Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

Ý Trinh đọc Mahayana và Theravada


Mahayana và Theravada "cùng một cỗ xe"



Dù là tông phái nào đi nữa, đó cũng chỉ là giáo pháp phương tiện giúp ta tu tâm tịnh ý để được an lạc và giải thoát. Cần phải hiểu rõ nguồn gốc và hoàn cảnh lịch sử trong tiến trình phát triển các bộ kinh điển và tông phái, để có được một sự thông cảm, hòa đồng và tương kính.
Phật giáo ngày nay có nhiều tông phái với các truyền thống khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta thường phân biệt hai tông phái chính: Phật giáo Đại thừa - Mahayana, và Phật giáo Nguyên thủy - Theravada. Phật giáo Mahayana thịnh hành ở các nước Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên, và Nhật Bản. Trong khi đó, Phật giáo Theravada được lưu truyền rộng rãi ở Tích Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt.


Riêng Việt Nam có lẽ là một quốc gia Á Châu đầu tiên mà cả hai tông phái lớn này đều được chính thức thừa nhận và đã cộng tác hoạt động trong nhiều thập niên qua. Tông phái Đại thừa có một truyền thống lâu đời và đã có mặt tại Việt Nam do các tu sĩ Ấn Độ truyền sang vào cuối thế kỷ thứ II C.N [10, t. 47]. Tông phái Nguyên thủy cũng có mặt tại vùng đất nầy qua nhiều thế kỷ trong các cộng đồng người Khơ me (Cao Miên) tại miền Nam Việt Nam, và được truyền bá đến các phật tử người Việt trong thập niên 1940 [11, t. 15]. Trong những năm gần đây lại có những dự án dịch thuật các kinh điển của cả hai truyền thống, từ các văn bản gốc tiếng Hán và tiếng Pali, sang tiếng Việt hiện đại.


Trong bài viết ngắn dưới đây, tôi xin mạn phép trình bày sơ lược về nguồn gốc của Mahayana và Theravada, lồng trong bối cảnh lịch sử phát triển của đạo Phật tại Ấn Độ trong khoảng 1000 năm đầu tiên sau khi đức Phật nhập Niết Bàn. Tiến trình đó được tạm chia làm ba thời kỳ: thời kỳ nguyên thủy (100 năm), thời kỳ bộ phái (400 năm), và thời kỳ chuyển hóa (500 năm).



1. Thời kỳ nguyên thủy


Trong 45 năm truyền dạy đạo pháp, đức Phật đã để lại rất nhiều bài giảng, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, cho nhiều người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội. Các bài giảng này thường được các vị tu sĩ đệ tử ghi nhớ, sắp xếp lại, truyền khẩu cho nhau, và dùng để giảng lại cho người khác. Khi được phân phối đi hoằng dương đạo pháp ở các vùng khác nhau, các bài giảng nầy thường được chuyển dịch ra tiếng địa phương và điều này được đức Phật chấp nhận và khuyến khích [1, t. 42].


Có một lần, hai vị đại đức Yamelu và Tekula xin phép đức Phật để ghi chép và chuyển dịch những bài giảng của Ngài sang tiếng Vedic, vốn là văn tự của giới quý tộc dùng để phúng tụng kinh Vệ Đà, để bảo đảm tính nhất quán và chính xác của các bài kinh, nhưng Phật không đồng ý. Ngài cho rằng các bài giảng của Ngài phải được phổ biến đến mọi người qua ngôn ngữ địa phương để họ có thể nghe, hiểu và thực hành được [1, t. 43]. Cũng vì vậy mà dù rằng đức Phật dùng tiếng Magadhi (Ma Kiệt Đà) để giảng pháp, nhưng các bài giảng đã được truyền khẩu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.


Sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Ma Ha Ca Diếp triệu tập một hội đồng gồm khoảng 500 tu sĩ tại vùng đồi núi ngoại thành Vương Xá (Rajagaha) để kết tập kinh điển, sau này được gọi là Đại hội Kết tập lần thứ Nhất. "Kết tập" có nghĩa là thu góp, tập hợp lại, ôn lại, đừng để cho tán thất. Tiếng Phạn là "sangiti", có nghĩa là cùng nhau tụng lại (chanting together). Trong Đại hội này, ngài Ma Ha Ca Diếp là chủ quản, ngài A Nan Đa đọc lại các bài kinh giảng và ngài Ưu Ba Ly đọc lại các điều luật. Sau lần kết tập đầu tiên này, bộ Luật tạng và bộ Kinh tạng được đúc kết [2, t. 69]. Lúc ấy, Kinh Tạng được chia ra thành 4 bộ chính: Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, và Tăng Chi Bộ.


