Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2020

ĐỜI SỐNG TÂM LINH








MINH-LÝ THÁNH-HỘI, Tuất thời 26-9 Mậu-Thân (16-11-1968)

HÃY LO CHO ĐỜI SỐNG TÂM LINH

THI:
Mở cửa càn khôn ngắm bể dâu,
Chín mươi hai ức sẽ về đâu;
Sương phong gió bão đường triêu mộ,
Rừng rậm non cao nẻo cuối đầu.
Nếu nhớ chia tay nơi đỉnh thư ,
Thì đừng lỡ bước chốn sông mâu;
Trập trùng vó ký miền Ly Khảm,
Cứu cánh chờ ai gởi đạo mầu.

ĐÔNG-PHƯƠNG CHƯỞNG-QUẢN, Bần Đạo chào mừng chư hiền đệ hiền muội.
Chư hiền đệ hiền muội! trước khi bước chơn đặt mình vào ngưỡng cửa đạo giáo hay tôn giáo, chư hiền đệ hiền muội đã có một ý niệm là thích việc thiện, tin tưởng Đấng Vô Hình sẽ cứu rỗi linh hồn mình khi mãn duyên kiếp trần ai.
Tu là để cứu cửu huyền thất tổ. Trước nhứt là trau sửa thân tâm, rèn luyện bản tánh, xa lánh đường tội lỗi nơi cõi đời hiện tại. Khi vào cửa Đạo rồi lo phần học hỏi kinh sách Thánh giáo Thánh ngôn, cùng những bạn đã đi trước mình một khoảng đường Đạo học. Khi học hiểu hết một đôi phần về đạo lý, từ vũ trụ quan đến nhân sinh quan, được một vài yến sáng rọi trong tâm hồn, thấy được cõi đời đây là giả tạm. Một kiếp làm người tuy nói rằng ước định là trăm năm, nhưng trong chuỗi đời ba vạn sáu ngàn ngày là mấy ai tròn hưởng. Tấm thân tứ đại quanh năm ngày tháng mãi quay cuồng trong chỗ lo nghĩ buồn vui cùng sướng khổ. Nhưng hỏi lại có mấy ai được trong cảnh buồn ít vui nhiều, quẩn quẩn quanh quanh trong chỗ đủ thiếu phải chăng giàu nghèo. Bảy tám mươi cũng gọi một đời mà năm ba tuổi cũng cho là một kiếp, lẽ vô thường nào đâu có hẹn với con người sự dài vắn rủi may. Từ đó con người mới nảy sanh ra một ý niệm là tạo những điều kiện tối cần cho phần thể chất để sống trong nếp sống tương đối, còn bao nhiêu thì giờ lo đào tạo những điều kiện cho đời sống tâm linh, gieo hột giống lành cho kiếp tương lai, làm công quả cho vững móng nền âm chất.
Tuy nhiên, trong gia đình và xã hội của người tu niệm cũng thường vấp phải những chướng ngại vật làm cản ngăn bước tiến trên đường lập công bồi đức. Bởi vì, phàm hễ mang thể xác con người ắt đã chịu ảnh hưởng cùng hậu quả của duyên nghiệp trong tam thế. Vì đó mà màn vô minh đã che, làm mờ đi phần nào những điều sáng suốt. Vì vậy, trong giới tu hành hay bị lầm lẫn những gì là chơn là giả, những gì là bản ngã, là chơn như. Phải trái khôn phân, vàng thau khó định. Do đó mà người tu thì nhiều, thành công đắc quả thì ít. Cũng có những trường hợp vì chủ quan trong ích kỷ mà đưa đẩy con người vào phú quí đỉnh chung công hầu khanh tướng. Chính vì đó trong chủ đề đạo lý, Bần Đạo muốn nêu một vài khía cạnh của bề trái cuộc đời đạo lý cho chư hiền suy nghĩ:

THI:
Đạo lý cao thâm rán học hành,
Tạo điều kiện tốt kiếp lai sanh;
Đừng quên hiện kiếp trong nhân ngã,
Phân biện bạc chì trược với thanh.

Bần Đạo rất vui hôm nay nhìn thấy chư hiền đệ hiền muội đều có điểm quang năng tinh tiến về phần đạo học. Nhưng đoái nhìn cảnh đời đang xáo trộn, nhân loại đang lâm vào cuộc thương hải tang điền, cơ mạt kiếp âu đành, những nguyên nhân có được phản hồi nơi quê xưa vị cũ để lập đời Thánh Đức Thượng Nguơn, đó là điều cần thiết cho những bực lãnh đạo giáo đồ lưu tâm hơn hết.

