Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Liên Hoa Sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Liên Hoa Sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021
TU PHÁP CỦA NGÀI LIÊN HOA SINH
Cầu Khẩn Sức Mạnh Và Lòng Đại Bi Của Đức Padmasambhava
ཨོ་རྒྱན་ སྨན་བླ
Orgyen Menla
Guru of Medicine (Guru Rinpoche’s emantion as Medicine Buddha)
Đạo Sư là hóa thân của Dược sư
Tulku Thondup
Hãy quán tưởng rằng bạn đang ngồi ở một nơi cao ráo như một đỉnh núi, nhìn vào bầu trời trong xanh bao la. Thưởng thức cái nhìn trong vài phút, an trú trong sự rộng mở. Hình ảnh đang ở tại một điểm cao nâng tâm thức bạn lên trên sự ồn náo của mình. Bầu trời rộng mở làm sạch những hình ảnh, cảm xúc và tư tưởng ồn ào khỏi tâm bạn.
Từ sự rộng mở này, đầu tiên hình dung một chỗ ngồi trên hoa sen với những cánh hoa đẹp đẽ, sau đó là một đĩa mặt trời và phía trên nó là đĩa mặt trăng. Cuối cùng, Guru Rinpoche hiện ra rực rỡ.
Hãy cảm nhận sự an bình và ấm áp vô biên của bổn tôn rất thương yêu linh thánh này và an trú thoải mái trong những cảm nhận này một lúc. Hãy để sự sùng mộ tan vào trái tim bạn. Khi bạn đem tỉnh giác của bạn đến hình ảnh, hãy hoàn toàn hiến mình vào nó, không phải chỉ như một hình tướng do tâm thức bạn tạo ra, mà như là vị Guru thật sự và chữa lành, thuần khiết.
Bây giờ tưởng tượng toàn trái đất đầy những khuôn mặt hoan hỷ, những đôi mắt hạnh phúc tràn đầy những tấm lòng sùng mộ của tất cả các loại sinh linh. Tất cả đều nhìn chăm chú vào khuôn mặt thương yêu, đẹp đẽ và đầy sức mạnh của Ngài Guru Rinpoche, nguồn của tất cả sự chữa lành. Hãy tưởng tượng rằng bạn nghe tất cả họ cùng tụng thần chú trong cùng một giọng với một âm điệu dịu dàng và mạnh mẽ như sấm sét. Thần chú (mantra) là một lời cầu nguyện đến Ngài Guru Rinpoche, một phương tiện chữa lành cho những vấn đề của chúng ta, một biểu lộ hân hoan của những năng lực tinh thần và thân xác, một tôn vinh sự hiện diện của bậc thiêng liêng này, một sự thiền định về âm thanh thanh tịnh mà bản thân nó là bản tánh của nhất thể.
Từ những chiều sâu của lòng mình, hãy hát chân ngôn của Ngài Guru Rinpoche, hoặc một trong hai dạng dưới đây:
Trong âm Sanskrit được Tây Tạng hóa:
OM AH HUNG BEDZAR GURU PEMA SIDDHI HUNG
Trong Phạn ngữ (Sanskrit):
OṂ ĀḤ HŪṂ VAJRA GURU PADMA SIDDHI HŪṂ
Mật chú này có thể tạm dịch là: “Hiện thân của thân, ngữ, tâm của chư Phật, Ôi Padmasambhava, mong Ngài ban cho tất cả sự gia hộ ban phước.”
Như một kết quả của lời cầu nguyện và sự rộng mở là những tia sáng của ánh sáng ban phước nhiều màu sắc từ Guru Rinpoche chạm đến bạn đem đến sự ấm áp và rộng mở trong thân và tâm. Những ánh sáng này không chỉ đẹp đẽ, thanh tịnh mà còn là năng lực của sự an bình, ấm áp, phúc lạc và rỗng rang. Hãy để cảm nhận này thấm sâu vào bạn qua mỗi một lỗ chân lông và ngõ vào thân thể, xua tan tất cả lo nghĩ và phiền não, như ánh sáng mặt trời xua tan bóng tối. Hãy cảm nhận toàn thân bạn chuyển hóa thành ánh sáng và năng lượng chữa lành.
Lặp lại chân ngôn nhiều lần, đem toàn bộ con người bạn vào âm thanh. Hình dung rằng những lời cầu nguyện của bạn làm mở rộng tâm thức của tất cả chúng sanh vào niềm vui sùng mộ và ánh sáng từ Guru Rinpoche tỏa chiếu trong mọi hướng, xua tan tất cả đau khổ, phiền muộn và mê lầm. Tất cả chúng sanh được giải thoát trong một dàn đồng ca hùng lực. Lời hát tràn đầy vũ trụ, trở thành một trong âm thanh, ánh sáng và hoan hỷ.
Hãy hoan hỷ trong sự ấm áp và rộng mở này. Để cho tất cả ý niệm và cảm giác tan vào một đại dương của sự an bình sùng mộ, trong đó không có những phân biệt hay ranh giới, vượt trên đau khổ và kích động, xấu và tốt, đây và kia, anh và tôi, mà nơi đó tất cả là một và cùng như nhau.
Mặc dù mục đích cao hơn của sự thiền định này là chứng ngộ tâm linh, bạn cũng có thể thiền định về Đức Guru Padmasambhava như một nguồn sức mạnh cho sự chữa lành thông thường những vấn đề cảm xúc hay thân xác, bằng việc quán tưởng bất cứ dạng năng lượng chữa lành nào đều bắt nguồn từ hình ảnh, giống như tia sáng laser. Hoặc tưởng tượng cam lồ chữa lành từ cái bình của Ngài Guru Rinpoche chảy vào trong bạn, thoạt tiên tẩy sạch tất cả đau khổ của tâm thức, cảm xúc và thân thể, rồi làm tràn đầy toàn thân, tâm bạn với an bình và sức mạnh. Ngài Guru Rinpoche cũng có thể là nguồn năng lực trong các pháp thiền định có nhờ đến một người khác làm người chữa bệnh cho bạn.
Dù bất cứ sự quán tưởng nào, bạn có thể lặp lại nó thường xuyên trong một thời khóa nếu cảm thấy thoải mái. Khi bạn tụng ca hằng ngày, thỉnh thoảng đem cảm giác rộng mở của thiền định vào cuộc sống của bạn. Bạn có thể tụng ca chân ngôn lớn tiếng hoặc niệm thầm khi bạn ở nơi công cộng.
*Đánh Thức Những Năng Lực Vô Biên Bên Trong Của Sự Chữa Lành
Thở một hay hai hơi thở sâu, buông xả tất cả căng thẳng lo nghĩ và hưởng thụ cảm giác buông lỏng trong thân và tâm bạn. Sau đó từ từ và bình thản đi qua những bài tập sau đây trong vòng một hay hai phút cho mỗi bước.
1. Khi bạn thức giấc vào buổi sáng, hay bất cứ lúc nào trong ngày, hãy cảm nhận sự sùng mộ đến nguồn sức mạnh. (có thể là đức Phật, Guru Rinpoche, hay bất cứ nguồn sức mạnh nào khác.) Sự sùng tín đem đến ấm áp, hỷ lạc, sức
mạnh và rộng mở.
2. Hãy quán tưởng và cảm nhận trái tim bạn, trung tâm của thân bạn trong dạng một bông hoa ánh sáng lạ thường, nở rộ trong sự nhiệt thành sùng tín. Như một kết quả, từ đóa hoa lòng sùng tín đó khởi lên trí huệ, tâm bi, năng lực, và những phẩm tính giác ngộ của bạn trong dạng nguồn sức mạnh. Nguồn sức mạnh, trong dạng một thân ánh sáng với sức nóng và phúc lạc, bốc lên qua kinh mạch trung ương – một kinh mạch trống không được làm bởi ánh sáng trong suốt và thanh tịnh – của cơ thể bạn. Bấy giờ nguồn sức mạnh tô điểm bầu trời không vết nhơ và vô hạn, như thể hàng ngàn mặt trời khởi lên với một thân.
3. Hãy tin tưởng rằng nguồn sức mạnh là hiện thân của trí huệ, lòng bi và năng lực của tất cả những bậc linh thánh và của chân lý vũ trụ. Cảm nhận toàn thể thân và tâm bạn tràn đầy sức nóng, hỷ lạc, và năng lượng vô biên do ở trong sự hiện diện của nguồn sức mạnh.
4. Bấy giờ hãy thấy rằng toàn thể trái đất đầy những chúng sanh khác nhau. Trái tim họ tràn đầy sự sùng tín và khuôn mặt họ nở hoa với những nụ cười hoan hỷ. Cặp mắt mở rộng của họ chú mục vào nguồn sức mạnh với sự tán thán. Cùng với bạn, tất cả họ biểu lộ sức mạnh sùng tín trong lời cầu nguyện, ca hát một cách du dương với những âm vang khác nhau, giống như một bản giao hưởng vĩ đại. Hãy tụng ca lời cầu nguyện với sự tán thán lớn lao trong đó không có những giới hạn hay bó hẹp hạn chế nào.
5. Hát những lời cầu nguyện, tưởng tượng những lời cầu nguyện kêu cầu tâm bi của nguồn sức mạnh. Từ nguồn sức mạnh, trí huệ, lòng bi và sức mạnh của nó đến với bạn dưới dạng vô số tia sáng ban phước đầy màu sắc (hay những dòng cam lồ). Những tia sáng này chạm đến từng lỗ chân lông của thân bạn. Hãy cảm nhận sức nóng khi chúng tiếp xúc. Hãy cảm nhận bản tánh phúc lạc của sức nóng. Và cảm nhận sức mạnh của sức nóng phúc lạc này.
6. Sau đó những tia sáng đi vào trong thân bạn. Hãy quán tưởng và cảm nhận rằng tất cả những thói quen tiêu cực, những yếu đuối tinh thần, những xung đột phiền não, thiếu hài lòng, sợ hãi, những bệnh tật hay những bế tắc lưu thông hay năng lực của bạn đều ở trong dạng bóng tối trong cơ thể. Chỉ việc tiếp xúc với ánh sáng ban phước, tất cả bóng tối đều hoàn toàn tan biến, không còn bất cứ dấu vết nào trong thân và tâm bạn. Thân thể bạn tràn đầy ánh sáng rực rỡ lạ lùng, với cảm giác sức nóng, phúc lạc và sức mạnh. Sau đó thấy và cảm nhận rằng toàn thân bạn chuyển hóa thành thân ánh sáng ban phước. Hãy cảm thấy mỗi một tế bào trong thân bạn được chuyển hóa thành tế bào của ánh sáng ban phước với sức nóng, phúc lạc và sức mạnh.