2. Thời kỳ bộ phái


Sau đó, nhiều phái đoàn truyền giáo được gửi đi các nơi để hoằng dương đạo pháp, từ miền Trung Ấn đến mạn Nam và mạn Tây xứ Ấn Độ. Trong thời kỳ này có nhiều biến động, thay đổi bố cục chính trị giữa các vương quốc trong vùng, và vì thế có nhiều thay đổi trong sinh hoạt xã hội, tạo ảnh hưởng đến các sinh hoạt tăng đoàn, nhất là tại những nơi mà Phật giáo còn mới, chưa vững mạnh. Nhiều tu sĩ trẻ trong những vùng này bắt đầu cảm thấy có nhu cầu cần sửa đổi giới luật và lề lối sinh hoạt để phù hợp với đời sống địa phương.


Một trăm năm sau ngày đức Phật nhập diệt thì có một Đại hội Kết tập lần thứ II tại thành Vaisali với 700 tu sĩ, mục đích chính là để giải quyết các tranh chấp về 10 điều luật căn bản, trong đó có luật cấm các tu sĩ thu nhận vàng bạc do dân chúng cúng dường [2, t. 80]. Nhưng thêm vào đó, Đại hội cũng duyệt lại các kinh điển, và kết tập một số bài kinh giảng không được đúc kết lúc trước. Đó là những cơ sở để thành hình bộ kinh thứ 5, Tiểu Bộ, về sau này [3, t. 50-56].


Vì Đại hội quyết định giữ nguyên 10 điều giới luật căn bản mà không sửa đổi, một số tu sĩ trẻ không hài lòng và bắt đầu có khuynh hướng ly khai. Đây là mầm mống đưa đến sự phân chia đầu tiên trong tăng đoàn: bộ phái Trưởng Lão Thuyết Bộ (Sthaviravada) gồm các tu sĩ có khuynh hướng bảo thủ, và Đại Chúng Bộ (Mahasanghika) gồm các tu sĩ có khuynh hướng cải cách [2, t. 81].


Một trăm năm sau đó, một Đại hội Kết tập lần thứ III được triệu tập dưới thời vua A Dục (Asoka), 268-232 T.C.N. (Trước Công Nguyên). Dưới sự chỉ đạo của ngài Mục Kiền Liên Tu Đế (Moggaliputta Tissa), Đại hội này gồm khoảng 1000 tu sĩ đúc kết Kinh tạng và Thắng Pháp tạng. Kinh tạng (Sutta Pitaka) giờ đây gồm 5 Bộ Kinh: Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu Bộ, Tương Ưng, và Tăng Chi [2, t. 109]. Thêm vào đó, tổ chức tăng đoàn theo truyền thống Trưởng Lão Thuyết được chấn chỉnh lại theo đúng các giới luật.


Trong thời kỳ này, Đại Chúng Bộ bắt đầu phân chia ra thành nhiều tông phái. Nhiều nhà sử học ghi nhận có tất cả bốn lần phân chia, tổng cộng là 7 tông phái trong vòng 200 năm. Bên cạnh đó, Trưởng Lão Thuyết Bộ cũng bị phân chia bảy lần, tạo ra mười một tông phái [2, t. 111]. Vì vậy mà ngày nay có nhiều sách viết về "mười tám tông phái", cộng thêm với hai bộ phái đầu tiên [4, t. 123]. Tuy nhiên, cũng có sách đã liệt kê đến 34 tông phái [2, t. 115].


Vua A Dục là một vị vua rất sùng bái đạo Phật, và đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc phát huy đạo pháp. Ngài đã gửi nhiều phái đoàn đi truyền giáo nhiều nơi. Trong đó có Đại đức Mahinda, một trong những người con của ngài, cùng với 4 vị tu sĩ được gửi sang đảo Tích Lan để truyền bá đạo Phật. Một mặt khác, đạo Phật cũng được phát triển rộng rãi ở mạn Tây Bắc, và trung tâm Phật giáo ở Kashmir trở thành một trong những trung tâm chính thời đó. Trong thời kỳ này, các tư tưởng Đại thừa bắt đầu thành hình, và thâm nhập vào một vài tông phái của Đại Chúng Bộ, chẳng hạn như tông Thuyết Xuất Thế Bộ (Lokottaravadin).


