùy theo sự phạm tội, sợ đọa ác đạo, nếu nghe danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng, nghe rồi vui mừng muốn được nhìn thấy để sám hối tội đã phạm. Vào cuối đêm sơ hành Bồ tát mới đốt hương A già lâu hay hương Đa khư la, chắp tay, cung kính xưng danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng thì vị Tộc tính tử đó theo sở ứng của người kia hiện ra đủ thứ thân, hoặc hiện thân mình, hoặc hiện thân Phạm vương, Đế thích… cho đến hiện thân trai gái ở trước mặt người ấy, liền khiến cho sơ hành Bồ tát tùy theo sự phạm của mình mà sám hối trừ tội. Bồ tát Hư Không Tạng cũng lại vì người đó nói Đại thừa vô thượng, phương tiện thậm thâm, tam muội Đà la ni, các nhẫn, các địa, khiến cho người đó lìa khỏi đường ác kinh sợ, chẳng thoái lui Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phát khởi đại tinh tấn giống như Kim cương hành sáu Ba la mật, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ tát Hư Không Tạng nếu chẳng hiện thân thì nên phải cầu thỉnh trời A lâu na, nói lên như vầy: “Nam mô A lau na thiên thành tựu đại bi có uy thế lớn! Khi ngài xuất hiện, ánh sáng soi sáng khắp cõi Diêm Phù Đề, đồng thời soi vào thân tôi thì nguyện đem lời nói của tôi bạch với Bồ tát Hư Không Tạng rằng, cho tôi ở trong mơ được thấy ngài, để xin ngài thị hiện cho tôi phương tiện, khiến cho tôi sám hối trọng tội căn bản, được mắt thánh trí tuệ Đại thừa. Bây giờ cần phải nằm ngủ lại chỗ cũ cho đến khi trời A lâu na xuất hiện. Bồ tát Hư Không Tạng vì sơ hành Bồ tát ở trong mơ hiện thân, vì Bồ tát ấy nói với phương tiện đại trí, khiến cho Bồ tát ấy sám hối tội, cũng chẳng quên mất tâm Bồ đề, chứng được tam muội, kiên trụ ở Đại thừa, mau chóng đủ đầy sáu Ba la mật, chẳng bao lâu sẽ được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó gọi là tội thứ nhất của sơ hành Bồ tát.

Nếu sơ hành Bồ tát nói với chúng sinh rằng: “Ông đối với Đại thừa chẳng thể giỏi tu Bát nhã Ba la mật, cũng lại chẳng thể được thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác! Ông nên mau phát tâm Thanh văn, Bích Chi Phật thì ông có thể mau chóng được ra khỏi sinh tử”. Còn nói lời như trên thì đó gọi là tội thứ hai của sơ hành Bồ tát.

Lại nữa, nếu sơ hành Bồ tát nói với mọi người rằng: “Ông kiên trì ba la đề mộc xoa giới làm gì? Nên mau chóng phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đọc tụng Kinh Đại thừa. Nếu vì phiền não nên khởi lên nghiệp bất thiện của thân miệng ý thì nghiệp chẳng có gì, chúng đều sẽ trừ diệt chẳng chịu quả báo!” Còn lời nói như trên thì đó gọi là tội thứ ba của sơ hành Bồ tát.

Lại nữa, nếu sơ hành Bồ tát nói với chúng sinh rằng: “Này Tộc tính tử! Ông chẳng nên thính thọ Kinh pháp Thanh văn mà nên phải che giấu. Vì sao vậy? Vì Kinh đó chẳng thể khiến cho ông được quả báo lớn, đoạn trừ vĩnh viễn phiền não. Ông hãy nên thính thọ Kinh Đại thừa vì Kinh ấy khiến cho hành động ác của ông, tất cả bị tiêu diệt, mau chóng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Nếu chúng sinh đó nhận lấy tà kiến này thì phạm tội căn bản. Đó gọi là tội thứ tư của sơ hành Bồ tát.