BÀI:
Đêm thanh nương áng mây lành,
Thần cơ diệu bút tả thành từng câu.
Gởi cho người năm châu bốn bể,
Gởi cho hàng khanh tể thứ dân;
Gởi cho chí sĩ tài nhân,
Cho trang đạo đức cho phần thiện tâm.
Cuộc phù thế thăng trầm đắc thất,
Kiếp sinh tồn duy vật duy tâm;
Đường trần vó ngựa trăm năm,
Xét xem kim cổ bao lăm đổi đời.
Nhìn chuyển biến trong thời nguơn hạ,
Thấy nhân loài chiến họa thiên tai;
Rủ lòng mở cửa Cao-Đài,
Quy nguyên Tam Giáo hoằng khai đạo mầu.
Ôi! thế sự cơ cầu chen lấn,
Hỡi nhơn sanh quanh quẩn đường trần;
Có thân thử hỏi lại thân,
Mấy cơn chìm nổi mấy lần nhục vinh.
Mộng vương bá trường chinh trống đổ,
Xui con người vào chỗ tương tàn;
Lợi danh bán tước mua quan,
Bo bo của tạm lại hoàn tay không.
Nỗi tham vọng túi trong chẳng đáy,
Niềm đau thương nhân loại không đừng;
Xét ra càng lại dửng dưng,
Bởi lo cá thể nhân quần suy vi.
Nếu sớm biết tu trì hạnh đạo,
Chẳng muộn màng cởi tháo nghiệp duyên;
Dầu đời đang lúc đảo điên,
Chính mình thoát khổ dạy truyền người sau.
Tu là để luyện trau tâm tánh,
Tu là gìn phẩm hạnh vi nhân;
Tu là tự cứu bản thân,
Tu là an mối tình dân vẹn tròn.
Chớ sợ tu không còn danh lợi,
Đừng ngại tu phú quới phải xa;
Nhân xưa tiền kiếp tạo ra,
Ngày nay kết quả cho ta cho người.
Danh thiệt danh trên đời bia tạc,
Lợi chánh là lợi lạc muôn dân;
Lợi danh nêu để sử thần,
Ấy nguồn danh lợi vĩ nhân Thánh hiền.
Lợi vật chất bạc tiền giả tạm,
Danh mượn xin trong đám công hầu;
Có gì hưởng đặng bền lâu,
Thoạt qua cửa sổ vó câu trập trùng.
Nền Đạo học khôn cùng xây đắp,
Nghiệp tiền nhân đề cập tương lai;
Trần ai ai biết trần ai,
Lánh thân cất bước ra ngoài tỏa cương.
Tìm chơn lý lập trường tự cứu,
Học Đạo mầu quả tựu công thành;
Cũng là lợi, cũng là danh,
Cổ kim ghi tạc sử xanh bao người.
Nỗi cộng nghiệp thương đời diễn tiến,
Luật tuần hoàn luân chuyển lại qua;
Hỡi ai! trong cảnh trời tà,
Mau chơn quày gót rót ra vòng trần.
Mượn đất Thánh non Thần an hưởng,
Dùng kệ kinh tối thượng học hành;
Cho qua những cuộc phân tranh,
Để xem vận hội lập thành gần đây.
Hãy nhìn xem nhân tài chí sĩ,
Kìa thấy chăng chước mị mưu tà;
Rấp ranh xẻ bảy chia ba,
Mảnh thân tan tác ruột rà phân ly.
Tài trí chẳng làm gì tài trí,
Bá vương càng lâm lụy bá vương;
Nếu trông thấy cảnh đoạn trường,
Hỏi ai, ai có biết đường giải nguy.
Mở cửa rộng từ bi bác ái,
Đón ngăn loài tà quái xâm lăng;
Đạo tâm soi sáng cõi trần,
Một phần tu niệm muôn phần hưởng chung.
Hỡi ai có đại hùng đại lực,
Kìa nhân loài khổ cực đau thương;
Chơn truyền đạo pháp hoằng dương,
Lập cơ cứu cánh bốn phương thoát nàn.
Ngô đồng trổ phụng hoàng cất cánh,
Đỉnh non thần phát hiện chơn nhơn;
Cứu đời trong buổi hạ nguơn,
Nhờ tay đạo đức góp phần chung lo.
Qua biển khổ nương đò bát nhã,
Thoát lưới trần cậy gã Già-Lam;
Đơn thơ xuất thánh siêu phàm,
Thái bình vạn vật muôn năm gội nhuần...