3. Thời kỳ chuyển hóa: Theravada


Khi Đại đức Mahinda và phái đoàn truyền giáo sang Tích Lan, ngài được vua Tích Lan giúp xây cất một ngôi chùa lớn, gọi là Đại Tự Viện (Mahavihara), và từ đó thành lập tông phái Đại Tự Viện ở xứ này. Một trăm năm sau thì một ngôi chùa khác, tự viện Vô Úy Sơn (Abhayagiri), được xây cất và các tu sĩ ở chùa này bắt đầu tạo ảnh hưởng lớn mạnh ở Tích Lan. Thêm vào đó, cũng có nhiều nhóm tu sĩ với khuynh hướng đại thừa từ Ấn Độ sang hoạt động tại xứ này, nhưng không có ảnh hưởng sâu rộng. Sự tranh giành ảnh hưởng giữa hai tông phái nguyên thủy Đại Tự Viện và Vô Úy Sơn kéo dài qua nhiều thế kỷ, và chỉ chấm dứt vào khoảng thế kỷ thứ 12, khi nhóm Đại Tự Viện được vua Parakkamabahu chính thức thừa nhận, kết tạo thành tông phái Theravada như chúng ta thấy được ngày nay.


Vào những thập niên cuối cùng trước công nguyên (29-17 T.C.N.), khoảng 500 tu sĩ phái Mahavihara tập họp lại và bắt đầu cho viết các bộ Kinh, Luật và Thắng Pháp trên một loại giấy bằng lá bối đa. Lần đầu tiên, sau gần 500 năm truyền khẩu, ba bộ Tạng được ghi chép hoàn toàn trên lá bối, và từ đó bộ Tam Tạng kinh điển hệ Pali được tạo ra và lưu truyền cho đến ngày nay.

Đó là Đại hội Kết tập lần thứ IV. Sở dĩ văn tự Pali được dùng vì đó là ngôn ngữ chính thống miền Tây Ấn và là ngôn ngữ sử dụng bởi ngài Mahinda. Nhờ tình trạng xã hội tương đối ổn định và đảo Tích Lan tương đối biệt lập nên các bộ Tam Tạng nầy đã được gìn giữ nguyên vẹn, dù rằng trong khi sao chép chuyển truyền từ đời nầy sang đời khác, có thể có một vài sửa đổi, sơ sót. Nhưng đó chỉ là các đoạn nhỏ, không quan trọng [3, t. 59-60].

Từ đó, Đại Tạng Kinh được truyền bá sang các nước lân cận như Miến Điện, Thái Lan, Lào, và Cam Bốt. Ngoài ra, một số các bài luận thuyết của các danh sư trong thời kỳ nầy, như bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) của ngài Phật Âm (Buddhaghosa) trước tác trong thế kỷ 4 C.N., bộ Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammattha Sangaha) của ngài Anuruđha, ... cũng được quý trọng, gìn giữ và lưu truyền cho đến ngày nay.


Danh từ Theravada là tiếng Pali, đồng nghĩa với chữ Sthaviravada của tiếng Sanskrit, có nghĩa là giáo thuyết của các vị trưởng lão (Doctrine of the Elders). Sách Tàu thường dịch là Trưởng Lão Bộ, có khi dịch là Thượng Tọa Bộ, nhưng dịch sát nghĩa là Trưởng Lão Thuyết Bộ, là một trong hai bộ phái chính từ thời kỳ nguyên thủy.

Tuy nhiên, danh từ Theravada ngày nay thường được dùng để chỉ truyền thống Phật giáo Nam tông, bắt nguồn từ Tích Lan, chịu nhiều ảnh hưởng của nhóm Đại Tự Viện (Mahavihara), do Đại đức Mahinda và các tu sĩ thuộc tông phái Phân Biệt Thuyết Bộ (Vibhajyavada), một nhánh của Trưởng Lão Thuyết Bộ, truyền bá vào Tích Lan khoảng 200 năm trước Công nguyên. Có sách cho rằng thật ra, ngài Mahinda thuộc truyền thống Xích Đồng Diệp Bộ (Tamrasatiya), bộ phái của các tu sĩ mặc y màu đồng đỏ và là một nhánh nhỏ của Phân Biệt Thuyết Bộ [12, t.17-18]. So với các tông phái khác vẫn còn hoạt động ngày nay, truyền thống Theravada có thể được xem như là một truyền thống tương đối lâu đời nhất, tương đối gần với thời kỳ nguyên thủy nhất.


