Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngoại Khoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngoại Khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Ý Trinh phổ biến bệnh Áp xe

ÁP XE: CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Áp xe nóng là ổ mủ cấp tính khởi phát từ một vết thương nhiễm khuẩn hay mụn nhọt, có các dấu hiệu viêm cấp như sưng, nóng, đỏ, đau. Áp xe lạnh là ổ “mủ” hình thành từ từ, không có dấu hiệu viêm cấp; phần lớn trường hợp do vi khuẩn lao gây nên.

1. Áp xe nóng
Hình thành áp xe:
Về nguyên tắt, khi vi trùng xâm nhập tấn công cơ thể các bạch cầu đến bao vây vi trùng, cytokin được tiết ra gọi các bạch cầu đa nhân đến gây nên phản ứng viêm, tạo nên một vùng Viêm tấy (Phlegmon) trong đó xẫy ra cuộc chiến đấu giữa Bạch cầu, với sự trợ lực của các hóa chất gây nóng (làm yếu vi trùng) với các vi trùng xâm nhập: Đây là giai đoạn “Viêm tấy”. Dấu hiệu đặc hiệu trong giai đoạn này là: “Sưng, Nóng, Đỏ, Đau”.

Trong cuộc chiến này, xác vi trùng, bạch cầu cùng tổ chức hoại tử (tế bào chung quanh bị tiêu hủy do độc tố của vi trùng) dồn lại trong một võ bọc dưới dạng “Mủ”. Võ bọc này có tác dụng  khu trú không cho vi trùng lan ra ngoài nhưng đồng thời không để cho bạch cầu xâm nhập vào trong, bên trong là mủ (bao gồm tổ chức hoại tử, một ít vi trùng, bạch cầu, không có mạch máu): Đây là giai đoạn “Áp xe”.
Sự phân biệt 2 giai đoạn này rất quan trọng: Triệu chứng và điều trị khác nhau tùy theo giai đoạn.

Giai đoạn “Viêm tấy”: Kéo dài 2-3 ngày với dấu hiệu viêm cấp là sưng, nóng, đỏ, đau. Bệnh nhân thường đau nặng nơi bị sưng nề kèm nổi hạch quanh vùng. Toàn thân mệt mỏi, nhức đầu, sốt 38-39 độ C. Trong giai đoạn này, chườm bằng gạc thấm cồn hâm nóng để giảm đau, dùng thuốc kháng sinh diệt tụ cầu, kháng viêm,  trong 3 - 5 ngày. Dưới tác động của thuốc cùng sự chiến đấu của cơ thể, phản ứng viêm giảm dần. Có 2 khuynh hướng diễn biến:
Vi trùng bị tiêu diệt, ổ nhiễm trùng giảm dần, tiến đến khỏi trong 5-7 ngày: Tiếp tục điều trị với Kháng sinh + Kháng viêm cho đến khi khỏi.
Ổ nhiểm trùng giảm viêm nhưng dần hình thành ổ mủ (do xác bạch cầu, vi trùng và tổ chức hoại tử): chuyển sang điều trị áp xe.

-  Giai đoạn “Áp xe”: Vùng giữa chỗ sưng nề mềm ra, ấn lõm, có dấu hiệu “ba động”(tỳ đầu ngón tay trỏ vào một bên thành áp xe, ấn khẽ phía bên kia sẽ có cảm giác như sóng vỗ ở đầu ngón tay trỏ). Khi có mủ, các dấu hiệu toàn thân sẽ giảm dần. Làm công thức máu sẽ thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Khi đã có mủ, phải chích rạch, tháo hết mủ, dẫn lưu, thay băng mỗi ngày, tiếp tục dùng kháng sinh.

2. Áp xe lạnh
Thường xuất phát từ các u (bướu) tuyến bả, hạch lao… nhuyễn hóa (hoại tử tổ chức bên trong). Trong tổ chức hoại tử không có vi trùng.
Thành phần cấu tạo của áp xe lạnh khác hẳn áp xe nóng: “mủ” trong áp xe lạnh như chất bã đậu, không có vi trùng, thành áp xe có những điểm vàng xám ăn vào tổ chức lành. Nếu bị vỡ, áp xe lạnh thành một ổ loét lâu lành.
Việc chẩn đoán áp xe lạnh dựa vào các dấu hiệu lâm sàng. Cần xét nghiệm xem có phải do lao hay không và chụp X-quang phổi để phát hiện tổn thương ở các bộ phận liên quan như ổ lao  nguyên phát ở phổi và màng phổi (gây áp xe lạnh thành ngực) hoặc ổ lao nguyên phát ở cột sống (gây áp xe lạnh cạnh cột sống).