Bủu Minh Ðàn.Trang Web Phục Vụ Nhơn Sanh Miễn Phí.,
Webmaster Trương Ngọc An

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Ý Trinh nói về Cung Hoàng Đạo



Cung Hoàng Đạo

Trái Đất trong quỹ đạo quanh mặt trời và vị trí những chòm sao cung hoàng đạo


12 biểu tượng cung Hoàng Đạo trên tranh khắc gỗ thế kỷ 16

Trong chiêm tinh học và thiên văn học thời cổ, các cung Hoàng Đạo là một vòng tròn 360o và được phân chia làm 12 nhánh, mỗi nhánh tương ứng với một cung, góc 30o. Cung Hoàng Đạo tạo ra bởi các nhà chiêm tinh học Babylon cổ đại từ những năm 1645 trước Công nguyên. Vòng tròn 12 cung Hoàng Đạo hoàn hảo với 12 cung tương xứng với bốn mùa và 12 tháng. Các cung được phân chia làm bốn nhóm yếu tố (Lửa, Nước, Khí, Đất), mỗi nhóm yếu tố gồm 3 cung đại diện cho các cung có tính cách tương đồng với nhau.


Theo các nhà thiên văn học thời cổ đại, trong khoảng thời gian chừng 30 - 31 ngày, Mặt Trời sẽ đi qua một trong mười hai chòm sao đặc biệt. Ai sinh ra trong thời gian Mặt Trời đi qua chòm sao nào thì họ sẽ được chòm sao đó chiếu mệnh và tính cách của họ cũng bị chòm sao ảnh hưởng nhiều. 12 chòm sao tạo thành 12 cung trong vòng tròn Hoàng đạo, có nghĩa "Đường đi của mặt trời". Theo phương Tây, vòng tròn này tên là Horoscope. Tiếng Hy Lạp là Zodiakus Kyklos (ζωδιακός κύκλος) - "Vòng tròn của các động vật." 


Nhiều nhà khoa học hiện đại xem chiêm tinh học là trò mê tín dị đoan. Tuy nhiên, chiêm tinh học vẫn giữ vị trí trọng yếu trong nghiên cứu về "số phận đời người" của phương Tây, vẫn tồn tại ở ngay cả những nước mà tại đó chiêm tinh học bị cấm.





Lịch sử

Thời kỳ đầu



Sự phân chia vòng tròn hoàng đạo ra làm 12 cánh, mỗi cánh một ký tự được hình thành bởi các nhà thiên văn Babylon cổ đại vào thiên niên kỷ 1 TCN. Mỗi cánh có độ quay 30o tương ứng với một tháng trong lịch Babylon cổ. Các nhà thiên văn Babylon cũng đặt cho mỗi cung hoàng đạo một ký tự. Trong đó, cánh đầu tiên có tên là Bạch Dương (Aries), ký tự là một con cừu núi.[4] Dần dần sau này, Hoàng Đạo đã có ảnh hưởng lớn hơn vào thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Việc sử dụng Hoàng Đạo để tiên đoán về tính cách, sự nghiệp,... vào thời kì này trở nên khá phổ biến. Nó có ảnh hưởng tới tận vào thời Trung Cổ sau này.

Thời Hy Lạp cổ đại

Cách phân chia của Babylon du nhập vào chiêm tinh học Hy Lạp vào thế kỷ 4 TCN.[5][6] Chiếm tinh số mệnh xuất hiện lần đầu tại Ai Cập thuộc Hy Lạp. Cung Hoàng Đạo Dendera (khoảng năm 50 TCN) là mô tả sớm nhất về 12 cung Hoàng Đạo.

Đóng vai trò quan trọng trong chiêm tinh học số mệnh của phương Tây là nhà thiên văn học kiêm chiêm tinh học Claudius Ptolemaeus với tác phẩm Tetrabiblos được xem là nền tảng của chiêm tinh học phương Tây.


Mười hai cung Hoàng Đạo

Điểm khởi đầu theo lý thuyết của cung Bạch Dương là xuân phân. Các cung khác cứ thế nối tiếp. Ngày giờ chính xác theo lịch Gregory thường khác biệt chút ít từ năm này sang năm khác, bởi lẽ lịch Gregory thay đổi tương ứng với năm chí tuyến,trong khi độ dài năm chí tuyến có bản chất thay đổi đều đều. Trong quá khứ gần đây và tương lai không xa thì các sai khác này chỉ vào khoảng dưới hai ngày. Từ năm 1797 đến năm 2043, ngày xuân phân (theo giờ UT - Universal Time) luôn rơi vào ngày 20 hoặc 21 tháng 3. Ngày xuân phân từng rơi vào ngày 19 tháng 3, gần đây nhất vào năm 1796 và lần tới là năm 2044.