Lại nữa, nếu sơ hành Bồ tát vì danh lợi nên đọc tụng giỏi nói kinh Đại thừa và nói như vầy: “Ta là người Đại thừa!” tự đề cao thân mình, hạ thấp người khác. Vì ganh ghét nên tự nói thân mình được pháp hơn người. Người này ở trong Đại thừa mà phạm trọng tội, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc, ném bỏ. Giống như có người muốn vào biển cả, tu sửa thuyền bè muốn đến chỗ báu. Giữa đường thuyền bị hư hoại, chôn thân mất mạng, sơ hành Bồ tát cũng lại như vậy, muốn vào Đại thừa, nhưng vì ganh ghét nên nói lời nói dối, phá hủy thuyền tin, đoạn dứt mạng trí tuệ. Ma ha la phàm tiểu Bồ tát đó phạm tội căn bản. Đó gọi là tội thứ năm của sơ hành Bồ tát.

Lại nữa, này tộc tánh tử! Trong đời vị lai sẽ có sơ hành Bồ tát xuất gia hay tại gia thọ trì đọc tụng nghĩa “không” thậm thâm, tam muội Đà la ni, các nhẫn, các địa, sở hạnh của bậc đại nhân, những việc trang nghiêm, Kinh điển Đại thừa mà tác khởi tâm như vầy để vì người khác giải nói các pháp này: “Chính ta đã chứng, nay vì đại bi nên ta vì ông giải nói! Ông nên tu tập! Ông cũng chẳng bao lâu đối với thâm pháp này sẽ tự chứng biết!” Người đó chẳng nói: “Ta chỉ đọc tụng thậm thâm pháp này, vì người khác giải nói mà thật chưa chứng” mà nói dối là thân mình được pháp sở chứng nhiều hơn biển cả của ba đời các đức Phật. Đại Bồ tát, các bậc hiền thánh. Giống như có người đi qua vùng khoáng dã bị đói khát bức bách rất mệt nhọc, thiếu thốn. Họ đi đến cây kia trong rừng cây tìm kiếm đồ ăn thức uống. Họ bỏ cây có quả ngọt đi đến cây độc, rồi ăn trái cây ấy, liền bị mạng chung. Ta nói người này cũng lại như vậy, họ được điều khó được, bản thân gặp thiện tri thức, gặp được pháp Đại thừa, nhưng vì tham lợi dưỡng nên hư dối tự đề cao mình, hạ thấp người khác. Người như vậy đã phạm tội căn bản, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc ném bỏ, là sự hèn hạ của người trí. Người này chẳng nên thân cận. Nếu Sát lợi, Bà la môn, tỳ xá, thủ đà la và những người trí mà thân cận thì đều phạm tội hết. Đó gọi là tội thứ sáu của sơ hành Bồ tát.

Lại nữa, này Tộc tính tử! Trong đời vị lai có vua Sát đế lợi chiên đà la, quốc sư, tể tướng, phụ tá đại thần chiên đà la, lại có kẻ ngu si tự cho là minh trí, khởi lên đại kiêu mạn. Những người như vậy giàu có nhiều của báu, tu hành rộng rãi đủ thứ phước nghiệp bố thí. Họ hành trì bố thí nên kiêu mạn, buông lung hướng về vua Sát lợi nói đủ thứ tội ác của các Sa môn, cũng hướng về Sa môn nói tội ác của vua. Chúng dựa vào lực vua khiển trách Sa môn để chiếm đoạt của cải. Các Tỳ kheo bị bọn chúng áp bức liền lấy vật của Phật, vật của chiêu đề tăng và vật của thân mình để mà cho chúng. Những chiên đà la được vật này rồi, chúng đem dâng lên vua. Những người như vậy đều phạm trọng tội. Đó gọi là tội thứ bảy.