7. Sau đó hãy nghĩ về một tế bào ở trán bạn (hay bất cứ nơi nào khác trong thân thể). Tế bào được làm bởi ánh sáng rực rỡ ban phước. Nó đẹp đẽ và bao la. Hãy đi vào tế bào một cách từ từ. Nó vô biên và vô hạn như bầu trời. Hãy cảm nhận sự bao la của tế bào trong một lúc.
8. Sau đó hãy thấy và cảm nhận thân bạn được cấu tạo bởi hàng tỷ tế bào bao la, đẹp đẽ và phúc lạc như vậy. Mỗi một tế bào được trang hoàng với sự hiện diện của nguồn sức mạnh.
Hãy nhận biết sự hiển bày và năng lực lạ lùng của thân thể kỳ diệu của bạn. Tất cả tế bào ở trong tình thương và hòa hợp với mỗi một tế bào khác. Cảm nhận sức mạnh của hàng tỷ tế bào phúc lạc trong thân bạn được trang hoàng bởi những nguồn sức mạnh.
9. Tất cả tế bào của những kinh mạch, bộ phận và cơ bắp của thân ánh sáng ban phước của bạn đang thở. Chúng đang thở bằng sức nóng và phúc lạc một cách rỗng rang và tự nhiên như những ngọn sóng của đại dương. Hãy cảm nhận sự chuyển động phúc lạc của những ngọn sóng. Những cơn sóng vuốt ve, thư giãn và hòa tan bất cứ nơi nào mà chúng ta bị chai cứng hay khó khăn, mọi bám trụ của những cảm xúc không giải quyết và những vết thương chưa lành với những vết tích của nó. Hãy cảm nhận hào quang của năng lượng. Hãy cảm thấy sự cảm nhận. Hãy là một với sự cảm nhận.
10. Rồi bạn có thể hát OM AH HUNG như một chuyển động chữa lành để phát sinh sức mạnh, sự rỗng rang và hợp nhất với chúng. Bạn có thể hát lớn, nhẹ nhàng, hay thầm lặng trong tâm trí bạn.
Khi bạn hát lặp lại chủng tự OM chậm chậm và liên tục, hãy nhận biết những làn sóng âm thanh vang dội mạnh mẽ như thế nào trong mỗi một tế bào, từ những dây thanh quản xuyên qua toàn thân bạn giống như những làn sóng của đại dương. Hãy vui thích trong sự cảm nhận năng lực và sức mạnh, những phẩm tính của thân Phật.
Khi hát chủng tự AH trong cùng một cách như vậy, hãy nhận biết những năng lực làm rỗng rang, giải phóng và làm nở rộ, những phẩm tánh của ngữ Phật.
Khi hát chủng tự HUNG, hãy nhận biết sự hòa nhập của bạn với sự hợp nhất của sức mạnh và rỗng rang, là sức mạnh vô biên, những phẩm tánh của tâm Phật.
11. Bạn cũng có thể kiết thủ ấn như những vận động chữa lành để phát sinh sức mạnh và rỗng rang rồi hợp nhất với chúng.
Rất chậm chạp và liên tục, nắm những ngón tay bạn thành kim cang quyền ấn đặt tại trái tim bạn (đặt đầu ngón tay cái vào dưới lóng thứ ba của ngón đeo nhẫn, sau đó ngón giữa và ngón đeo nhẫn nắm lại đè trên ngón cái, ngón trỏ và ngón út duỗi ra ngửa mặt lên). Đặt bàn chân bạn tại điểm nối giữa hông và đùi. Hãy nhận biết sự vận động vang dội liên tiếp từ mỗi một tế bào của bàn tay qua thân bạn giống như dòng chảy của một con sông. Hãy hoan hỷ trong sự cảm nhận năng lực và sức mạnh là những phẩm tính của thân Phật.
Trong cùng một cách, tạo một cử chỉ hoa nở tại trái tim bạn. Giữ nắm tay hướng lên, mở những ngón tay (từng ngón một, bắt đầu từ ngón út) và mở rộng bàn tay và cánh tay và nhận biết cảm giác hoan hỷ của sự rộng mở, giải thoát và nở hoa, những phẩm tánh của ngữ Phật.
Kiết ấn thiền định, đặt hai lòng bàn tay ngửa lên trong lòng bạn, bàn tay phải trên bàn tay trái, hai đầu ngón cái vừa chạm nhau, và hãy nhận biết sự tự hòa tan mình với sự hợp nhất của rộng mở và sức mạnh, là sức mạnh vô biên, những phẩm tánh của tâm Phật.
Bạn cũng có thể thực hiện những thủ ấn (cử chỉ) này trong lúc tụng ca OM, AH VÀ HUNG.
12. Bạn có thể thấy hào quang bao la lạ lùng của ánh sáng ban phước sáng ngời tràn đầy sức mạnh năng lực chung quanh thân bạn. Đó là hào quang bảo hộ ngăn ngừa bất cứ tác động tiêu cực nào xảy đến. Đó cũng có thể là hào quang của sự chuyển biến khiến chuyển hóa mọi thứ trong hào quang năng lực thành ánh sáng ban phước, giống như những bông tuyết rơi vào nước nóng.
Hãy chia sẻ những ban phước với tất cả những chúng sanh đã từng là mẹ ta.
Trích: Năng Lực Chữa Lành Của Tâm
Tulku Thondup
Dịch: Tuệ Pháp
Nhà Xuất Bản Liên Phật Hội
Ý Nghĩa Bản Tôn LIÊN HOA SINH
Ý Nghĩa Bản Tôn
Kyabje Khamtrul Rinpoche
Khi bạn nhìn thấy một Bản tôn phẫn nộ hay Bản tôn an bình thì hoàn toàn không có nghĩa là Bản tôn đó an bình hay giận dữ. Các Bản tôn khác nhau biểu trưng cho các xúc tình khác nhau của chúng sinh. Vì con người có vô số xúc tình phiền não khác nhau nên các Bản tôn cũng như vậy, các Ngài có vô số hình tướng khác nhau. Thế nhưng rốt cuộc chúng ta phải hiểu rằng mỗi xúc tình, mỗi hiện tượng xét từ quan kiến Đại Thừa, đều phải được hiểu là tính Không. Như vậy, tính Không là gì? Trong Đại Thừa chúng ta nói tính Không là Pháp thân, Pháp thân chính là Phật. Vì thế nên chúng ta cũng nói rằng Phật tính chính là tính Không. Như vậy nói tóm lại, các vị Bản tôn khác nhau biểu trưng cho các xúc tình khác nhau của chúng ta. Những xúc tình này được nhận diện và chuyển hóa sẽ biến thành các Đức Phật Bản tôn. Chẳng hạn, khi được nhận ra, sân giận sẽ chuyển hóa thành một vị Phật trong hình tướng phẫn nộ. Khi tham muốn chuyển hóa thành thì sẽ trở thành một vị Phật hoan hỷ, an lạc…
Các Bản tôn hợp nhất là tượng trưng cho đại lạc và tính Không bất khả phân, hoặc chúng ta có thể gọi đó là phương tiện và trí tuệ. Nếu điều này quá khó hiểu thì bạn cũng có thể sử dụng những từ ngữ sử dụng trong Đại Thừa. Chẳng hạn như trong Đại Thừa chúng ta có sáu Ba la mật, năm Ba la mật đầu là phương tiện, còn Bát Nhã Ba La Mật là trí tuệ. Như vậy bạn có thể nói rằng sự thực hành cần đi liền với hợp nhất, hoặc ngay trong các sự vật hiện tượng (vạn pháp) cũng vậy, cho dù có tồn tại song vẫn có tính Không đi kèm, giống như hình ảnh trong gương. Như vậy để nói rằng ngay bên ngoài cũng có sự hợp nhất giữa Mẫu tính tượng trưng cho tính Không và Phụ tính tượng trưng cho Từ bi hoặc chính là sự hiện hữu.
Ngay lúc bạn có xúc tình thì như vậy là bạn đang thực hành không đúng pháp. Khi đang quán tưởng một Bản tôn an bình, bạn không được có khái niệm rằng mình là một Bản tôn an bình, mình là một vị Phật đang mỉm cười hoan hỷ. Hoặc khi thực hành một Bản tôn phẫn nộ, bạn cũng không thể nghĩ: “Giờ thì tôi là một Bản tôn phẫn nộ”. Bạn không thể có những xúc tình như vậy vì điều quan trọng ở đây là chúng ta đang cố gắng hiểu ra rằng sự hiền hòa hay phẫn nộ cũng đều là trí tuệ, tất cả đều là tính Không. Như vậy xét từ phương diện thực hành, bạn có tiếp cận theo cách nào thì cũng giống nhau. Sắc thân phải là sự hợp nhất bất khả phân của sự vật hiện tượng và tính Không. Khẩu (lời nói) phải giống như tiếng vang vọng, sự tồn tại và tính Không là không thể tách rời. Ý cũng như vậy, bất cứ xúc tình nào khởi phát, bạn chỉ cần nhận biết rồi để cho tan biến vào tự tính tự nhiên. Sự thực hành này áp dụng cho tất cả các thực hành Bản tôn.
Thông thường đối với hành giả mới tu tập, tốt nhất là nên chọn một Bản tôn an bình để thực hành. Bản tôn phẫn nộ không thích hợp cho hành giả mới tu tập, đặc biệt đối với Phật tử Việt Nam. Tôi nghĩ là chưa phù hợp do có thể dễ gây ra hiểu nhầm. Trong quá khứ, có nhiều hành giả cũng từng tu tập Bản tôn phẫn nộ nhưng lại thiếu sự hiểu biết thấu đáo. Chẳng hạn như khi bạn quán tưởng Bản tôn, nếu có lòng tin rằng mình là Bản tôn theo kiểu: “Tôi, pháp danh Vô Úy, là một Bản tôn phẫn nộ”, thì rồi Bản tôn trong sự quán tưởng của bạn sẽ trở thành một vị thần Bản địa, một Bản tôn thông thường. Ngay ở Tây Tạng và Bhutan, cũng có nhiều người lạm dụng những vị Bản tôn để thực hành tà pháp. Họ quán tưởng Bản tôn, nhưng họ lại tin tưởng chắc chắn rằng Bản tôn ấy thực sự tồn tại ở bên ngoài, hoặc “tôi là Bản tôn”, rồi thế là sự quán tưởng trở thành một vị thần phàm tục.