12 cung hoàng đạo




STT
Tên Latinh
Tên thường gọi
Tên chòm sao tương ứng

Nghĩa/biểu tượng
Hoàng đạo dương lịch


1


Aries


Bạch Dương


Tên khác: Dương Cưu



Bạch Dương


Con cừu trắng


21/3 - 19/4


2


Taurus


Kim Ngưu


Kim Ngưu



Con bò vàng



20/4 - 20/5


3


Gemini


Song Tử


Tên khác: Song Nam, Song Sinh



Song Tử


Hai cậu bé song sinh (đôi lúc là hai cô bé)



21/5 - 21/6


4


Cancer


Cự Giải



Tên khác: Bắc Giải



Cự Giải

 
Con cua


22/6 - 22/7


5


Leo


Sư Tử


Sư Tử

 
Con sư tử



23/7 - 22/8


6


Virgo


Xử Nữ



Tên khác: Thất Nữ, Trinh Nữ



Thất Nữ


Trinh nữ


23/8 - 22/9


7


Libra


Thiên Bình



Tên khác: Thiên Xứng



Thiên Bình

 
Cái cân


23/9 - 23/10


8


Scorpion


Thiên Yết



Tên khác:Hổ Cáp, Thần Nông, Bọ Cạp, Thiên Hạt



Thiên Yết

 
Con bọ cạp


24/10 - 22/11


9


Sagittarius


Nhân Mã



Tên khác: Xạ Thủ, Cung Thủ



Nhân Mã


Nửa trên là người, nửa dưới là ngựa, cầm cung



23/11 - 21/12


10

Capricorn


Ma Kết



Tên khác: Nam Dương


Ma Kết

Nửa trên là dê, nửa dưới là đuôi cá



22/12 - 19/1


11


Aquarius


Bảo Bình



Tên khác: Thủy Bình



Bảo Bình

 
Người mang (cầm) bình nước


20/1 - 18/2


12

Pisces

Song Ngư


Song Ngư

Hai con cá bơi ngược chiều


19/2 - 20/3




Bạch Dương



Kim Ngưu





    Song Tử





   Cự Giải




      Sư Tử




    Xử Nữ



  Thiên Bình




Thiên Yết



Nhân Mã




Ma Kết




Bảo Bình




   Song Ngư



Bốn nhóm Hoàng Đạo và ngôi sao chiếu mệnh của từng cung


Bốn nhóm nguyên tố Hoàng Đạo

Vòng tròn Hoàng đạo chia thành 12 cung, phân ra bốn nguyên tố đã tạo ra của thế giới theo quan niệm cổ phương Tây: đất, lửa, nước, khí. Cứ ba cung là được xếp vào một nhóm nguyên tố, những cung cùng chung nhóm luôn tương hợp nhau nhất. Tuy nhiên, không phải hai cung khác nhóm lúc nào cũng kị nhau. Điển hình là nhóm Đất có thể kết hợp hài hòa cùng nhóm Nước và nhóm Lửa tương đối thích hợp với nhóm Khí.



Các nguyên tố
Đầu mùaGiữa mùaCuối mùaĐặc điểm






Nguyên tố Lửa
Bạch DươngSư TửNhân Mã

Nguyên tố Đất
Kim NgưuXử NữMa Kết
Nguyên tố KhíSong TửThiên Bình
Bảo Bình


Nguyên tố Nước
Cự GiảiBọ CạpSong Ngư



Sao chiếu mệnh các cung hoàng đạo

12 cung tương ứng với 12 ngôi sao và hành tinh, bao gồm cả Diêm Vương Tinh đã bị loại khỏi danh sách các hành tinh của hệ Mặt Trời:



  • Cung Bạch Dương được Hỏa Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần chiến tranh Mars trong thần thoại La Mã (Ares của thần thoại Hy Lạp).
  • Cung Kim Ngưu được Kim Tinh bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần Venus (Aphrodite của thần thoại Hy Lạp.)
  • Cung Song Tử được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần đưa tin Mercury (Hermes).
  • Cung Cự Giải được Mặt Trăng bảo hộ, tượng trưng cho nữ thần hôn nhân gia đình Junon (Hera trong thần thoại Hy Lạp)
  • Cung Sư Tử được Mặt Trời bảo hộ, tượng trưng cho thần mặt trời Helios.
  • Cung Xử Nữ được Thủy Tinh bảo hộ, tượng trưng cho trí tuệ, lòng chung thủy, cầu toàn nguyên tắc. (Demeter)
  • Cung Thiên Bình được Kim Tinh bảo hộ, cung này biểu tượng cho sắc đẹp, sự quyến rũ, công bằng. Tượng trưng cho nữ thần Venus.
  • Cung Hổ Cáp được Diêm Vương Tinh và Hỏa Tinh bảo hộ, tượng trưng cho Pluto (Hades), thần cai quan âm phủ.
  • Cung Nhân Mã được Mộc Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần sấm sét Jupiter (Zeus).
  • Cung Ma Kết được Thổ Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần của sụ hủy diệt Saturn (Cronos).
  • Cung Bảo Bình được Thiên Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần bầu trời Uranus.
  • Cung Song Ngư được Hải Vương Tinh bảo hộ, tượng trưng cho thần biển Neptune (Poseidon)