Lại nữa, ở trong đời vị lai có quốc vương ác, Sa môn chiên đà la cho phi pháp chính là pháp, bỏ bỏ Kinh, Luật chánh giới, cũng lại chẳng nương vào đại ấn của hắc ấn, lời nói của thầy dẫn đường đại từ bi, giới Bát nhã Ba la mật và giới phương tiện khéo léo trong Kinh điển khác. Họ lại tạo tác dị pháp, làm ra những hạn chế mới để não loạn Tỳ kheo hành pháp. Vì não loạn nên Tỳ kheo chẳng thể tu tập hạnh quán và chỉ tức, học vấn vui làm mọi việc. Hành cái nghiệp này nên chẳng thể chế phục các kết phiền não, những Tỳ kheo này đã mất thiện tâm, lại phá uy nghi, hành động lười nhác, thật chẳng phải là Sa môn mà tự xưng là Sa môn, chẳng tu phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, không điều gì kỵ nạn cứ lớn tiếng nói bàn giống như đủ âm thanh, giỏi có thể nói pháp khiến cho vua sát lợi đại thần phụ tá cung kính cúng dường. Bọn chúng còn hướng về những người áo trắng (thế gian) nói đủ thứ lỗi xấu của hành pháp Tỳ kheo, khiến cho vua và đại thần dấy khởi lòng hiềm trách mà thu lấy đồ vật tư sinh của Tỳ kheo hành pháp, buộc Tỳ kheo quay về sống ở nhà. Người như vậy đều phạm tội nặng. Vì sao vậy? Vì Tỳ kheo thiền định chính là ruộng phước tốt, là pháp khí tam muội Đà la ni, pháp khí các nhẫn, pháp khí các địa, diễn nói chánh đạo có thể tạo ra sự soi sáng, độ thoát các nghiệp phiền não của chúng sinh. Phật vì sơ hành Bồ tát chẳng đủ pháp nên nói tám tội căn bản này. Bồ tát sơ hành đối với tám việc này, nếu phạm một tội thì Bồ tát sơ hành đó đã thiêu diệt các thiện căn, hướng đến đường ác, vĩnh viễn đọa lạc ném bỏ, lìa khỏi niềm vui người trời, hủy hoại tâm Bồ đề. Bồ tát Hư Không Tạng vì người đó nên ở các địa phương, hiện thân khắp nơi nơi. Bồ tát, hoặc hiện hình tướng uy nghi của Sa môn… cho đến hình tướng uy nghi của súc sinh mà rộng nói như Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Khắp nơi nơi Bồ tát vì các chúng sinh giải nói Kinh điển thậm thâm của Như Lai, tam muội Đà la ni, các nhẫn, các địa khiến cho Bồ tát sơ hành phạm tội không phương tiện tuệ đó, lòng phát sinh tàm quí, mang nỗi kinh sợ sâu sắc, phát lồ sám hối. Nếu các chúng sinh nghe danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng mà muốn được nhìn thấy để sám hối trọng tội, vĩnh viễn được trừ diệt nỗi sợ đường ác thì cần phải lễ kính xưng danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng. Tộc tính tử đó tùy theo phước lực của người ấy, hoặc hiện tự thân, hoặc hiện thân Phạm Vương, thân Đế Thích.. cho đến hiện thân trai, gái ở trước mặt người ấy khiến cho Bồ tát sơ hành đã phạm tội, được sám hối, cũng vì người ấy diễn nói phương tiện tam muội Đà la ni vô thượng Đại thừa thậm thâm, khiến cho người ấy kiên trụ ở các nhẫn, các địa, vĩnh viễn được xa lìa nỗi kinh sợ đường ác, đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà chẳng thoái chuyển, có sức đại tinh tấn dũng mãnh, tu hành sáu Ba la mật nhanh giống như ánh chớp, mau chóng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nếu Tộc tính tử đó chẳng vì họ hiện thân khiến cho được thấy thì Bồ tát sơ hành nếu phạm tội kia vào phần sau đêm, hướng về phương Đông, đốt hương lễ bái cầu thỉnh trời A Lâu Na, nói lên như vầy: “Nam mô A Lâu Na thiên thành tựu đại bi, có đại uy thế! Nếu khi ngài xuất hiện, ánh sáng chiếu sáng cõi Diêm Phù Đề, đồng thời chiếu vào thân tôi thì nguyện xin ngài đem lời nói của tôi bạch với ngài Bồ tát Đại Hư Không Tạng, khiến cho tôi ở trong mơ được thấy ngài để ngài bày cho tôi phương tiện khiến cho tôi sám hối tội căn bản, được mắt thánh trí tuệ Đại thừa”. Lúc ấy Bồ tát sơ hành cần phải nằm ngủ lại chỗ cũ, đến khi A Lâu Na xuất hiện thì Bồ tát Hư Không Tạng vì Bồ tát sơ hành, ở trong mơ hiện thân vì Bồ tát ấy nói phương tiện đại trí, khiến cho ông ấy sám hối tội lỗi mãi quên mất tâm Bồ đề mà chứng được tam muội, kiên trụ ở Đại thừa, mau đầy đủ sáu Ba la mật, chẳng bao lâu sẽ được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Do có đại công đức chẳng thể nghĩ bàn dũng mãnh tinh tấn như vậy nên trên đỉnh đầu Bồ tát Hư Không Tạng có ngọc báu Như ý này.