4. Thời kỳ chuyển hóa: Mahayana


Khoảng 200 năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn, phái Đại Chúng Bộ bành trướng tại nhiều vùng của xứ Ấn Độ và bắt đầu phân hóa thành nhiều tông phái, trong đó có tông phái Lokottaravada (Thuyết Xuất Thế). Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu, các tông phái đều sử dụng kinh điển A hàm (Agama) bằng ngôn ngữ Sanskrit, mặc dù đã có một vài sửa đổi để hàm chứa tư tưởng đại thừa. Cho đến nay, các sử liệu đều chỉ rằng kinh điển đại thừa bắt đầu xuất hiện trong những năm cuối cùng trước Công nguyên, lúc đầu là một vài bài kinh ngắn, về sau được bổ sung thêm và bành trướng, kết tập lại thành những bộ kinh lớn.


Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa biết đích xác là danh xưng Mahayana - Đại thừa bắt đầu được sử dụng vào lúc nào, bắt nguồn từ tông phái nào trong thời kỳ bộ phái. Đầu tiên, danh xưng Bồ tát Thừa được dùng, rồi dần dần về sau, danh xưng Đại thừa xuất hiện trong các bộ kinh mới. Bộ kinh đầu tiên có đề cập đến danh xưng nầy là bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Có lẽ đó là kết tụ của những tiến hóa tư tưởng trong mấy trăm năm sau khi có sự phân hóa tăng đoàn lần đầu tiên. Có học giả cho rằng Mahayana bắt nguồn từ Đại Chúng Bộ vì cùng có những ý niệm phóng khoáng trong giới luật. Tuy nhiên các ý tưởng của tông phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivadin), một tông chính của Trưởng Lão Bộ, cũng được thu dụng và hàm chứa trong kinh điển Mahayana. Có học giả cho rằng Mahayana phát nguồn từ các tu sĩ có tư tưởng cải cách từ nhiều tông phái khác nhau, như tông Nhất Thuyết Bộ (Ekavyavaharika), Thuyết Xuất Thế Bộ (Lokottaravadin), Kế Dẫn Bộ (Kaukutika), v.v... [2, t. 261].


Kinh điển Đại thừa bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, có hệ thống hơn, từ thế kỷ 1 C.N. trở về sau. Tiếc rằng các bộ kinh đầu tiên, như Kinh Duy Ma Cật, Liễu Ba La Mật, Bồ tát Tạng, Tam Pháp Kinh, v.v... nay không còn nguyên bản Sanskrit, mà chỉ còn dịch bản chữ Hán và Tây Tạng, nên không thể đối chiếu, truy tầm nguồn gốc [2, t. 276]. Tuy nhiên các bộ kinh đại thừa quan trọng khác như Đại Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, A Di Đà vẫn còn các bản gốc tiếng Sanskrit [2, t. 275-295].


Sự xuất hiện các bộ kinh đại thừa và sau đó là các quyển luận thuyết của các ngài Mã Minh, Long Thọ, Long Trí, Đề Bà, Vô Trước, Thế Thân trong bốn thế kỷ đầu Công nguyên đánh dấu sự thành hình và bành trướng nhanh chóng của Phật giáo Mahayana trong toàn xứ Ấn Độ. Ảnh hưởng nầy đã dần dần lan rộng sang Trung Hoa, và từ đó có những phong trào truyền bá, chuyển dịch kinh điển ở Trung Hoa qua nhiều thế kỷ, từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7 C.N., qua ba ngõ giao thông chính: đầu tiên là qua miền Trung Á, qua ngõ Nepal - Tây Tạng, và bằng đường biển.


5. Cùng một cỗ xe: Pháp thừa (Dhammayana)


Tóm lại, trong 100 năm sau khi Đức Phật tịch diệt, giữa Đại Hội Kết Tập Lần I và II, Đạo Phật được xem như là ở trong thời kỳ nguyên thủy, với một tăng đoàn tương đối còn ít, có nhiều liên hệ chặt chẻ, giới luật thuần nhất, dưới sự lãnh đạo của các cao tăng vốn đã xuất gia và thọ giới khi Đức Phật còn tại thế.