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

Ý Trinh sưu tầm Khổng Tước Minh Vương

Theo truyền thuyết nhà Phật kể lại, đại bàng Kim Sí Điểu và Khổng Tước là hai thần điểu có sức mạnh khai thiên lập quốc được sinh ra từ Phượng Hoàng.
Nghe đồn toàn thân Khổng Tước rực lửa cháy, chỉ cần đến gần là tan tành, là loài dã thú kiêu hãnh nên chảnh hay tác oai tác oái, thảm sát sinh linh, tính tình hung ác.
Khi Phật tổ Như Lai bị Khổng Tước nuốt vào trong bụng, Phật tổ định lấy tính mạng của Khổng Tước để giúp đời nhưng các vị tiên nói nếu Phật tổ giết Khổng Tước thì chẳng khác nào giết cha mẹ của mình.
Vì vậy, Khổng Tước được phong làm Phật Mẫu.
Do đó, luận về vai vế, đại bàng Kim Sí Điểu có thể coi là cậu của Phật Tổ.



孔雀明王​
​
​
Khổng tước: con công. Minh: sáng. Vương: vua.​
​
​


​
​
​

Minh Vương: Theo Phật Học Từ Điển, Minh Vương là chỉ những vị Tôn giả hầu cận Đức Phật Thích Ca, thọ giáo lệnh của Đức Phật, hiện thân hàng phục bọn ác ma. Các Tôn giả ấy có trí huệ và oai đức, đánh phá hết thảy các ma chướng, ủng hộ các nhà tu hành chơn thật. Tuy là người hầu cận, nhưng các Tôn giả cầm giữ giáo lệnh thì quyền uy cũng tựa như một vị Minh Vương.



Khổng Tước Minh Vương là vị Tôn giả hầu cận Đức Phật mà nguyên căn là một con công, sanh vào thời Khai Thiên lập Địa, tu thành, vâng mệnh Đức Phật cầm giữ giáo lệnh, hiện thân hàng phục bọn ác ma, ủng hộ các nhà tu hành.



- Trích Phong Thần Nội Truyện:
Nguyên có một con công được sanh ra từ thời Khai Thiên lập Địa, tu hành nhiều kiếp, đạt được thần thông. Vào thời Phong Thần, chim công nầy hiện thân xuống cõi trần là Khổng Tuyên, làm tướng cho vua Trụ, trấn giữ ải Tam Sơn, được vua Trụ sai đem binh đi đánh Khương Thượng (Khương Tử Nha).
Khổng Tuyên có năm đạo hào quang ngũ sắc rất mạnh mẽ, có thể thâu được các bửu bối Tiên gia và bắt các tướng dễ dàng. Các tướng của Khương Thượng không ai đánh lại Khổng Tuyên, vì không có cách nào khắc chế đạo hào quang ngũ sắc của Khổng Tuyên. Phải chờ Đức Chuẩn Đề Bồ Tát ở Tây phương đến mới thâu phục được Khổng Tuyên.
Khổng Tuyên ngâm kệ tỏ rõ tài phép của mình:

Có đất có Trời đã có ta,
Thần thông luyện tập sức bao la.
Thuở nay đủ biết trong mùi Đạo,
Từ giã non Tiên giúp nước nhà.​

Đức Chuẩn Đề Bồ Tát nói với Khổng Tuyên:
- Ngươi cùng Bần đạo có duyên phần, nên Bần đạo đến đây rước ngươi về Cực Lạc. Ngươi là kẻ có phước, tu hành lâu năm, đáng được hưởng cảnh thanh nhàn. Ở đây là cõi trần, không phải chỗ để ngươi cạnh tranh đường sanh tử.
Khổng Tuyên cười đáp: - Lời ấy gạt ta sao được.
Chuẩn Đề Bồ Tát nói: - Ngươi nghe ta đọc bài kệ nầy thì rõ:

Tây phương vui vẻ gọi Thiên đường,
Tích đức tu nhân mới được nương.
Giới cấm năm điều nêu sáng rỡ,
Từ bi hai chữ giữ hiền lương.
Khá theo thanh tịnh nơi am tự,
Chớ mến công danh giữa chiến trường.
Đổi cánh rụng lông thành chánh quả,
Múa men chi lắm chốn biên cương.​