Chính vì vậy nên chúng ta vẫn thường nhắc đi nhắc lại rằng khi bạn quán tưởng tự thân mình là Đức Avalokiteshvara (Quán Thế Âm), như thế không có nghĩa là bạn tự nhủ: “Tôi, pháp danh Vô Úy, biến thành Avalokiteshvara”. Thay vì thế, bạn cần phải có được sự thấu hiểu rằng từ vô thủy tới nay, Phật tính của tôi hoặc tự tính tâm không tạo tác của tôi vẫn luôn là Avalokiteshvara, vẫn luôn là Varjavarahi (Kim Cương Hợi Mẫu, một hiện thân khác của Vajra Yogini – Kim Cương Thánh Mẫu), và sự hiểu biết này sẽ được chuyển hóa hoặc hiện thân thành Avalokiteshvara. Đó chính là lý do vì sao mà chúng ta cần quán tưởng hòa tan. Avalokiteshvara hòa tan vào trong chân ngôn và tất cả hòa tan vào tự tính tâm của bạn. Mọi thứ bắt nguồn từ tính Không và quay trở về hòa nhập với tính Không. Khi chúng ta có niềm tin rằng mình là Bản tôn này hay Bản tôn kia, thì niềm tin đó không phải là chúng ta nay là Bản tôn này, mà phải được hiểu là từ nguyên thủy tới nay tâm không tạo tác của ta vốn là Avalokiteshvara. Bạn không nên giữ tâm nhị nguyên với khái niệm “Tôi là thế này hay thế kia” bởi thực hành như vậy là không đúng.
Còn về phần cúng dường, nếu bạn không tu theo nghi quỹ Mật Thừa và chưa thụ nhận quán đỉnh mà chỉ muốn thực hành pháp cúng dường thông thường, thí dụ pháp thực hành Liên Hoa Sinh, bạn chỉ cần quán tưởng mình vẫn đang là một người bình thường rồi đức Liên Hoa Sinh hiện ra trước mặt bạn. Sau đó khi bạn đang trì chân ngôn, và khi tính tâm khởi phát từ tâm bạn, ánh sáng sẽ phát ra và sẽ biến thành quả, hoa hoặc bất cứ phẩm vật cúng dường nào đó để dâng lên đức Liên Hoa Sinh. Bạn có thể quán tưởng như vậy và đó cũng là cúng dường. Ánh sáng đó cũng có thể biến thành lời triệu thỉnh và cầu nguyện. Và cuối cùng, khi ánh sáng đó quay trở lại hòa nhập vào bạn và hữu tình chúng sinh thì đó sẽ là sự gia trì, tịnh hóa và viên mãn sở nguyện.
Trong khi quán tưởng, chẳng hạn quán tưởng Thượng sư Liên Hoa Sinh hay Tara Độ Mẫu trước mặt, bạn cần hiểu rằng có Đức Liên Hoa Sinh bên ngoài, bên trong và bí mật. Thượng sư Liên Hoa Sinh bên ngoài có thể là bậc Căn bản Thượng sư của chúng ta. Thượng sư Liên Hoa Sinh bên trong có thể là trong Báo thân ở cõi Tịnh độ. Thượng sư Liên Hoa Sinh bí mật chính là tự tính, là trạng thái không tạo tác của vạn pháp, bao gồm cả tự tính tâm của chúng ta. Vì thế chúng ta cần phải quán tưởng Sắc tướng của Bản tôn giống như bóng trăng phản chiếu trên mặt nước; Khẩu giống như tiếng vang vọng; Tâm phải tràn ngập trí tuệ bất nhị. Đối với hành giả mới bắt đầu tu tập thì điều này rất khó, vì vậy bạn chỉ cần quán tưởng Thượng sư Liên Hoa Sinh đang thực sự hiện thân phía trước bạn, rồi bạn bắt đầu trì tụng lời cầu nguyện. Ở mức độ hành giả mới thực hành thì được như vậy là rất tốt rồi, dần dần từng chút một, nếu biết kiên trì trên con đường tu tập, mọi thứ sẽ được trưởng dưỡng nơi bạn. Trên thực tế, bậc Thầy có thể khai thị cho bạn về tính Không của Sắc thân nhưng bạn sẽ chỉ thực sự thực chứng được điều này nhờ vào sự thực hành của chính mình.
Trích: Bản Tôn Chân Ngôn Trí Tuệ Kim Cương Thừa
Tác giả: Kyabje Khamtrul Rinpoche
Người dịch: Vô Úy
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2012.
8 Hóa Thân Đức Liên Hoa Sanh Guru Rinpoche
8 Hóa Thân Đức Liên Hoa Sanh Guru Rinpoche
Tóm Tắt Nội Dung
Đức Kim Cương Thượng Sư Liên Hoa Sinh
8 Hóa Thân Đức Liên Hoa Sinh
Đức Liên Hoa Sinh Có Bao Nhiêu Hóa thân?
Phụ Lục
Guru Rinpoche – Đức Liên Hoa Sinh có vô số hóa thân với các công hạnh khác nhau để mang sự giải thoát cho chúng sinh. Trong số đó, có 8 Hóa thân với các công hạnh chính của Ngài được người dân Himalaya tán thán và tưởng nhớ qua các giáo pháp cũng như qua Vũ điệu Tám Hóa thân Liên Hoa Sinh Sinh và thần chú Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siddhi Hum.
Đức Kim Cương Thượng Sư Liên Hoa Sinh
Vì muốn độ hữu tình chúng sinh phát sinh chính tín và nhanh chóng đạt đến quả vị Phật nên Ngài thị hiện ở thế giới Ta bà với danh hiệu là Pema Jung Ne. Thượng sư Liên Hoa Sinh có rất nhiều hoá thân, như ba hoá thân, tám hoá thân hoặc một trăm hoá thân…, song tựu chung, Ngài là hiện thân tinh túy của tất cả mười phương chư Phật, Bồ tát, Không hành, Hộ pháp.
Thông qua sự thực hành pháp Guru Padmasambhava, chúng ta thực hành pháp của tất cả chư Phật, chư Bồ tát cùng một lúc. Bởi vậy chúng ta hãy nương theo Ngài – một bậc Thượng sư đã chứng đạt giác ngộ tối thượng.
Đức Liên Hoa Sinh để lại dấu ấm sâu đậm trong lịch sử Phật giáo, Ngài có công lớn trong việc hoằng truyền giáo pháp Kim Cương Thừa trên khắp dải Himalaya, để lại vô số bí lục về các phép tu học hành trì. Tương truyền Ngài đản sinh từ hoa sen nơi hồ Liên Hoa, tại miền linh địa Orgyen (Ô-trượng-na).
Sinh thời, Ngài thường sử dụng năng lực thần thông, chân ngôn để nhiếp phục ma quái. Vào thời đó người dân phần lớn đều theo đạo Bon, là tôn giáo thờ các vị địa thần, thần núi, thần sông, ma quái, kết bạn với họ và cũng sử dụng họ như âm binh. Dựa trên tâm lý này, Liên Hoa Sinh thi triển thần thông nhiếp phục các lực lượng này và thậm chí đưa các vị thần này về với chính pháp, cho họ có một chỗ đứng trong hệ thống Phật giáo.
Người dân vùng Himalaya đối với Ngài rất sùng kính nên tránh gọi huý danh Ngài mà tôn sưng là Guru Rinpoche với ý nghĩa: Đấng Thượng Sư vô cùng Quý Báu. Cùng với công hạnh điều phục ma quỷ, hoằng truyền giáo pháp Mật thừa, Ngài có có những đại thiện hạnh như kiến lập tự viện Samye, trước tác nhiều pho tàng giáo pháp. 25 Đệ tử của Ngài đều là những bậc thành tựu giả trứ danh, trong đó đại đệ tử nổi tiếng nhất là nữ hành giả Yeshe Tsog-yel.
Cuộc đời Đức Liên Hoa Sinh được phủ bằng một tấm màn huyền thoại và điều đáng chú ý là người dân vùng Himalaya vẫn xem Ngài như còn hiện diện đâu đó, thiền định trong hang động thiêng và thực hiện công hạnh độ sinh. Hiện còn nhiều thánh địa để lại dấu tích trải nghiệm tu tập chứng ngộ của Ngài trên vùng núi tuyết Himalaya. Pháp tướng của Ngài tuỳ theo sự nghiệp độ sinh mà biến hoá vô cùng.
Cho nên các hiển thị hóa thân của Ngài từ khế ấn, tư thế, vẻ mặt, tư thế, đơn tôn hoặc song tôn, tướng đồng tử, tướng thanh niên, tướng nửa hiền nửa Phẫn nộ, tướng vô cùng phẫn lộ rất đa dạng. Tu tập là có cơ hội để tích lũy công đức. Pháp tu Liên Hoa Sinh là pháp tu vô cùng thù thắng. Đức Liên Hoa Sinh đã từng dạy:
Thành tựu Ta tức là thành tựu hết thảy chư Phật;
Thấy Ta tức là thấy hết thảy Như Lai.
8 Hóa Thân Đức Liên Hoa Sinh
1.Guru Tsokye Dorje – Đạo Sư Hồ Sinh Kim Cương
2. Guru Shakya Sengé – Đạo Sư Thích Ca Sư Tử
3. Guru Nyima Özer – Đạo Sư Nhật Quang
4. Guru Padmasambhava – Đạo Sư Liên Hoa Sinh
5. Guru Loden Choksé – Đạo Sư Thánh Chủng Trí
6. Guru Pema Gyalpo – Đạo Sư Liên Hoa Vương
7. Guru Sengé Dradrok – Đạo Sư Sư Tử Hống
8. Guru Dorje Drolö – Đạo Sư Kim Cương Drolo
HÌNH TƯỢNG :
1.Guru Tsokye Dorje – Đạo Sư Hồ Sinh Kim Cương
Một trong những điểm đặc biệt trong hình tướng an bình này của Guru Rinpoche là Ngài cầm chày kim cương ở ngực. Ở vùng Tây Bắc xứ Oddiyana, trên một hòn đảo giữa hồ Dhanakosha, ân phước gia trì của tất cả chư Phật mang hình tướng của một bông sen nhiều màu sắc.
Với lòng bi mẫn trước khổ đau của hữu tình chúng sinh, từ tim, Phật Vô Lượng Quang phóng chày kim cương vàng, đánh dấu bằng chủng tự HRIH, giáng xuống bông sen nở. Bông hoa biến thành một đứa bé tám tuổi vô cùng đẹp đẽ.
Khi Guru Rinpoche sinh ra trong bông sen giữa hồ nước, chư Không Hành Nữ cầu khẩn đến Ngài từ sâu thẳm trái tim và tiếng gọi của chư vị tự nhiên trở thành thần chú Kim Cương Thượng Sư.
Đó là tâm chú của Ngài, sinh lực của Ngài, tinh túy tâm yếu của Ngài và trì tụng thần chú này chính là cầu khẩn đến Ngài. Ngài được biết đến là Tsokye Dorje – Hồ Sinh Kim Cương.
2. Guru Shakya Sengé – Đạo Sư Thích Ca Sư Tử
Trong hình tướng này, Ngài là một vị Phật đắp y áo tu sĩ, cầm bát khất thực trong tay trái và chày kim cương trong tay phải.