Điều trị
- Tại chỗ: Rạch tháo “mủ” qua tổ chức lành. Điều trị nguyên nhân.
Hoặc cắt bỏ gọn cả khối áp xe. Khi áp xe đã vỡ thành lỗ rò, phải mở rộng nạo thành áp xe, để hở. Khi vết mổ sạch thì khâu da thì 2.
- Toàn thân: Điều trị nguyên nhân gây ra áp xe lạnh (như Lao)
BS Nguyễn Ngọc Hiền


Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017

Ý Trinh phổ biến các thuật ngữ chuyên khoa ngành y

Nội khoa :
    Nội khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến việc ngăn ngừa, chẩn đoán và điều trị các bệnh của cơ quan bên trong cơ thể, đặc biệt là ở người lớn.
    


    

Thuật ngữ “nội khoa” có nguồn gốc từ tiếng Đức innere medizin – một phương pháp điều trị phổ biến vào cuối thế kỷ 19, mô tả những bác sĩ kết hợp các thành tựu nghiên cứu trong phòng thí nghiệm với việc chăm sóc bệnh nhân. Nhiều bác sĩ người Mỹ đầu thế kỷ 20 đã học phương pháp này tại Đức và đem áp dụng tại Mỹ. 
    Chính ở đây, thuật ngữ này đã được địa phương hóa thành tiếng Anh là “internal medicine”.



    

Các chuyên ngành nội khoa bao gồm :
    Huyết học


    Nội tiết


    Hô hấp


    Tiết niệu


    Xương khớp


    Tiêu hoá


    Tim mạch


    Truyền nhiễm


    Ung bướu


    

Dị ứng 


    Miễn dịch học


    Nội tim mạch


    Nội tiết


    Khoa tiêu hóa
    

Lãob

Huyết học


    Bệnh lây nhiễm
    

Nội thận


    Nội ung bướu


    Khoa hô hấp


    Phong thấp


    


    

Ngoại khoa

 :

      

Các chuyên ngành nội khoa bao gồm :
    


    Ngoại tim mạch


    Ngoại lồng ngực


    Ngoại tiêu hóa


    Phẫu thuật mắt
    

Ngoại tổng quát


    Ngoại thần kinh
    

Phẫu thuật miệng & hàm mặt


    Ngoại chỉnh hình


    Phẫu thuật chi trên


    Tai mũi họng (y khoa)


    Ngoại nhi


    Phẫu thuật tạo hình
    

Phẫu thuật sinh dục


    Ung bướu ngoại khoa


    Ghép tạng


    Ngoại chấn thương


    Ngoại tiết niệu 


    Nam khoa

 Vascular surgery

    Ý Trinh sưu tầm

Ý Trinh phổ biến y học :Viêm Đường Tiết Niệu


Viêm đường tiết niệu là bệnh lý xảy ra tại đường tiết niệu. 
Bệnh có thể biến chứng gây nguy hại cho sức khỏe, tuy nhiên phần lớn bệnh nhân còn thiếu nhiều kiến thức về căn bệnh này. 
Bài viết sau đây trình bày về bệnh viêm đường tiết niệu và những điều cần biết.

BỆNH VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU LÀ GÌ?

Viêm đường tiết niệu là bệnh lý viêm nhiễm xảy ra ở đường tiết niệu, nguyên nhân là do vi khuẩn gây viêm nhiễm.
Tình trạng viêm nhiễm không đe dọa nghiêm trọng đến cuộc sống của người bệnh nhưng gây hiện tượng đau rát và khó chịu. 
Khi vi khuẩn có hiện tượng phản kháng lại các loại thuốc thông thường thì tình trạng sẽ trở nên đau đớn và khó chữa hơn.
Thực tế phụ nữ có tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Bệnh xảy ra ở trẻ gái nhiều hơn hẳn trẻ trai với con số tỷ lệ 5 : 1. Theo thống kê cho thấy có 20 – 40% phụ nữ đã từng mắc chứng bệnh này.

NHỮNG ĐỐI TƯỢNG DỄ BỊ VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Viêm đường tiết niệu có thể xảy ra đối với mọi lứa tuổi và mọi đối tượng như:
– Nữ giới có cấu tạo phần phụ phức tạp, niệu đạo có vị trí nằm gần với âm đạo vì thế tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ dàng xâm nhập
– Những ai có đời sống tình dục không lành mạnh, quan hệ với nhiều người và không có biện pháp bảo vệ khiến các virus gây bệnh xã hội xâm nhập.
– Bệnh nhân đang bị bệnh tiểu đường, sỏi đường tiết niệu, phì đại tuyến tiền liệt, sỏi thận, hẹp niệu đạo.
– Ngoài ra những đối tượng uống nhiều rượu, bia, ra nhiều mồ hôi,… cũng rất dễ mắc bệnh.
– Ở nữ giới mang thai, sự thay đổi cấu trúc xương chậu và bị mất nước.



NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng viêm đường tiết niệu ở nam và nữ giới, chủ yếu là do các thói quen sinh hoạt không tốt như sau:
– Do vi khuẩn E.coli: Là một vi khuẩn điển hình ở ruột gây ra. Có tới 70 – 75% trường hợp là do nhiễm khuẩn, vi khuẩn hay gặp nhất là E.coli – loại vi khuẩn điển hình trong đường ruột.
– Ngoài ra, còn có sự góp mặt của các vi khuẩn khác như: Klebsiella species, Proteus, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, nấm,…
– Quan hệ tình dục không lành mạnh, bừa bãi với người mắc bệnh xã hội như giang mai, lậu,…
– Thường xuyên nhịn tiểu lâu, kích ứng với  xà phòng, lotion, nước hoa, bao cao su hoặc bọt tránh thai.
– Vùng kín thường xuyên không được vệ sinh sạch sẽ.
– Vùng kín bị tổn thương do thủ dâm hoặc quan hệ tình dục mạnh bạo.
– Do sử dụng một số loại thuốc bị kích ứng hoặc chức năng thần kinh bị rối loạn.

TRIỆU CHỨNG BỆNH VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Viêm đường tiết niệu có những biểu hiện và triệu chứng giống nhau ở cả nam và nữ, dưới đây là những triệu chứng thường gặp:
– Người bệnh thường xuyên đi tiểu hoặc muốn đi tiểu, có cảm giác muốn đi vệ sinh liên tục nhưng mỗi lần lượng nước tiểu rất ít.
– Khi đi tiểu có cảm giác đau buốt, có cảm giác như kim châm giữa các lần đi vệ sinh.
– Đau vùng bụng dưới và lưng, nóng rát vùng bụng dưới.
– Tình trạng viêm nhiễm nặng lan tỏa đến thận và dạ con, gây ra các chứng như đau lưng, ớn lạnh, sốt, buồn nôn và nôn.
– Nước tiểu có màu khác khi đi tiểu khó khăn, tiểu rắt, bụng ậm ạch, khó chịu.

TÁC HẠI CỦA VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Tình trạng nhiễm trùng đường tiểu này nếu không được hỗ trợ chữa trị kịp thời sẽ gây ra nhiều tác hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống người bệnh. Một số nguy hại của bệnh có thể kể đến như:
– Viêm nhiễm lây lan ra bộ phận sinh dục gây đau, sưng ở dương vật, đồng thời có triệu chứng tiểu nhiều, tiểu buốt gây làm giảm chất lượng “đời sống chăn gối”.
– Khi các vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống bài tiết sẽ gây ra các bệnh ở niệu đạo, ống dẫn tinh, tinh hoàn, bàng quang,…
– Tình trạng viêm nhiễm kéo dài sẽ gây biến chứng nặng nề. Bệnh chuyển sang mãn tính và viêm nhiễm ngược dòng đến thận và có thể dẫn đến suy thận mãn tính.
– Viêm nhiễm lây lan đến bộ phận cổ tử cung, tử cung , tuyến tiền liệt, làm ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng lâu ngày sẽ dẫn đến vô sinh.
– Ngoài ra, bệnh còn khiến người bệnh giảm sút trầm trọng về mặt sức khỏe và tinh thần, luôn trong trạng thái mệt mỏi, lo lắng, bất an,…

PHƯƠNG PHÁP HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Theo Ý Trinh tìm hiểu và tham khảo, Ý Trinh nhận định rằng, việc hỗ trợ điều trị bệnh viêm đường tiết niệu cần tùy theo vị trí nhiễm khuẩn, mức độ nặng hay nhẹ, tính chất cấp tính hay mạn tính và chủng vi khuẩn gây bệnh mà có những chỉ định điều trị khác nhau.

– Viêm đường tiết niệu không hỗ trợ điều trị sớm sẽ làm suy giảm chức năng của bàng quang, thận ở cả nam giới và nữ giới. Cách điều trị thông thường đối với bệnh này là sử dụng kháng sinh diệt vi khuẩn.
– Đặc biệt là cần phải chữa trị dứt điểm và vệ sinh đúng cách nếu không bệnh tái phát lại sẽ nặng hơn và khó chữa hơn.
– Tuy nhiên, khi dùng kháng sinh trị bệnh cần lưu ý sử dụng đúng và đủ liều, đồng thời cần điều trị theo kháng sinh đồ, để tránh tình trạng vi khuẩn bị nhờn thuốc, gây hiện tượng kháng thuốc, bệnh dễ tái phát. Khi đã điều trị thì cần tuân thủ phác đồ điều trị cho đến khi khỏi bệnh, không bỏ dở giữa chừng.

 Trường hợp bệnh tái phát cần uống nhiều nước để đào thải bớt vi khuẩn, không nên cố nhịn tiểu, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục để tránh lây nhiễm, quan hệ tình dục an toàn để tránh mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
– Người bệnh nên có chế độ ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tránh sử dụng các đồ ăn nhanh, nhiều chất béo, đồ uống có ga, cồn, hay các chất kích thích.

 Ý Trinh sưu tầm