Khổng Tuyên nghe bài kệ, không thức tỉnh, lại nổi giận vung đao chém Chuẩn Đề. Chuẩn Đề Bồ Tát cầm nhánh cây thất bửu gạt một cái thì đao rơi xuống đất. Khổng Tuyên lấy roi vàng đánh tiếp, cũng bị nhánh cây thất bửu gạt rơi xuống.
Khổng Tuyên chỉ còn hai tay không, liền vận hào quang ngũ sắc chụp xuống Chuẩn Đề. Chuẩn Đề Bồ Tát đứng giữa hào quang, hiện ra 18 tay đều có cầm bửu bối. Rồi nghe trong hào quang nổ lên một tiếng lớn, chẳng biết Chuẩn Đề Bồ Tát làm phép chi mà áo mão của Khổng Tuyên nát bấy, rơi xuống đầy chân ngựa, còn Khổng Tuyên đứng sửng bất động.
Chuẩn Đề Bồ Tát hiện pháp thân lại bình thường, đến trước mặt Khổng Tuyên nói:
- Khuyên chớ mê sa đường thế tục, hãy cùng ta trở lại Tây phương.
Nói dứt lời thì Bồ Tát mở dây lưng ra cột vào cổ Khổng Tuyên, lấy thiết tiên gác lên vai bảo:
- Xin Đạo hữu hãy hiện nguyên hình, cùng ta trở về Tây phương cho tiêu diêu khoái lạc.
Tức thì Khổng Tuyên hiện hình ra là một con công một mắt, mình mẩy đỏ tươi cao lớn phi thường, gọi là Châu Khổng Tước. (Châu hay Chu là màu đỏ).
Chuẩn Đề Bồ Tát cỡi lên mình Châu Khổng Tước, từ giã mọi người, rồi vỗ lên đầu Khổng Tước một cái, chim công liền xòe hai cánh lớn chiếu hào quang sáng chói, bay đi về hướng Tây mất dạng.
Kể từ đó về sau, Đức Chuẩn Đề Bồ Tát xuất du đều cỡi lên chim Khổng Tước nầy. (do vậy các bức tượng bắc truyền hay vẽ cưỡi trên con công

Những điềm báo trước khi chết

Những người tu hành đã đắc đạo, họ an lạc, tự tại, thong dong giữa hai bờ sống chết, họ có thể tái sinh về bất cứ cõi giới nào họ muốn. Còn chúng sanh mê muội, phàm phu tục tử đều phải tùy nghiệp mà thọ sanh, tức là sau khi chết, phải chịu sự dẫn dắt của nghiệp lực mà thọ sanh về cảnh giới thích ứng cho nghiệp mà mình đã gây tạo. Nói vậy không có nghĩa là Phật tử tin vào thuyết định mệnh, tức là cái đã sắp đặt sẵn mọi chuyện, mình phải đi theo cái có sẳn ấy. Ở đây, không phải vậy, người Phật tử tin rằng mình là chủ nhân ông của chính mình, tuy nhiên, một khi mình không làm chủ được mình để cho ác nghiệp đã được xảy ra, thì chính cái nghiệp ấy sẽ trở lại điều khiển mình. Do đó người Phật tử hãy thận trọng trong mọi hành vi, lời nói và ý nghĩ của mình, từ nơi đó sẽ đưa chúng ta tới an lạc, và cũng từ nơi đó sẽ đưa chúng ta đến khổ đau.


Những điềm báo trước khi chết
Trước khi một người chết, có những điềm báo trước, có thể tùy theo mỗi người mà có cảm thọ khác nhau về cảnh giới thiện hay cảnh giới ác, và những điềm này sẽ giúp cho ta dự đoán được nơi thọ sanh của người quá cố.



Những điềm lành báo trước sẽ có thể sinh về Tịnh độ:
Tâm hồn không bị bối rối
Biết trước ngày giờ chết
Tâm niệm chân chánh không mất
Biết trước giờ chết mà tắm rửa và thay quần áo.
Tự mình niệm Phật, niệm có tiếng hoặc niệm thầm
Ngồi ngay thẳng, chấp tay niệm Phật mà chết
Mùi thơm lạ lan tỏa khắp nhà
Có hào quang sáng soi vào thân thể
Nhạc trời vang dội giữa hư không
Tự nói ra bài kệ để khuyên dạy người ở lại.