Tại Kim Cương Tòa ở Bồ Đề Đạo Tràng, Guru Rinpoche đã hiển bày các thần thông, thừa nhận rằng Ngài là một vị Phật tự hóa hiện. Mặc dù là một vị Phật hoàn toàn giác ngộ, Ngài xuất hiện trong hình tướng Hóa thân để điều phục và giảng dạy chúng sinh trong thời đại này.
Vì lợi lạc của họ, Ngài hành xử như thể đang thọ nhận giáo lý, hoàn thành các Pháp tu và trải qua nhiều giai đoạn chứng ngộ tâm linh khác nhau, từng bước một.
Ngài đã thọ giới xuất gia từ Đại Sư Prabhahasti ở Zahor và được ban danh hiệu Shakya Senge – Thích Ca Sư Tử.
3. Guru Nyima Özer – Đạo Sư Nhật Quang
Guru Rinpoche hiển bày là vô số thành tựu giả vĩ đại, chẳng hạn Saroruha – vị đạo sư phát lộ Mật điển Hevajra – cũng như Saraha, Dombi Heruka, Virupa và Krishnacharin. Đạo Sư Nhật Quang liên quan đến nhiều kinh nghiệm và chứng ngộ tâm linh huyền bí.
Ngài du hành rộng khắp, viếng thăm tám nghĩa địa vĩ đại, 32 địa điểm năng lực chính yếu, các vùng đất hoang dã và thậm chí những thành phố.
Đạo Sư Nhật Quang khám phá ra những bí mật trong cấu trúc bên trong của thân-tâm nhờ kiến thức trực tiếp về khí, minh điểm và kinh mạch (Lung, Thigle và Tsa), điều chín muồi cùng với sự chứng ngộ trí tuệ nguyên sơ. Mọi kinh nghiệm đều được phản ánh trong ba yếu tố mang tính động lực này.
Tại các nghĩa địa như Kuladzokpa – Hoàn Thiện Trong Thân, Ngài giảng dạy Mật Pháp cho chư Không Hành Nữ và khiến các tinh linh bên ngoài và trong trở thành những vị bảo vệ Giáo Pháp. Khi ấy, Ngài được biết đến là Nyima Ozer – Nhật Quang.
4. Guru Padmasambhava – Đạo Sư Liên Hoa Sinh
Hóa hiện thứ tư là Đạo Sư Liên Hoa Sinh. Ngài là một phần trong sự liên tục của các hoạt động giác ngộ. Hóa hiện này liên quan đến sự chuyển hóa năng lượng tiêu cực thành các hình tướng an bình và bi mẫn hơn, phát triển năng lực và hiển bày sự thúc giục bên trong của Đạo Sư Liên Hoa Sinh, tâm yếu của từ và bi.
Trong hình tướng này, Ngài ngồi trên bông sen, khoác ba y của một tu sĩ, bên trong Ngài mặc một chiếc áo màu xanh dương. Ngài cầm vương trượng kim cương của tình yêu thương từ ái bên tay phải và bát sọ của trí tuệ sáng suốt của Yogi bên tay trái. Ngài có một chĩa ba đặc biệt gọi là Khatvanga của một vị Yogi lang thang.
5. Guru Loden Choksé – Đạo Sư Thánh Chủng Trí
Guru Rinpoche sẽ làm chủ một giáo lý ngay trong lần đầu tiên tiếp cận. Ngài có linh kiến về chư Bổn tôn mà không cần phải thực hành.
Đạt cấp độ Trì Minh Vương đầu tiên, trạng thái của ‘cấp độ Trì Minh Vương trưởng thành’ hay ‘Trì Minh Vương với nghiệp còn sót lại’, Ngài được biết đến là Loden Chokse – Thánh Chủng Trí.
6. Guru Pema Gyalpo – Đạo Sư Liên Hoa Vương
Trong hình tướng này, Guru Rinpoche là một hoàng tử trẻ trung với chân trái co vào trong và chân phải duỗi ra, ngự trên bông sen, sẵn sàng hành động. Tay phải Ngài chơi trống damaru và tay trái cầm một chiếc gương.
Guru Rinpoche ở Oddiyana trong mười ba năm để thuyết giảng, nhờ đó, đức vua, hoàng hậu và nhiều vị khác đạt chứng ngộ và đắc thân cầu vồng. Khi ấy, Ngài được biết đến là Pema Gyalpo – Liên Hoa Vương.
7. Guru Sengé Dradrok – Đạo Sư Sư Tử Hống
Guru Rinpoche thách đấu và đánh bại năm trăm vị nắm giữ tà kiến trong cuộc tranh luận ở Bồ Đề Đạo Tràng. Ngài đảo ngược tà thuật của họ bằng sự hỗ trợ của một Mật chú phẫn nộ mà Không Hành Nữ mặt sư tử – Marajita đã trao cho Ngài.
Đạo Sư Sư Tử Hống điều phục các năng lượng phi lý của tà thuật, lời nguyền & bùa mê, tiêu trừ các điềm xấu, ác mộng hay bất cứ điều gì tương tự. Ở Orissa, Ngài phá hủy một Lingam bằng tia chớp từ đầu ngón tay, chấm dứt việc hiến tế động vật ở vùng đó. Ngài biểu tượng cho sức mạnh vô hiệu hóa cả chúng sinh hữu hình và vô hình và đẩy lùi thiên tai.
Sự hiển bày phẫn nộ của Đạo Sư Sư Tử Hống hoàn toàn dựa trên tình yêu thương và lòng bi mẫn dành cho mọi hữu tình chúng sinh. Ngài được biết đến là Senge Dradok – Sư Tử Hống.
8. Guru Dorje Drolö – Đạo Sư Kim Cương Drolo
Guru Rinpoche trong hình tướng phẫn nộ là để điều phục ma quỷ và tinh linh của Tây Tạng và khiến vùng đất trải qua niềm đại lạc. Ngài ngời sáng một cách phẫn nộ với sức mạnh dữ dội, thân tướng nâu sậm, cầm chày kim cương và dao Phổ Ba, hai chân nhảy múa trên một con hổ cái.
Tại mười ba địa điểm khác nhau được gọi là Hang Hổ, Taktsang, Guru Rinpoche hiển bày trong ‘hình tướng cực phẫn nộ của trí tuệ cuồng’, trói buộc các tinh linh thế gian bằng lời thề bảo vệ các kho tàng Terma và phụng sự Giáo Pháp. Khi ấy, Ngài được biết đến là Dorje Drolo – Kim Cương Cực Phẫn Nộ.
Đức Liên Hoa Sinh Có Bao Nhiêu Hóa thân?
Xét về tự tính tuyệt đối, các Bậc Giác ngộ không rời Pháp thân, nhưng với lòng từ bi, các Ngài thị hiện vố số hình tướng các Báo thân và Hóa thân để chúng sinh có thể kết nối và được lợi ích. Các Ngài sẽ hóa thân thị hiện tùy thuận theo nhu cầu và căn cơ của chúng sinh. Từ Pháp thân, đức Phật A Di Đà hóa hiện Báo thân là đức Phật Quan Âm, và Hóa thân là Đức Liên Hoa Sinh.
Tương tự, tuy an trụ trong tự tính tâm bất khả tư nghì, Đức Liên Hoa Sinh cùng lúc thị hiện vô số hóa thân với các công hạnh khác nhau để mang sự giải thoát cho chúng sinh. Trong số đó, có 8 Hóa thân với các công hạnh chính của Ngài được người dân Himalaya tán thán và tưởng nhớ qua các giáo pháp cũng như qua Vũ điệu Tám Hóa thân Liên Hoa Sinh.
Trong kinh điển có dạy Đức Liên Hoa Sinh có 9.999 tiểu sử. Tiểu sử này được phân chia làm 3 loại.
+ Cấp độ Pháp thân
Những tiểu sử về pháp thân của Ngài phân theo 108 công hạnh. Ở cấp độ pháp thân thì Liên Hoa Sinh chính là Đức Phật Bản Lai Phổ Hiền hay là Đức Di Đà như trong nguyên thủy và Ngài an trụ trong cảnh pháp thân.
Ý nghĩa thứ 2 Liên Hoa Sinh cũng chính là trí tuệ tự tính Phật ở khắp 10 phương và Ngài chính là sự bình đẳng xả và sự toàn giác. Đấy là về cấp độ Pháp thân
+ Cấp độ Báo thân
Còn cấp độ Báo thân thì từ pháp thân của Liên Hoa Sinh tỏa khắp 10 phương thể hiện thành Ngũ Trí Phật. Từ Ngũ Trí Phật này thì tất cả các vị Phật Bản Tôn Uy mãnh, bán uy mãnh, an bình và tất cả chủ bộ Phật thì đều là báo thân của Liên Hoa Sinh cho nên 100 Bản tôn An bình phẫn nộ là báo thân của Liên Hoa Sinh.
+ Cấp độ hóa thân
Ngài có vô số hóa thân không thể đếm được, chẳng hạn như 8 hóa thân, rất nhiều hình tướng khác nhau thị hiện ở các cõi để cứu độ chúng sinh.
Ngài không hề giới hạn ở bất kỳ hình thức nào vì Ngài có năng lực chứng ngộ thần thông. Ý nghĩa thần thông ở đây không phải theo tri kiến thế gian mà là từ góc độ tu chứng và tự tính Phật nên là sự hiển bày của năng lượng giác ngộ. Cho nên Đức Liên Hoa Sinh có vô số hóa thân. Cho nên tu một pháp Liên Hoa Sinh có thể nhiếp phục thành tựu mật thừa rất nhanh chóng.
Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021
ĐẠO SƯ LIÊN HOA SINH
ĐẠO SƯ LIÊN HOA SINH
Penor Rinpoche[1] giảng | Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ
Có vô số tôn giáo khác nhau trên thế giới này, nhưng đứng đầu trong số đó là những giáo lý phi phàm của Đấng Toàn Tri Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Pháp dựa trên lòng đại bi dành cho mọi chúng sinh, chứ không phải sự kiêu ngạo, ham muốn danh tiếng hay bất kỳ cảm xúc phiền não nào. Cơ hội nghiên cứu và thực hành những giáo lý này đều nhờ công đức to lớn, vì thế, nó không nên bị lãng phí.
Khi đạt giác ngộ viên mãn ở Bồ Đề Đạo Tràng, Phật Thích Ca Mâu Ni nghĩ rằng, “Ta đã đạt được sự chứng ngộ hoàn hảo về bản tính tuyệt đối của vạn pháp, sâu xa và bao la, nhưng bởi không ai có thể hiểu nó, thật vô ích khi giảng dạy”. Tuy nhiên, cả Đế Thích – vua của chư thiên và Phạm Thiên đã dâng lên Ngài những món cúng dường bao la gồm vỏ ốc trắng xoáy theo chiều kim đồng hồ, Pháp luân vàng và v.v. thỉnh cầu Ngài giảng dạy. Do đó, Ngài đã ban những Giáo Pháp đầu tiên, chuyển Pháp luân về Tứ Diệu Đế ở Sarnath cho năm đệ tử ban đầu của Ngài. Bốn chân lý là chân lý về khổ, chân lý về nguyên nhân của khổ, chân lý về sự chấm dứt và chân lý về con đường.