Lại nữa, Tộc tính tử! Nếu có chúng sinh nghe danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng mà vẽ hình tượng để cúng dường thì chỗ sinh sống của người ấy lửa chẳng thể đốt cháy, nước chẳng thể nhận chìm, binh đao chẳng hại độc, chẳng thể thương tổn, người cùng chẳng phải người không thể xâm hại, nhất định chẳng bị chết oan uổng, việc vua chẳng gia thêm, chẳng phạm tội nặng căn bản, không có bệnh tật, cũng chẳng chết đói. Lúc sắp mạng chung thậm chí mắt chẳng thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng nghe hương, lưỡi chẳng biết vị, thân chẳng giác xúc (chạm chẳng hay biết) chỉ còn có chút xíu hơi thở ra vào, thân còn lại chút xíu nhận thức thậm chí là chút nhận thức sau cùng thì Bồ tát Hư Không Tạng liền vì người ấy hiện thân. Nếu chúng sinh này trước thờ Phạm thiên thì hiện hình dáng Phạm thiên, trước thờ Ma vương, trời Na la diên, Ma ê thủ la, Thích đề hoàn nhân, Chuyển luân thánh vương, Nhật nguyệt thiên tử, Đề đầu lại tra cho đến Tỳ Sa môn vương… tùy theo việc phụng sự ấy mà Bồ tát Hư Không Tạng ở trước người đó thị hiện thân hình của vị ấy mà nói kệ rằng:

Bốn Thánh đế như vậy

Sở kiến người Tuệ Thông.

Vì biết đến sinh tử

Hay độ biển hữu tình.

Chúng sinh đó ở trong ý thức biết pháp này rồi đều sinh vào chỗ thiện. Nếu có chúng sinh tin kính Phật thì liền hiện ra thân Phật mà nói kệ rằng:

Chánh trí Phật thanh tịnh

Các biển hữu độ qua

Mau được chứng các địa

Tất cả khổ lìa xa.

Bấy giờ, chúng sinh nghe nói lời đó, suy nghĩ về công đức của Phật nên sau khi mạng chung, chỗ vãng sinh đến là đất nước thanh tịnh, không có năm trược, được diện kiến các đức Phật hiện tại đang nói pháp. Suy nghĩ về công đức pháp, suy nghĩ về công đức tăng cũng lại như vậy. Bồ tát Hư Không Tạng thành tựu như vậy chẳng thể nghĩ bàn công đức thậm thâm. Nếu có chúng sinh muốn được đủ thứ tâm tự tại thì vào phần sau đêm, nên tắm gội sạch sẽ, cung kính lễ bái Bồ tát Hư Không Tạng, đối với các chúng sinh dấy khởi lòng thương xót mà nói lên như vầy: “Nghĩ đến tôi! Nghĩ đến tôi! Có đại trí tuệ, được đại từ bi! Bồ tát Hư Không Tạng cho tôi niệm định phương tiện!” Rồi liền nói chú này:

Đát điệt tha hộ tăng nhiễu yết la (thượng) na (thượng) Khê bả xoa nhỉ lê tam mộ (thượng) – Đà la (thượng) phan đa lê đá na (thượng) dạ ma ha ca tăng nhỉ ca a (thượng) nỏ bả thiềm bà (thượng) tùng nhị lị để a (thượng) già (thượng) La (thượng) thiềm bà tùng nhi lị để phan xà (thượng) lam (thượng) thiềm bà (thượng) tùng nhị lị để yết lô thâu tùng nhị lị để a (thượng) na (thượng) ma tùng nhị lị để mãn đá câu tri tùng nhị lị để sa (thượng) bà ha.

Nếu trì tụng chú đó thì liền được vào niệm định phương tiện. Lại nữa, nếu muốn đọc tụng đủ thứ Kinh luận, hoặc lời nói của Phật, hoặc lời nói của đệ tử Phật thì nên tắm gội sạch sẽ, còn nói như trên, liền nói chú rằng:

Đát điệt tha a (thượng) nhỉ la (thượng) xà (thượng) ê cám bồ (thượng) sa xà (thượng) ê dạ phan na (thượng) xà (thượng) ê bả xoa ta (thượng) mê bả tra la (thượng) xà (thượng) sa sa (thượng) tha na (thượng) ta (thượng) la (thượng) đá la (thượng) ca (thượng) la hổ ma hổ ma ma ha ca tăng nhỉ ca ta (thượng) bà ha.