Những điềm báo trước sẽ có thể thác sinh lên cõi trời:
Móng lòng thương mến
Phát khởi thiện tâm
Lòng thường vui vẻ
Chánh niệm được rõ ràng
Thân thể không bị hôi hám
Sống mũi không xiên xẹo
Tâm không giận dữ
Tâm không luyến ái tài sản, vợ, chồng, con, dòng họ
Mắt luôn trong sáng
Ngửa mặt lên trời và mỉm cười

Những điềm báo trước sẽ có thể tái sinh trở lại cõi người:
Đến khi chết vẫn nhớ nghĩ đến điều lành
Thân không đau khổ
Ít nói lời phô trương, thường nghĩ nhớ đến cha mẹ
Tai thường muốn nghe tên họ của anh chị em và bầu bạn
Đối với việc lành dữ nhận rõ không lầm loạn
Tâm tánh ngay thẳng không ưa sự dua nịnh
Biết rõ bà con bạn bè giúp đỡ cho mình
Thấy bà con trông nom sinh lòng vui mừng
Dặn dò mọi việc trong nhà trước khi chết
Sanh lòng chánh tín, thỉnh Phật, Pháp, Tăng đến đối diện quy y.




Những điềm xấu báo trước sẽ có thể đọa vào địa ngục:
Gặp phải tình trạng con cái và bà con đều nhìn kẻ sắp chết bằng đôi mắt ghét bỏ
Người sắp chết thường đưa hai tay lên mà rờ mó hư không
Dù bạn lành có khuyên bảo điều hay cũng không tùy thuận
Người sắp chết kêu gào than khóc
Đi ra đại tiện, tiểu tiện mà không hay biết
Nhắm nghiền đôi mắt
Thường hay che úp mặt mày
Nằm nghiêng mà ăn uống
Mình mẩy miệng mồm đều hôi hám
Gót chân, đầu gối luôn run rẩy
Sống mũi xiên xẹo
Mắt bên trái hay động đậy
Hai mắt đỏ ngầu
Úp mặt mà nằm
Thân hình co rút và tay bên trái chấm xuống đất




Những điềm báo trước sẽ có thể thác sinh vào cõi giới ngạ quỷ:
Ưa liếm môi miệng
Thân nóng như lửa
Thường lo đói khát và hay nói đến việc ăn uống
Mắt thường hay trương lên mà không nhắm
Hai mắt khô khan như mắt chim gỗ.
Đầu gối bên phải lạnh trước
Tay bên phải thường nắm lại



Những điềm báo trước sẽ có thể thác sinh vào loài súc sanh:
Yêu mến vợ con, đắm đuối không bỏ
Ngón tay và ngón chân đều co quắp
Khắp trong thân mình đều toát ra mồ hôi
Tiếng nói ra khò khè
Miệng thường ngậm đồ ăn
Trích trong sách của một Lạt-Ma Tây-Tạng




NHỮNG ĐIỀM DỰ BÁO TRƯỚC KHI TAI NẠN , TỬ VONG XẢY RA CHO MỘT NGƯỜI .

1.- Có những điềm báo trước gì , trong vòng một tháng trước khi con người bị tai nạn và tử vong ?
* Con người tuổi từ 50 tuổi trở xuống , bất luận là bị chết thê thảm như thế nào trong những tai nạn tử vong , thì trong vòng 1 tháng trước khi họ bị chết thì thông thường có những điềm báo hiệu như sau :
- Tự nhiên muốn ăn cơm nhiều hơn thói thường ngày trước đó .
- Khi làm việc gì , thì lực có thừa nhưng tâm bất túc , không hăng làm việc như trước đó , chỉ muốn đi ngũ , nói chuyện hồ đồ , nói câu trước , quên câu sau .
- Một điều lộ ra rất rỏ ràng là , khi đến khoảng 5 giờ chiều trở đi , thì không muốn làm việc gì cả , chỉ muốn đi ngũ mà thôi ; khi ngũ thì thường nằm mơ thấy mình cùng những người đả chết sinh hoạt hay nói chuyện với họ , khi đến 12 giờ đêm trở đi , thì họ ngũ không được , mà con người rất tỉnh táo , trằn trọc mở mắt như thế cho đến sáng .
- Thường xem và trông thấy những động vật có những hành động dị thường như : chim chóc , ếch ....thông thường thì chúng khi đi chúng nhảy nhót để đi , nhưng khi họ nhìn thấy các động vật nầy , thì chúng lại đi từ bước một để di chuyển , chứ không nhảy nhót để đi như lúc bình thường .