Trong thời Đức Phật, thường có những cuộc tranh luận và thuyết giảng giữa các học giả của nhiều tôn giáo khác nhau, tranh cãi xem truyền thống nào là đúng. Bởi Đạo Hindu và Phật giáo đều rất sâu xa, hai anh em, những học giả Bà La Môn vĩ đại, không thể quyết định xem sẽ đi theo giáo lý nào. Họ thường tranh luận và cãi cọ rất nhiều, khiến cho mẹ họ quở mắng, “Sao các con cứ luôn cãi cọ như vậy? Nếu con thực sự muốn biết chân lý, hãy đến Núi Kailash, bởi ở đó, con sẽ hiểu mọi thứ”. Vì thế, họ đến Núi Kailash, nơi mà họ gặp được thiên nữ Umadevi đang hái hoa trên một đồng cỏ. Họ hỏi tại sao bà ấy lại hái hoa và bà ấy đáp rằng Đức Phật đã được thỉnh đến đó và sẽ đến vào hôm sau, vì vậy, bà ấy muốn cúng dường hoa lên Ngài. Hai học giả quyết định cùng bà ấy đến gặp Đức Phật và đoàn tùy tùng của Ngài. Hôm sau, họ dâng cúng dường lên Đức Phật và thọ nhận giáo lý và nhờ đó, họ đạt được sự tin tưởng với Phật Pháp. Thực sự, mỗi người đã viết một cuốn sách mô tả những khác biệt giữa đạo Hindu và Phật giáo. Họ giải thích rằng giác ngộ hoàn hảo phụ thuộc vào việc chứng ngộ bản tính chân thật và do đó, họ tán thán giáo lý Phật giáo là thù thắng hơn.
Chư Phật trong hình tướng Hóa thân thường giảng dạy chỉ Luật Tạng, các Kinh điển và Luận Tạng chứ không giảng Mật thừa. Khi chư Phật giảng dạy Mật thừa, chư vị xuất hiện trong hình tướng Báo thân và các giáo lý Đại Viên Mãn bắt nguồn từ Pháp thân Phật. Vì thế, với các đệ tử bình phàm, Phật Thích Ca Mâu Ni chủ yếu giảng dạy Tripitaka: Tam Tạng của Kinh, Luật và Luận. Tuy nhiên, trong hình tướng của một Heruka, Ngài cũng giảng dạy Mật thừa và Đại Viên Mãn cho một số đệ tử đặc biệt. Ví dụ, Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy Vua Indrabhuti những giáo lý về luật nhân quả và duyên khởi, nhưng Ngài nói về đức vua về việc phải trải qua các khó khăn ghê gớm. Nhưng đức vua, vị rất quyền lực và luôn được vây quanh bởi của cải lớn lao và nhiều vị hoàng hậu, thưa với Đức Phật rằng, “Con không phiền nếu con sinh làm sói trong rừng – con không muốn từ bỏ mọi sự thoải mái và của cải để thực hành Giáo Pháp”. Nhờ sự toàn tri, Đức Phật biết rằng đã đến lúc để đức vua bước vào Mật thừa, vì thế, Ngài lập tức hóa hiện đàn tràng (Mandala) tám Heruka vinh quang và ban cho ông ấy mọi quán đỉnh. Ngay khi các quán đỉnh kết thúc, Vua Indrabhuti đạt được sự chứng ngộ hoàn toàn và hoàn thành các địa và đạo. Sự chứng ngộ và giải thoát của ông ấy xảy đến đồng thời bởi hoàn cảnh hoàn hảo mà trong đó ân phước gia trì của Đức Phật gặp gỡ niềm tin, lòng sùng mộ và nghiệp thanh tịnh của vua.
Nhiều thập niên sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, hàng trăm nghìn Không Hành Nữ (Dakini) cầu khẩn Đức Liên Hoa Sinh bằng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng mà chúng ta vẫn trì tụng cho đến ngày nay. Do đó, Ngài chào đời diệu kỳ từ bông sen ở Oddiyana về phía Tây Bắc của Ấn Độ và giảng dạy giáo lý Đại Viên Mãn cho vô số Không Hành Nữ. Và để chuyển Pháp luân Mật thừa nhằm giải thoát mọi chúng sinh, chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đều gia trì cho Đức Liên Hoa Sinh.
Đức Liên Hoa Sinh không chỉ là một nhân vật lịch sử, người sống ở Ấn Độ và sau đó đến Tây Tạng. Ngài không chỉ xuất hiện trong thế giới Ta Bà trong kiếp này mà đã đạt giác ngộ từ vô số kiếp trước. Mặc dù thực sự Ngài hoàn toàn giác ngộ từ vô thủy, với hữu tình chúng sinh, như thể Ngài nương tựa rất nhiều đạo sư, thọ nhận các trao truyền từ Pháp thân Phật Phổ Hiền cho đến Bổn Sư của Ngài, tiến hành các thực hành, đạt chứng ngộ và thành tựu. Ngài làm vậy để chỉ ra cho chúng sinh cách thức đúng đắn để thọ nhận giáo lý từ một truyền thừa chư đạo sư không gián đoạn và cách đi theo những giáo lý như vậy để thọ nhận ân phước gia trì của truyền thừa.
Chỉ nhờ cầu khẩn đến Đức Liên Hoa Sinh bằng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng, chúng ta có thể sinh trong các cõi Tịnh độ và bằng cách trì tụng lời cầu nguyện này không chút nghi ngờ hay do dự, chúng ta có thể thoát khỏi bất kỳ hoàn cảnh không mong muốn nào và đạt được bất cứ điều gì chúng ta mong muốn, bao gồm các hoạt động tức tai, tăng ích, kính ái và phẫn nộ và thậm chí có được bất kỳ của cải vật chất nào mà chúng ta muốn.
Mặc dù Ngài vốn giác ngộ từ nguyên thủy, bởi những giáo lý cần được trao truyền từ thầy sang trò để giữ gìn dòng truyền thừa, Đức Liên Hoa Sinh đã sống trong tám nghĩa địa linh thiêng ở Ấn Độ, nơi Ngài thọ nhận các giáo lý từ tám đại thành tựu giả (Mahasiddha), những vị hiển bày thần thông ở các thánh địa này. Tám Trì Minh Vương này cũng thọ nhận những giáo lý nhờ sự trao truyền từ thầy sang trò và hiển bày sự thành tựu thông qua các thần thông. Không phải là Đức Liên Hoa Sinh không có kiến thức về những giáo lý mà Ngài thọ nhận từ các đạo sư vĩ đại này, nhưng để giữ gìn truyền thừa Giáo Pháp theo cách thức chân chính, Ngài phải thọ nhận chúng một lần nữa. Chúng ta cũng cần thọ nhận những trao truyền từ một đạo sư đủ phẩm tính và thực hành chúng mà không vi phạm bất kỳ thệ nguyện Samaya nào.
Trước khi đến Tây Tạng, Đức Liên Hoa Sinh vốn đã sống ở Ấn Độ trong hơn hai nghìn năm và trong lúc đó, Ngài chẳng làm gì ngoài làm lợi chúng sinh trong những hình tướng khác nhau thông qua các hoạt động khác nhau và dưới nhiều cách thức khác nhau. Ví dụ, ở Đại học Nalanda vinh quang, có hàng vạn học giả vĩ đại. Đại học này có bốn cổng chính do các học giả vĩ đại nhất canh giữ, những vị cũng chứng ngộ cao. Khi năm trăm học giả Hindu đến Nalanda và yêu cầu một cuộc tranh luận với các học giả. Người ta quyết định rằng mọi người phải tuân theo tôn giáo của bên thắng trong cuộc tranh luận. Các học giả Hindu rất uyên bác và cũng có những sức mạnh diệu kỳ vĩ đại. Các học giả Phật giáo ở Nalanda tin tưởng rằng họ có thể chiến thắng cuộc tranh luận nhưng lo lắng rằng [học giả] Hindu có thể giỏi hơn trong việc tiến hành các thần thông, điều sẽ gây ra một vấn đề to lớn. Đêm nọ, tất cả đều có cùng một giấc mơ về một Không Hành Nữ, vị nói rằng các học giả Phật giáo thực sự không thể sánh với học giả Hindu về thần thông và cần mời em trai của Bà ấy từ nghĩa địa Rừng Lạnh Lẽo đến giúp đỡ hoặc là họ sẽ thất bại. Các học giả nói rằng họ quá sợ hãi nên chẳng thể du hành đến nghĩa địa, vì thế, làm sao mà họ có thể thỉnh mời được Ngài? Vị Không Hành Nữ bảo rằng họ không cần phải thực sự đến đó: Bà ấy sẽ thỉnh mời Ngài và tất cả những gì họ phải làm là chuẩn bị một tiệc cúng dường Ganachakra hoành tráng và trì tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng để cầu thỉnh Ngài. Do đó, các học giả đã chuẩn bị tiệc cúng dường mở rộng theo những chỉ dẫn của vị Không Hành Nữ và bắt đầu trì tụng Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng với lòng sùng mộ lớn lao. Sau một lúc, Đức Liên Hoa Sinh thực sự xuất hiện và hỏi tại sao họ thỉnh cầu Ngài hiện diện. Họ giải thích tình hình liên quan đến cuộc tranh luận sắp diễn ra và những lo lắng của họ về việc không thể thắng được những thần thông của hành giả Hindu. Khi cuộc tranh luận bắt đầu, các học giả Hindu hiển bày thần thông diệu kỳ, chẳng hạn bay trên trời, nhưng Đức Liên Hoa Sinh còn hiển bày những thần thông vĩ đại và nhanh hơn. Vì vậy, học giả Hindu thất bại và phải chuyển sang Phật giáo.
Bởi những nguyện từ nhiều đời, Đức Liên Hoa Sinh đã đến và đem Phật giáo đến Tây Tạng. Nếu Ngài không được mời đến Tây Tạng, Phật giáo chẳng thể được truyền bá ở đó bởi các vị thiên và tinh linh bản địa rất mạnh mẽ. Nhưng Đức Liên Hoa Sinh đã điều phục tất cả, ban quán đỉnh cho chúng, giảng dạy Giáo Pháp và trói buộc chúng bởi lời thề để chúng đều trở thành những vị bảo vệ Giáo Pháp thay vì là kẻ thù. Trong những vị thần và tinh linh bản địa ở Tây Tạng, nhiều vị đã cử hành các thần thông và thách thức Đức Liên Hoa Sinh và ngày nay, những địa điểm nơi điều này xảy ra vẫn có thể được viếng thăm.