Nếu có người muốn vào biển cả, muốn vào hang tối tìm đồ trân quí lạ lùng, muốn uống thuốc tiên, hoặc có người bị trói buộc giam cầm, thọ hình phạt hay sắp chết, yêu mà biệt ly, oán ghét mà hội hợp, sợ binh đao nước lửa, bị uy hiếp của cọp sói, sư tử, rắn độc, đạo tặc, bị bệnh lâu dài… cho đến thiếu thốn đồ ăn thức uống thì phải lễ bái cung kính đại Bồ tát Hư Không Tạng, ngoài ra như trên. Nếu các vương tử muốn cầu ngôi vua, cầu trường thọ, cầu Bà la môn uy đức, cầu cư sĩ uy đức, cầu phương thuật tinh xảo, cầu danh tiếng, cầu dung mạo đoan chính, cầu tu định, cầu giải thoát… những chúng sinh như vậy nghe danh hiệu Bồ tát Hư Không Tạng thì vào phần sau đêm nên tắm gội sạch sẽ, mặc áo mới đẹp, lên trên tòa ngồi cao, chí tâm thỉnh cầu, nói lên như vầy: “Nam mô Hư Không Tạng Bồ tát! Bậc có đại bi cho con phước đức! Thỏa mãn chí nguyện của con!” Vị Tộc tính tử đó dùng thiên nhĩ nghe, rồi tùy theo phước lực của người ấy liền vì họ hiện thân. Vị Tộc tính tử đó có phương tiện đại trí chẳng thể nghĩ bàn như vậy với những công đức thiện đã qua biển cả Phật pháp thậm thâm. Này thiện nam tử! Hoặc có chúng sinh có thể tính được nước biển cả, biết được số giọt nước của biển ấy mà không có chúng sinh có thể lường được đại trí phương tiện thành tựu chúng sinh của Bồ tát Hư Không Tạng. Hoặc có chúng sinh có thể đo lường được vô lượng vô biên hư không phần tề mà không có chúng sinh có thể trù tính được đại Bồ tát Hư Không Tạng vì thành tựu chúng sinh nên đã hiện đủ thứ thân, hoặc hiện thân Phật, hoặc thân Bà la môn… cho đến thị hiện thân súc sinh hoặc ở khi ngủ hay ở trong mơ… cho đến chúng sinh sắp mạng chung còn chút ý thức sau cùng mà vì hiện thân để trừ bỏ ác nghiệp của người ấy, lìa khỏi nỗi sợ hãi đường ác, khiến họ trụ ở thiện đạo. Vị Tộc tính tử đó đã thành tựu chẳng thể nghĩ bàn các thiện công đức của phương tiện đại trí như vậy, đã qua biển cả Phật pháp thậm thâm. Vậy nên trên đỉnh đầu có ngọc báu Như Ý.

Lúc bấy giờ, những người đến hội trong đại chúng thấy việc chưa từng có của Đại Bồ tát Hư Không Tạng, đều tôn trọng chắp tay cung kính, dùng đủ thứ kệ tụng mà khen ngợi. Bấy giờ, Bồ tát Hư Không Tạng lễ dưới chân đức Phật mà bạch đức Phật rằng:

– Thưa đức Thế Tôn! Vì sao đức Như Lai có thể ở trong chúng sinh tối tăm vô minh của thế giới ngũ trược này mà làm Phật sự?