2.- Một người già cả bị bệnh và chết , thì trong vòng nửa tháng trước khi chết , thường có những điềm báo gì ?
* Sinh mạng con người có giới hạn và mọi người đều phải chết vào một ngày nào đó ; sự tử vong của người già , thông thường họ trước tiên bị bệnh , rồi sau đó mới chết , thì trước khi chết trong vòng nửa tháng thường có những điềm báo hiệu sau :
- Số lượng cơm ăn hàng ngày so với lúc thường có sự tương phản , lúc trước ăn ít nay ăn nhiều lên hay ngược lại , tự nhiên lại muốn ăn cái nầy , xong lại muốn ăn cái kia .
- Ngôn ngử tự nhiên có những thay đổi tương phản với hằng ngày , như trước đó nói nhiều , bây giờ lại nói ít đi ; lúc trước nói ít nay lại thích nói chuyện huyên thuyên .
- Trong lòng bồn chồn nóng này , tâm tư ưu sầu không được an lạc ổn định ; đặc biệt là tính dục lại tăng lên .
Tất cả những điềm trên là những hiện tượng dị thường xảy ra trong vòng nửa tháng trước khi người già bệnh sẻ bị chết vậy .


3.- Những trẻ em trong gia đình trước khi bị chết , thì thông thường cha mẹ có những điềm báo dự báo như sau :
- Cha mẹ khi làm việc thì tâm trí không được tập trung chuyên chú , tâm hoang mang hoảng hốt , trong tâm cảm thấy hình như bị mất đi một vật gì rất là quan trọng , lâu lâu tâm tình lại cảm thấy bất ổn .
- Cha mẹ nằm mơ thường thấy hàm răng dưới bị mất răng , hay thiếu mất răng hàm dưới .
- Tất cả các phương diện của đứa trẻ hoàn toàn khác thường , khác với lúc bình thường .
- Nếu nhà có nuôi gà mái , thì lúc nầy lại biến thái và gáy như gà trống vậy .
Các điềm trên báo hiệu đứa trẻ sẻ sắp bị thân diệt hay bị tử vong gần xảy ra cho đứa trẻ nầy .


4.- Con người trước khi gặp thương tật xảy ra , tai họa , hay tiền tài suy thối thì có những điềm gì ?
- Con người dù trẻ trung , thanh niên hay lảo niên , trước khi họ gặp tai nạn , tai họa ....trong vòng 1 tháng họ sẻ có những điềm lạ dự báo như sau :
- Cơm ăn ít hơn , ăn cơm không vô .
- Trước nửa đêm thì khó ngũ , sau nửa đêm thì ngũ được , nhưng trong tâm tư cảm thấy khẩn trương , tâm không yên .
- Thường trông thấy những động vật làm tình với nhau xuất hiện trước mắt mình .
Những điềm trên chứng tỏ là họ sắp bị tai nạn hay hao tiền tốn của .


5.- Con người khi đến năm 36 tuổi thì cần nên cẩn thận trong mọi việc , và lấy sự an toàn làm trọng ; vì trong năm 36 tuổi được xem là điểm sinh tử của một người ; Các hiện tượng tử , thương tật , bệnh hoạn .....thì khoảng 60 % đều xảy ra trong hạng tuổi 36 tuổi nầy . Có truyền thuyết là khi ai đến đầy 36 tuổi thì nên tổ chức một buổi tiệc ăn mừng linh đình để có thể tai qua nạn khỏi và tránh tai nạn .


6.- Sinh mạng thọ yểu , ngắn dài của một con người đều được ấn định và đều có số mạng , ta có thể biết được điều đó qua các ngón tay củan họ :
- Ngón trò và ngón út bằng nhau hay ngón út thô to dị thường , thì người nầy đoản thọ .
- Ngón trỏ dài nhơn ngón út và ngón trỏ dài bằng ngón giửa , thì người nầy trường thọ .


7.- Khi nhìn hàm răng của một người ta có thể biết được người nầy phát tài , thăng quan tiến chức hay có công ăn chuyện làm hay không như sau :
- Người nào có hàm răng trên là số lẻ và hàm răng dưới là số chẳn , tổng cộng số răng của hai hàm là 31, 33, 35 thì người nầy tài vận tốt , thường phát tài ; còn những ai mà số răng của hai hàm trên dưới cộng lại ít hơn 30 và tổng số là số chẳn như 30 , 28 , 26 thì tài vận của những người nầy không được tốt , một đời cực khổ .


8.- Bí quyết đoán biết sanh nam hay sinh nữ :
Khi phụ nữ có thai khoảng hai tháng , thì ở giửa bụng chạy xuống chổ kín có hiện lên một lằn gân màu đỏ lợt hoa văn , nếu đường nầy chạy lệch bên trái là sinh nam và lệch bên mặt là sinh nữ ; sau khi sanh nở xong thì , lằn đỏ hồng nầy sẻ tan biến mất .