Các quan chức chính phủ xấu xa cũng thách thức Đức Liên Hoa Sinh theo nhiều cách, nhưng họ không thể ngăn Ngài thiết lập Giáo Pháp hay giảng dạy Mật thừa. Sự thật rằng những giáo lý của Đức Phật phát triển ở Tây Tạng đều nhờ ân phước gia trì của Đức Liên Hoa Sinh. Ngài cũng khiến nhiều học giả và dịch giả vĩ đại khác đến Tây Tạng để hoằng dương Giáo Pháp; Ngài dần dần cũng truyền Bồ Tát giới để những vị khác cũng bắt đầu hành động vì sự phát triển của Giáo Pháp.
Trong triều đại của Vua Trisong Deutsen, đức vua và các thượng thư đã thỉnh mời Đức Liên Hoa Sinh xây dựng Tu viện Samye và khi mọi thứ hoàn tất và lễ thánh hóa ngôi chùa cùng các bức tượng đã kết thúc, đức vua thỉnh cầu Đức Liên Hoa Sinh giảng dạy Giáo Pháp. Vì thế, Đức Liên Hoa Sinh đã đến Samye Chimphu cùng với đức vua và dân chúng. Bởi nền tảng của mọi giáo lý Mật thừa là quán đỉnh, Ngài bắt đầu bằng cách ban quán đỉnh về tám Heruka và khai mở Mandala. Sau đấy, Đức Liên Hoa Sinh hỏi các đệ tử của Ngài rằng họ muốn thọ nhận quán đỉnh từ ai: chính Ngài hay từ Bổn tôn Yidam? Bởi mỗi vị đều có thể thấy rõ Mandala tám Heruka, hầu hết nói rằng bởi Bổn tôn Yidam là bất khả phân với đạo sư, họ muốn thọ nhận từ chính đạo sư. Nhưng vợ của Vua Trisong Deutsen, hoàng hậu Margyenma, nói rằng bởi họ luôn luôn có thể gặp đạo sư nhưng chưa bao giờ thấy Bổn tôn, bà ấy muốn thọ nhận quán đỉnh từ Bổn tôn. Lúc bắt đầu một nghi quỹ, chúng ta luôn phóng hào quang từ tim để triệu thỉnh chư Bổn tôn Mandala đến trước chúng ta, phải vậy không? Vì vậy, khi Đạo Sư Liên Hoa Sinh làm thế, mọi người có thể thấy toàn bộ Mandala, nhưng khi chư Bổn tôn tan vào bản thân khi người ta tụng Ja Hung Bam Ho, bởi chư Bổn tôn Mandala Tám Heruka tan vào tim Đức Liên Hoa Sinh, hoàng hậu đã không thọ nhận được quán đỉnh đó.
Tuy nhiên, tất cả hai mươi lăm đệ tử đều thọ nhận quán đỉnh theo Bổn tôn mà họ kết nối bởi nghiệp và những lời cầu nguyện và họ rời đi thực hành nhập thất cá nhân. Nhờ ân phước gia trì của Đạo Sư Liên Hoa Sinh và phước báu của bản thân họ, mỗi vị đạt được thành tựu và hiển bày các dấu hiệu diệu kỳ. Khi con thấy một bức tranh cuộn (Thangka) về hai mươi lăm đệ tử, nó cho thấy tất cả những thành tựu này. Ví dụ, Khyechung Lotsa có thể bắt được những con chim bằng cách đưa tay lên trời, Mathok Rinchen có thể ăn đá như thể đó là thức ăn, Yaki Wangchuk có thể lập tức tập hợp lại những con Yak hoang và Oden Palgyi Wangchuk có thể đảo ngược dòng sông. Nhưng hoàng hậu Margyenma có tà kiến, vì thế, bà ấy không thể đạt được điều gì bởi các nghi ngờ về đạo sư. Đấy là lý do chúng ta cần thực hành Giáo Pháp không chỉ với tri kiến đúng đắn và tâm không dao động mà còn cả niềm tin và lòng sùng mộ lớn lao.
Sau khi Đức Liên Hoa Sinh hoàn thành Tu viện Samye, mặc dù đức vua, các hoàng hậu, thượng thư và dân chúng đều nài nỉ Ngài ở lại Tây Tạng, Ngài nói rằng đã đến lúc phải điều phục loài La Sát, ma quỷ ăn thịt và nếu Ngài không đi, chúng sẽ gây ra những vấn đề cho thế giới này. Bởi họ chẳng thể làm gì thêm, đức vua, thượng thư và dân chúng hộ tống Ngài đến Đèo Gungtang. Trong khi họ vân tập về đó, vô số Không Hành Nữ đã đến với một con ngựa để hộ tống Đức Liên Hoa Sinh và khi Ngài cưỡi chú ngựa và sắp bay lên hư không cùng với chư Không Hành Nữ, Ngài trao cho họ rất nhiều lời khuyên, nói rằng, “Nếu con chân thành cầu khẩn Ta, Ta luôn luôn ở bên gối của con, bất khả phân với tất cả các con”. Ngài hứa rằng Ngài sẽ xuất hiện trước mỗi vị cầu khẩn Ngài và sẽ quay trở về Tây Tạng vào ngày Mười mỗi tháng theo Âm lịch Tây Tạng.
Tất cả những giáo lý Mật thừa và Đại Viên Mãn mà Đức Liên Hoa Sinh trao cho hai mươi lăm đệ tử chính yếu được vị phối ngẫu của Ngài – Yeshe Tsogyal viết lại. Sau đấy, nhờ sức mạnh diệu kỳ của Ngài, những giáo lý này được chôn giấu khắp Tây Tạng. Các Terma này sau đó được phát lộ bởi 108 vị phát lộ kho tàng chính và phụ và những vị đạt được thành tựu và trở thành Trì Minh Vương nhờ các thực hành này thì nhiều như sao trong hư không. Tất cả những hành giả này có sự tin tưởng hoàn toàn với các chỉ dẫn – không một ai trong số họ ấp ủ nghi ngờ về chúng. Dĩ nhiên, khi con thọ nhận chỉ dẫn từ đạo sư, con cần phải hiểu chúng, nhưng khi con đã hiểu chúng và chúng trở nên rõ ràng, có dù chỉ một chút hoài nghi nhỏ nhất về các chỉ dẫn này cũng sẽ ngăn cản sự thành tựu của con trong nhiều kiếp.
Đức Liên Hoa Sinh cũng để lại những chỉ dẫn tiên tri về việc cử hành các nghi lễ khác nhau để bảo vệ Tây Tạng vào thời điểm Trung Quốc sắp xâm chiếm. Khi Jamyang Khyentse Chokyi Lodro[2] đến Lhasa, Ngài nói với chính phủ Tây Tạng rằng nếu họ dựng một bức tượng Liên Hoa Sinh cao ba tầng trong hình tướng Nangsi Zilnon ‘Đấng Điều Phục Vinh Quang Hình Tướng Và Sự Tồn Tại’, sẽ chẳng có rắc rối nào ở Tây Tạng trong sáu mươi năm. Tuy nhiên, sau đấy khi Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro đang sống ở Sikkim, chính phủ Tây Tạng nói với Ngài rằng họ đã không thể dựng một bức tượng Nangsi Zilnon cao ba tầng mà thay vào đó, đã làm một bức tượng Guru Dewa Chenpo cao khoảng ba mét và hỏi liệu còn điều gì khác mà họ cần làm hay không. Nghe vậy, Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro bảo với họ rằng, “Các ông đã không làm điều mà tôi khuyên, vì thế, bây giờ chẳng còn gì mà tôi có thể làm. Làm một bức tượng Guru Dewa Chenpo theo truyền thống Ấn Độ chỉ ra rằng người Tây Tạng có thể chạy đến Ấn Độ”. Ngài rất buồn, che đầu của Ngài bằng y và bắt đầu khóc. Nếu họ dựng bức tượng đó theo lệnh của Ngài, Giáo Pháp đã phát triển ở Tây Tạng trong sáu mươi năm nữa. Không may thay, bởi những nghi ngờ của họ do không hiểu được sức mạnh của ân phước gia trì bao la và bi mẫn của Đức Liên Hoa Sinh và không đủ sự tin tưởng với những lời của Ngài Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, mọi chuyện xảy ra theo chiều hướng bi kịch.
Theo nhận thức bình phàm của chúng ta, Đức Liên Hoa Sinh đã chào đời và dành thời gian ở Ấn Độ và Tây Tạng, nhưng thực sự, Ngài hoàn toàn vượt khỏi sinh và tử. Thân giác ngộ của Ngài bất biến; chỉ dưới con mắt của hữu tình chúng sinh thì Ngài mới dường như sinh ra và qua đời vào những thời điểm nhất định, nhưng thực sự, Ngài luôn hiện hữu. Trong mỗi kiếp, dù bao nhiêu vị Phật xuất hiện, nếu có những đệ tử thích hợp với giáo lý Mật thừa, Đức Liên Hoa Sinh sẽ hóa hiện và giảng dạy giáo lý Mật thừa.
Tôi nghe nói rằng vài người ở Đài Loan đã trưng bày các xá lợi mà họ tuyên bố là từ Đạo Sư Liên Hoa Sinh, nhưng tôi không có điều đó là thật, bởi thực sự, Ngài không bao giờ chết. Khi Đức Liên Hoa Sinh rời Tây Tạng, Ngài làm thế trước sự hiện diện của đức vua, hoàng hậu, các thượng thư và vô số dân chúng, những vị muốn gửi lời tạm biệt ở Đèo Gungtang. Ngài chỉ bay từ đó đến Núi Màu Đồng, vì thế, không phải là Ngài rời đi một cách bí mật.
Một vài y áo của Đức Liên Hoa Sinh vẫn còn và tóc của Ngài được phát lộ như một kho tàng dưới dạng những sợi tóc tỏa sáng, năm màu. Cho đến khi Phật Di Lặc và những vị còn lại trong một nghìn vị Phật sẽ xuất hiện trên thế giới này xuất hiện, Đức Liên Hoa Sinh sẽ hiển bày để làm lợi lạc chúng sinh. Người ta nói rằng Đức Liên Hoa Sinh có tám hóa hiện và bốn mươi hóa hiện phụ và ở mỗi thế giới trong vũ trụ tỷ phần, Ngài đều hiển bày các hóa hiện.
Đức Liên Hoa Sinh bất khả phân với bất kỳ ai có niềm tin chân thành với Ngài. Dẫu cho trong thời suy đồi này, các chúng sinh tiêu cực cố gắng đàn áp Ngài, Ngài toàn toàn vượt khỏi việc bị đàn áp hay không bị đàn áp, vì thế, những vị này chỉ tích lũy ác nghiệp và ngăn cản con đường giải thoát của bản thân họ.