Đức Phật dạy rằng:

– Vị Tộc tính tử đó ví như hư không không nhiễm, không hoạn, không si. Tính ấy thanh tịnh nhưng vì nhân duyên gió, mưa, bụi bặm, sương móc nên chẳng thanh tịnh. Nếu nhân duyên ấy diệt thì thanh tịnh như cũ, liền thấy mặt trời, mặt trăng và tinh tú, biết được có khoảnh khắc giây lát sát na, thời gian ngày, đêm, năm tháng. Như vậy, này thiện nam tử! Như Lai đối với đệ nhất nghĩa không, tâm được tự tại. Do các chúng sinh bị khách trần phiền não làm ô nhiễm lòng của họ. Vậy nên Như Lai vì họ nói pháp khiến cho lòng ô nhiễm trở lại được thanh tịnh. Nếu có chúng sinh được gặp ánh sáng trí tuệ của Như Lai chiếu soi thì liền có thể sáng rõ, chứng biết Phật pháp thậm thâm. Như là bốn niệm xứ, tám phận Thánh đạo… cho đến an trụ ở mười tám pháp bất cộng, đại từ, đại bi, đại công đức, Nhất thiết chủng trí. Vậy nên liền có A la hán, Bích Chi Phật, Đại Bồ tát, các đức Phật Như Lai xuất hiện ở thế gian. Này thiện nam tử! Ý ông thế nào? Hư không nương vào nhãn (mắt) hay nương vào nhãn thức sinh ra xúc sao?

– Thưa đức Thế Tôn! Chẳng phải vậy!

– Ý ông thế nào? Hư không nương vào bên trong mắt duyên với xúc sinh ra ba thọ sao?

– Thưa đức Thế Tôn! Chẳng phải vậy!

– Tại, mũi, lưỡi, thân cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ý ông thế nào? Hư không nương vào ý hay nương vào ý thức vậy?

– Thưa đức Thế Tôn! Chẳng phải vậy!

– Này thiện nam tử! Ý ông thế nào? Chúng sinh nương vào hư không hay hư không nương vào chúng sinh vậy?

– Thưa đức Thế Tôn! Chẳng phải vậy! Chẳng đắp đổi chẳng nương vào nhau, đều không sở hành, tất cả các pháp cũng lại như vậy, không quán không hành, đồng một tính không, qui về tướng thật tế Như Như. Thưa đức Thế Tôn! Ví như hư không không phá, không hoại, không tính, không tướng, không có phân biệt, cũng không lay động, không chủng, không tử, không quả, không báo, không có tướng biến dị. Thưa đức Thế Tôn! Đại Bồ tát nếu có thể thuận theo quán tướng tất cả pháp như vậy thì đó gọi là ở trong pháp Vô sanh được Vô sanh pháp nhẫn.

Bồ tát Hư Không Tạng liền nói chú rằng:

Đá điệt tha bà (thượng) đàn đá bà (thượng) già bàn tệ phan la (thượng) xà (thượng) ma nỏ xoa dạ thị na (thượng) xà (thượng) dạ xà (thượng) na nhỉ ma đố nhỉ ha (thượng) la (thượng) a (thượng) na (thượng) dạ pha la (thượng) cù (thượng) pha già (thượng) la (thượng) bà nhỉ ma a (thượng) tỳ (thượng) na (thượng) dạ tác (thượng) phan thước (thượng) na (thượng) ma na (thượng) thước (thượng) đá đá ca (thượng) la (thượng) ma thước (thượng) ma ca (thượng) lợi ma đổ tỳ (thượng) sa sơ kha khước (thượng) ma lê đá na dạ kết lê thước (thượng) đổ tăng thâu trứu nhỉ ta (thượng) bà ha.

Đức Phật dạy rằng:

– Này Tộc tính tử! Hay thay! Hay thay! Ông có thể vì chúng sinh nói Đà la ni Ly cấu sư tử du bộ khư này khiến cho các chúng sinh lúc sắp mạng chung, ý thức sau cùng của họ lìa khỏi phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng, được vãng sanh cõi Phật thanh tịnh. Ông có thể ở tại khắp chỗ ở của nhân dân trong vô lượng vô biên đất nước, thành ấp, tụ lạc mà hiện đủ thứ hình tướng uy nghi của thân, vì các chúng sinh giải nói Kinh điển Đại thừa thậm thâm khiến cho vua Sát đế lợi chiên đà la và những người làm ác đạt đến được thiện pháp.

Bấy giờ, khi đức Thế Tôn nói pháp này thì vô lượng người, trời có được tam muội, được Đà la ni, được các nhẫn… cho đến trụ ở thập địa trí. Có mười ngàn chúng sinh được Vô sanh pháp nhẫn. Các Tỳ kheo tại hội, đại chúng trời, rồng và A tu la.v.v.. nghe lời đức Phật nói đều vui mừng làm lễ mà lui ra.