Sang thời kỳ bộ phái, kéo dài khoảng 400 năm từ sau Đại Hội II cho đến đầu Công nguyên, các mầm mống phân hoá đã bắt đầu xuất hiện, với sự phân chia thành hai Bộ, và sau đó tiếp tục phân hóa thành 18 tông. Qua Đại Hội III được tổ chức dưới triều vua A Dục, việc kết tập Kinh Tạng và Thắng Pháp Tạng xem như đã hoàn tất. Mặc dù trong thời kỳ nầy các kinh A Hàm và giới luật nguyên thủy vẫn được các tông phái tôn trọng - với những cách diễn dịch khác nhau - các ý tưởng canh tân, đại chúng hóa đạo pháp bắt đầu thành hình, nhất là trong thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên.


Thời kỳ tiếp theo là thời kỳ chuyển hóa, kéo dài khoảng 500 năm cho đến đầu thế kỷ 6. Trong thời kỳ nầy, Phật giáo bắt đầu có hai hướng phát triển khác nhau, và kéo dài ảnh hưởng đến ngày nay. Từ Ấn Độ, đạo Phật được truyền về hướng Nam, sang đảo Tích Lan, và tạo lập một căn bản vững chắc ở đó. Đại Hội Kết Tập lần IV tại Tích Lan đánh dấu việc ghi chép toàn bộ Tam Tạng Kinh - Luật - Thắng Pháp trên lá bối, và được lưu truyền cho đến ngày nay qua truyền thống Theravada.


Cũng trong thời kỳ nầy, các tư tưởng canh tân của Đại thừa đã bắt đầu tạo ảnh hưởng lớn mạnh, qua các bộ kinh điển mới và qua các bộ luận thuyết của các danh tăng vào giữa và cuối thời kỳ nầy. Các tông phái Đại thừa bắt đầu xuất hiện và tăng trưởng nhanh chóng. Đạo Phật truyền sang mạn Tây Bắc, tạo lập trung tâm Phật giáo ở Kashmir, và từ đó truyền vào Trung Hoa.


Khi đạo Phật bắt đầu bành trướng ở Trung Hoa, tăng đoàn ở đó đã thu nhận và chuyển dịch rất nhiều kinh điển, từ nhiều nguồn gốc và tông phái khác nhau, và qua nhiều thời kỳ lịch sử. Các bộ Tam Tạng nguyên thủy được dịch ra chữ Hán từ hai, ba tông phái khác nhau, chẳng hạn như từ tông Thuyết Xuất Thế Bộ và Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Các bộ kinh chính của Đại thừa cũng thế, có nhiều thay đổi theo thời gian, và được bổ sung, sửa chữa nhiều lần. Có khi các bộ kinh nầy chỉ được truyền khẩu bằng tiếng Phạn vào Trung Hoa, rồi sau đó mới được dịch, giản lược, nhuận sắc và ghi chép lại [5, t. 365-368]. Có khi các danh tăng Trung Hoa du hành sang Ấn Độ học tập rồi mang về các bộ kinh điển để phiên dịch và phổ biến trong nước. Cũng có những bộ kinh không có nguồn gốc rõ ràng và có lẽ đã được trước tác tại Trung Hoa. Ngài Đạo An trong thời Đông Tấn, thế kỷ thứ 4 CN, đã từng đặt vấn đề "kinh nghi ngụy" để xác định kinh thật, kinh giả. Cả hai truyền thống chính -- Theravada và Mahayana -- đều có mặt tại xứ nầy trong thời gian đó.


Để sắp xếp và thống nhất nguồn gốc của các loại kinh điển, các tăng sĩ thời đó đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau (các học thuyết "phán giáo"). Trong đó, thuyết của ngài Trí Giả, tông Thiên Thai , là phổ thông nhất và vẫn còn thấy lưu dụng cho đến ngày nay trong một số sách Phật giáo. Ngài cho rằng Đức Phật đã giảng kinh pháp trong 5 thời kỳ (ngũ thời phán giáo): Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, và Pháp Hoa - Đại Niết Bàn [5, t. 442], và vì thế có nhiều loại kinh điển từ nhiều tông phái khác nhau. Tuy nhiên, đây chỉ là một lối giải thích chủ quan để tổng hợp, hệ thống hóa toàn bộ kinh điển và biện minh sự siêu việt của Pháp Hoa tông mà thôi. Giả thuyết nầy không có chứng liệu lịch sử, và không được các nhà nghiên cứu sử học Phật giáo ngày nay công nhận [5, t. 305-310; 6, t. 151-152].