Giáo lý Mật thừa và đặc biệt là Đại Viên Mãn hay Dzogchen, mà nhờ đó giác ngộ có thể đạt được trong thân cầu vồng đại chuyển hóa trong một đời, đều nhờ sự gia trì từ thân cầu vồng của Đức Liên Hoa Sinh. Theo tri kiến của Mật thừa, mọi chúng sinh và mọi hiện tượng đều hoàn toàn hoàn hảo từ vô thủy và những giáo lý này không được tạo ra bởi chúng sinh bình phàm mà được thiết lập bởi Pháp thân Phật Phổ Hiền và ba truyền thừa: truyền thừa tâm của những Đấng Chiến Thắng, truyền thừa biểu tượng của chư Trì Minh Vương và truyền thừa lắng nghe của những chúng sinh bình phàm. Chư đạo sư giác ngộ, những vị sau đấy trao truyền các giáo lý này, hoàn toàn thoát khỏi những ý nghĩ quan niệm về việc liệu chúng tốt hay xấu, truyền cảm hứng hay không và không tạo tác bất cứ điều gì.
Nguồn Anh ngữ: Padmasambhava do Ani Jinba Palmo chuyển dịch Anh ngữ trong cuốn sách An Ocean of Blessings: Heart Teachings of Drubwang Penor Rinpoche.
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.
[1] Về Penor Rinpoche, tham khảo https://thuvienhoasen.org/p38a33611/tieu-su-kyabje-pema-norbu-rinpoche-1932-2009-.
[2] Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, tham khảo https://thuvienhoasen.org/p38a32327/cuoc-doi-duc-jamyang-khyentse-chokyi-lodro.
Liên Hoa Sinh
Liên Hoa Sinh
蓮華生
Padmasambhava (Hán Việt: Liên Hoa Sinh (蓮華生), sa. padmasambhava, padmakāra, bo. pad ma sam bhava པད་མ་སམ་བྷ་ཝ་, pad ma `byung gnas པད་མ་འབྱུང་གནས་), là một Đại sư Ấn Độ, sống cùng thời vua Tây Tạng Trisong Detsen (755-797). Sư truyền Phật giáo sang Tây Tạng và sáng lập tông Ninh-mã, một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là "Phật thứ hai." Sư hay sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái và thiên tai. Cách tu hành của Sư rất đa dạng, từ cách sử dụng đao truỷ thủ đến tu tập các phép thiền định theo hệ thống Đại cứu cánh. Sư thuộc dòng của các vị Đại thành tựu (sa. mahāsiddha), để lại rất nhiều truyện thần thoại cho đời sau và ở các nước vùng Hi-mã-lạp sơn, người ta tôn thờ gọi Sư là "Đạo sư quý báu" (Quỹ Phạm Sư Bảo 軌范師寶, Sư Tôn Bảo 師尊寶, bo. guru rinpoche གུ་རུ་རིན་པོ་ཆེ་).
Tương truyền rằng, Liên Hoa Sinh sinh ra trong một hoa sen, tại Tây Bắc Kashmir, sớm thông tất cả kinh sách, nhất là Mật giáo (sa. tantra). Trong thế kỉ thứ 8, Sư đến Tây Tạng, một vương quốc còn bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo thiên nhiên. Sư đến đây chinh phục ma quỷ, thiên tai và ảnh hưởng của giáo phái Bön. Sư cũng cho xây tu viện Tang-duyên năm 775 và thời gian hoạt động tại Tây Tạng xem như chấm dứt tại đó. Có nhiều tài liệu cho rằng Sư hoằng hoá ở Tây Tạng lâu hơn, truyền giáo cho 25 đệ tử, trong đó có nhà vua Tây Tạng và giáo thuyết quan trọng nhất là "Tám tuyên giáo". Ngoài ra, Sư còn để lại nhiều bài dạy được dấu trong rừng núi (bo. gter ma), chỉ được khám phá ra vào một thời điểm nhất định. Một trong những bài dạy đó là bộ Tử thư. Đệ tử quan trọng và là người viết lại tiểu sử của Sư là bà Yeshe Tsog-yel.
Giáo lý
Sư có nhiều bài dạy đệ tử tu tập theo con đường ngắn nhất, trực tiếp đến Giác ngộ. Những bài khuyên dạy thường xoay quanh sáu điểm cụ thể như sau:
Đọc thật nhiều kinh sách, lắng tai nghe các vị Đại sư dạy bảo để nhập tâm rồi sau đó ứng dụng để tự thấy hiệu quả, sai trái;
Chọn một trong tất cả học thuyết này và chú tâm vào nó, tất cả những thuyết khác đều phải bỏ qua, ví như con diều hâu săn từ trên cao, chỉ chọn một con mồi duy nhất;
Sống khiêm tốn cần kiệm, không bao giờ tự nâng mình, đưa mình ra trước, bỏ ý muốn đạt danh vọng, quyền uy trong thế gian. Sau cái bề ngoài vô nghĩa này thì lại đưa tâm thức lên cao vút, vượt qua tất cả các danh hiệu chói lọi của tục thế;
Giữ lòng Xả (sa. upekṣā) đối với tất cả. Ăn uống như một con heo, con chó, không chọn lựa, có gì ăn nấy. Không được cố gắng để đạt hoặc né tránh bất cứ một cái gì. Chấp nhận mọi việc như chúng đến, giàu sang phú quý hay cơ hàn, lời chê bai hay tán thán. Không phân biệt giữa đúng sai, thiện ác, thành bại. Không hối tiếc và cũng không hãnh diện, vui mừng về bất cứ việc gì đã làm.
Với tâm vô tư, không thiên vị mà nghe và quán sát tất cả những hành động lời nói của mọi người. Cứ nghĩ rằng, nhân gian là như thế, người này như vậy, người kia thế đó. Quán sát thế gian như một người đứng trên đỉnh núi nhìn xuống;
Cấp này không thể trình bày diễn tả. Nó tương ưng với sự trực giác tính Không, tương ưng với tính Không (sa. śūnyatā).
Phái Ninh-mã xem ngày 10 mỗi tháng là ngày vía của Liên Hoa Sinh và mỗi tháng có một ý nghĩa khác nhau. Ngày 10 tháng giêng là ngày xuất gia và quán tử thi, ngày 10 tháng 2 là ngày thụ giới, ngày 10 tháng 3 là ngày chuyển hoá lửa thành nước... Bài dạy cầu Liên Hoa Sinh được ghi thành 7 dòng như sau:
Nơi miền Tây bắc Ô-trượng-na
Trong một đoá hoa sen
Ngài đã đạt Vô thượng bồ-đề
Ngài là Liên Hoa Sinh
Với nhiều nữ thần hộ vệ xung quanh
Con nguyện theo Ngài
Hãy đến đây độ trì cho đệ tử.
Đức Liên Hoa Sinh
Khai thị về Đức Liên Hoa Sinh
1. Lược sử Đức Liên Hoa Sinh
3. Năng lực của Chân ngôn Liên Hoa Sinh
4. Năng lực 7 lời cầu nguyện Đức Liên Hoa Sinh
5. Ngày vía Đức Liên Hoa Sinh
6. Khai thị và Pháp thực hành
1. Lược sử Đức Liên Hoa Sinh
Kim Cương Thượng sư Liên Hoa Sinh là Đại thành tựu giả tu chứng hiện thế ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 8. Kinh điển dạy rằng Ngài cùng Đức Phật Thích Ca và Đức Quan Âm là đồng một thể. Chính Đức Phật Thích Ca đã từng huyền ký sau khi nhập Niết bàn khoảng một nghìn năm, Ngài sẽ hoá thân trở lại trong hình tướng của Thượng sư Liên Hoa Sinh.
Bề ngoài Ngài hiện tướng là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, về mặt thế gian Ngài hiện tướng Đức Quan Âm hiện thân của từ bi và trí tuệ, và đặc biệt trong Kim Cương thừa, Ngài hiện thân là Guru Padmasambhava.
ĐỨC KIM CƯƠNG THƯỢNG SƯ LIÊN HOA SINH
Vì muốn độ hữu tình chúng sinh phát sinh chính tín và nhanh chóng đạt đến quả vị Phật nên Ngài thị hiện ở thế giới Ta bà với danh hiệu là PEMA JUNG NE. Thượng sư Liên Hoa Sinh có rất nhiều hoá thân, như ba hoá thân, tám hoá thân hoặc một trăm hoá thân…, song tựu chung, Ngài là hiện thân tinh túy của tất cả mười phương chư Phật, Bồ tát, Không hành, Hộ pháp.
Thông qua sự thực hành pháp Guru Padmasambhava, chúng ta thực hành pháp của tất cả chư Phật, chư Bồ tát cùng một lúc. Bởi vậy chúng ta hãy nương theo Ngài - một bậc Thượng sư đã chứng đạt giác ngộ tối thượng. Đức Liên Hoa Sinh để lại dấu ấm sâu đậm trong lịch sử Phật giáo, Ngài có công lớn trong việc hoằng truyền giáo pháp Kim Cương Thừa trên khắp dải Himalaya, để lại vô số bí lục về các phép tu học hành trì. Tương truyền Ngài đản sinh từ hoa sen nơi hồ Liên Hoa, tại miền linh địa Orgyen (Ô-trượng-na).
Sinh thời, Ngài thường sử dụng năng lực thần thông, chân ngôn để nhiếp phục ma quái. Vào thời đó người dân phần lớn đều theo đạo Bon, là tôn giáo thờ các vị địa thần, thần núi, thần sông, ma quái, kết bạn với họ và cũng sử dụng họ như âm binh. Dựa trên tâm lý này, Liên Hoa Sinh thi triển thần thông nhiếp phục các lực lượng này và thậm chí đưa các vị thần này về với chính pháp, cho họ có một chỗ đứng trong hệ thống Phật giáo.
Người dân vùng Himalaya đối với Ngài rất sùng kính nên tránh gọi huý danh Ngài mà tôn sưng là GURU RINPOCHE với ý nghĩa: Đấng Thượng Sư vô cùng Quý Báu. Cùng với công hạnh điều phục ma quỷ, hoằng truyền giáo pháp Mật thừa, Ngài có có những đại thiện hạnh như kiến lập tự viện Samye, trước tác nhiều pho tàng giáo pháp. 25 Đệ tử của Ngài đều là những bậc thành tựu giả trứ danh, trong đó đại đệ tử nổi tiếng nhất là nữ hành giả Yeshe Tsog-yel.
Cuộc đời Đức Liên Hoa Sinh được phủ bằng một tấm màn huyền thoại và điều đáng chú ý là người dân vùng Himalaya vẫn xem Ngài như còn hiện diện đâu đó, thiền định trong hang động thiêng và thực hiện công hạnh độ sinh. Hiện còn nhiều thánh địa để lại dấu tích trải nghiệm tu tập chứng ngộ của Ngài trên vùng núi tuyết Himalaya. Pháp tướng của Ngài tuỳ theo sự nghiệp độ sinh mà biến hoá vô cùng.
Cho nên các hiển thị hóa thân của Ngài từ khế ấn, tư thế, vẻ mặt, tư thế, đơn tôn hoặc song tôn, tướng đồng tử, tướng thanh niên, tướng nửa hiền nửa Phẫn nộ, tướng vô cùng phẫn lộ rất đa dạng. Tu tập là có cơ hội để tích lũy công đức. Pháp tu Liên Hoa Sinh là pháp tu vô cùng thù thắng. Đức Liên Hoa Sinh đã từng dạy:
Thành tựu Ta tức là thành tựu hết thảy chư Phật;
Thấy Ta tức là thấy hết thảy Như Lai.
2. Đức Liên Hoa Sinh có bao nhiêu Hóa thân ?
Xét về tự tính tuyệt đối, các Bậc Giác ngộ không rời Pháp thân, nhưng với lòng từ bi, các Ngài thị hiện vố số hình tướng các Báo thân và Hóa thân để chúng sinh có thể kết nối và được lợi ích. Các Ngài sẽ hóa thân thị hiện tùy thuận theo nhu cầu và căn cơ của chúng sinh. Từ Pháp thân, đức Phật A Di Đà hóa hiện Báo thân là đức Phật Quan Âm, và Hóa thân là Đức Liên Hoa Sinh.
Cũng như vậy, tuy an trụ trong tự tính tâm bất khả tư nghì, Đức Liên Hoa Sinh cùng lúc thị hiện vô số hóa thân với các công hạnh khác nhau để mang sự giải thoát cho chúng sinh. Trong số đó, có 8 Hóa thân với các công hạnh chính của Ngài được người dân Himalaya tán thán và tưởng nhớ qua các giáo pháp cũng như qua Vũ điệu Tám Hóa thân Liên Hoa Sinh.
Trong kinh điển có dạy Đức Liên Hoa Sinh có 9.999 tiểu sử. Tiểu sử này được phân chia làm 3 loại.
Những tiểu sử về pháp thân của Ngài phân theo 108 công hạnh. Ở cấp độ pháp thân thì Liên Hoa Sinh chính là Đức Phật Bản Lai Phổ Hiền hay là Đức Di Đà như trong nguyên thủy và Ngài an trụ trong cảnh pháp thân. Ý nghĩa thứ 2 Liên Hoa Sinh cũng chính là trí tuệ tự tính Phật ở khắp 10 phương và Ngài chính là sự bình đẳng xả và sự toàn giác. Đấy là về cấp độ Pháp thân
Còn cấp độ Báo thân thì từ pháp thân của Liên Hoa Sinh tỏa khắp 10 phương thể hiện thành Ngũ Trí Phật. Từ Ngũ Trí Phật này thì tất cả các vị Phật Bản Tôn Uy mãnh, bán uy mãnh, an bình và tất cả chủ bộ Phật thì đều là báo thân của Liên Hoa Sinh cho nên 100 Bản tôn An bình phẫn nộ là báo thân của Liên Hoa Sinh.
Còn cấp độ hóa thân: Ngài có vô số hóa thân không thể đếm được, chẳng hạn như 8 hóa thân, rất nhiều hình tướng khác nhau thị hiện ở các cõi để cứu độ chúng sinh. Ngài không hề giới hạn ở bất kỳ hình thức nào vì Ngài có năng lực chứng ngộ thần thông. Ý nghĩa thần thông ở đây không phải theo tri kiến thế gian mà là từ góc độ tu chứng và tự tính Phật nên là sự hiển bày của năng lượng giác ngộ. Cho nên Đức Liên Hoa Sinh có vô số hóa thân. Cho nên tu một pháp Liên Hoa Sinh có thể nhiếp phục thành tựu mật thừa rất nhanh chóng.
3. Năng lực của Chân ngôn Liên Hoa Sinh
Nếu một sắc tướng có thể thể hiện lợi ích của một lần tụng OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG, thì toàn bộ thế giới không đủ chỗ chứa công đức này. Tất cả chúng sinh hữu tình thấy, nghe hoặc nhớ đến chân ngôn này nhất định sẽ được nhập vào hàng Trì minh!
Trong Terma về Đức Liên Hoa Sinh có dạy rằng: Hỡi Pháp tử, chân ngôn Kim cương Thượng sư không chỉ là chân ngôn tinh túy của riêng ta, mà đó là:
Tinh túy của tất cả các bản tôn thuộc bốn thứ lớp Mật thừa, của tất cả chín thừa, và tất cả 84.000 pháp môn
Tinh túy của tất cả chư Phật ba đời, tất cả Thượng sư, yidam, daka, dakini, hộ pháp…, tinh túy của tất cả các bậc này đều nằm đủ đầy trong chân ngôn này
Con có thể hỏi chân ngôn này có năng lực như thế nào? Tại sao tất cả các tinh túy trên đều đủ đầy trong chân ngôn này?
Hãy lắng nghe và ghi nhớ
Hãy đọc lại nhiều lần
Hãy viết ra vì lợi ích của chúng sinh hữu tình, và giảng giải cho chúng sinh trong tương lai.
OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG
OM AH HUNG là tinh túy vi diệu của các nguyên lý của thân, khẩu, tâm giác ngộ
VAJRA là tinh túy vi diệu của Kim cương bộ
GURU là tinh túy vi diệu của Bảo bộ
PEMA là tinh túy vi diệu của Liên hoa bộ
SIDDHI là tinh túy vi diệu của Nghiệp bộ
HUNG là tinh túy vi diệu của Phật bộ
OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA SIDDHI HUNG
OM là sự huy hoàng và đủ đầy viên mãn của Báo thân
AH là sự viên mãn hoàn toàn bất biến của Pháp thân, hiện thân của thực tại tuyệt đối
HUNG làm viên mãn hiện tướng hóa thân của Thượng sư Liên Hoa Sinh
VAJRA làm viên mãn tất cả các bản tôn heruka của các Mandala
GURU là Căn bản Thượng sư và các Thượng sư truyền trao quán đỉnh và các bậc trì minh
PEMA viên mãn thánh chúng Daka và Dakini
SIDDHI là sinh lực của tất cả các bản tôn tài bảo và các vị canh giữa tàng thư giáo pháp
HUNG là sinh lực của các vị Bản tôn hộ pháp
4. Năng lực 7 lời cầu nguyện Đức Liên Hoa Sinh
Đây là những lời cầu nguyện rất linh thiêng do chư Dakini viết để tán tụng và triệu thỉnh Đức Liên Hoa Sinh. Các Dakini sau đó đã dạy lại bài này cho vị hiệu trưởng đại học Nalanda ở Ấn Độ. Thời gian đó, chư Tăng của trường đang phải tranh biện với một nhóm ngoại đạo rất mạnh. Vì nhóm này học thức uyên bác và rất giỏi tranh biện nên tới ngày thứ sáu của cuộc so tài, chư Tăng vẫn liên tục thất bại.
Tình thế trở nên căng thẳng tột độ khi vào ngày cuối của cuộc thi, chư Tăng vẫn không tìm ra biện pháp nào. Khi ấy, một trong những vị đại học giả có năng lực đặc biệt có thể kết nối với chư Dakini đã thỉnh cầu rằng: "Nếu chúng con thua trong cuộc tranh biện này thì Phật Pháp sẽ bị hủy diệt, tất cả tự viện, chùa chiền… sẽ bị phá hủy. Chúng con phải làm gì đây?"
Lúc đó, các Dakini liền ban cho “Bảy Lời Cầu Nguyện” và dạy rằng, vào buổi sáng sớm ngày hôm sau, trước khi mặt trời mọc, hàng nghìn Tăng sĩ tại đại học hãy chí tâm trì tụng bài cầu nguyện thỉnh cầu Thượng sư Liên Hoa sinh, Ngài sẽ tới và hộ trì cho chư Tăng và đó là cách duy nhất để các vị có thể giành chiến thắng trong cuộc tranh biện lịch sử.
Vào ngày hôm sau, hàng ngàn tăng sĩ của đại học Nalanda đã dậy từ rất sớm, mở hết cửa sổ, cửa ra vào và bắt đầu trì tụng " Bảy Lời Cầu Nguyện " với tâm chí thành tha thiết. Khi mặt trời mọc, ánh nắng ban mai bắt đầu chiếu vào tự viện, Thượng sư Liên Hoa Sinh đã xuất hiện, Ngài cưỡi trên những tia nắng mặt trời và giúp chư Tăng giành chiến thắng trong cuộc tranh biện, tránh được nguy cơ Phật Pháp bị hủy diệt bởi ngoại đạo.
"Bảy Lời Cầu Nguyện" đã được tất cả những hành giả có tâm chí thành đối với Thượng sư thực hành. Bài cầu nguyện linh thiêng này không chỉ là lời triệu thỉnh Thượng sư Liên Hoa Sinh mà còn hướng tới tất cả các bậc Thượng sư giác ngộ. Đây là pháp tu tập vô cùng lợi ích thù thắng mà tất cả chúng ta nên thực hành theo!
BẢY LỜI CẦU NGUYỆN ĐỨC LIÊN HOA SINH THƯỢNG SƯ
Hung/ Xứ Urgyen cõi thiêng Tây Bắc
Đản sinh trong nhị đóa hoa sen
Diệu kỳ thành tựu đã nên
Liên Hoa Sinh đấy là danh gọi Thầy
Không Hành Mẫu thường hằng vi nhiễu
Con theo Thầy từng bước chân tu
Xin Thầy rộng mở lòng từ
Giáng lâm ban phúc gia trì trong con
GURU PADMA SIDDHI HUNG/
5. Ngày vía Đức Liên Hoa Sinh
Ngày mùng 10 theo lịch Kim Cương thừa là ngày vía Đức Liên Hoa Sinh. Tất cả công hạnh lớn nhất của Đức Liên Hoa Sinh đều được thành tựu viên mãn vào ngày này. Quy y Đức Liên Hoa Sinh sẽ giúp chúng ta kết nối và đón nhận sự gia trì bảo hộ từ Ngài. Mặc dù phàm phu chúng ta không thấy được Ngài bằng mắt thường, nhưng nếu tha thiết cầu nguyện lên Ngài, chúng ta sẽ đón nhận sự che chở, hộ trì từ Đức Kim Cương Thượng Sư Liên Hoa Sinh.
6. Khai thị và Pháp thực hành
THỰC HÀNH PHÁP MÔN
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