Tại Tích Lan cũng thế, trong những thế kỷ đầu tiên, cả hai truyền thống Mahayana và Theravada đều có mặt tại xứ nầy, mặc dù truyền thống Theravada có ảnh hưởng mạnh hơn, như ngài Pháp Hiển đã ghi nhận trong quyển Phật Quốc Ký [8, Ch. 2]. Ngài cũng ghi nhận là có các nhóm tu sĩ phái Đại Tự Viện, tuy là Theravada nhưng có tinh thần đại thừa rất cao [2, t. 275]. Còn tại Ấn Độ, các ngài Huyền Trang [9] và Pháp Hiển đều ghi nhận sự hoạt động hài hòa của nhiều tông phái khác nhau trong nhiều thế kỷ.


Ở Việt Nam, cả hai tông phái Mahayana và Theravada đều được công nhận và cùng chung nhau hoạt động trong công tác hoằng dương đạo pháp. Hiến chương Phật giáo Việt Nam soạn ra năm 1963 đã chính thức xác nhận điều đó [4, t. 394]. Tuy nhiên, để tránh hiểu lầm, chúng ta không nên dùng chữ "Tiểu thừa" để gọi tông phái Theravada. Điều nầy thường gặp trong một số sách báo và bài viết về đạo Phật. Thật ra, "Tiểu thừa" là dịch từ chữ "Hinayana" -- cỗ xe nhỏ -- một chữ dùng rất nhiều trong kinh điển và luận thuyết Đại thừa, có hàm ý chê bai, khinh miệt. Có lẽ đây là một dụng ý thâm sâu của các tu sĩ luận sư Đại thừa để chê bai các bộ phái nguyên thủy, bởi vì nếu họ chỉ có ý muốn diễn tả một cỗ xe nhỏ thì danh từ "Culayana" có ý nghĩa chính xác và nghiêm túc hơn.


Cũng cần ghi nhận ở đây là các danh xưng Đại thừa và Tiểu thừa chỉ thấy đề cập trong kinh luận Mahayana xuất hiện về sau, mà không thấy trong kinh điển nguyên thủy. Trong hệ Pali Nikaya cũng như hệ Hán tạng A-hàm, Đức Phật có dạy ngài Ananda về một cỗ xe Pháp duy nhất, Pháp thừa (Dhammayana), đó là Con Đường Tám Chánh (Bát Chánh Đạo), như đã ghi lại trong Tương Ưng Bộ và Tạp A-hàm (SN XLV.4, SA 769):


"Này Ananda, Con Đường Tám Chánh nầy là đồng nghĩa với cỗ xe tối thượng, là cỗ xe Pháp, là sự chiến thắng vô thượng trong mọi chiến trận nhiếp phục tham, sân, si."


Khi đọc kinh điển, chúng ta cần phải hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử xã hội khi các kinh nầy được tạo ra. Các kinh Đại thừa được trước tác và xuất hiện vào cuối thời kỳ bộ phái, nghĩa là khoảng 400-500 năm sau khi Đức Phật tịch diệt. Đây là các tư tưởng cải cách để đại chúng hóa đạo Phật, đối kháng lại đường lối thủ cựu, giáo điều, chấp kiến và vị kỷ của một số tu sĩ trong giới lãnh đạo tăng đoàn của nhiều tông phái thời bấy giờ, chứ không phải để ám chỉ riêng biệt một tông phái nào cả [2, t. 257].


Khuynh hướng ngày nay là dùng chữ Mahayana và Theravada nguyên ngữ để chỉ hai tông phái chính này. Khi dịch sang Việt ngữ, thường thì chúng ta dùng danh từ Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên thủy, nhưng cũng có sách dùng danh từ Phật giáo Bắc truyền (Bắc tông) và Phật giáo Nam truyền (Nam tông) để chỉ hướng truyền đạo của Phật pháp trong thời kỳ chuyển hóa [7, t. 202]. Gần đây lại thấy có sách dùng danh xưng Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) và Phật giáo Phát triển (Mahayana) cho hai hệ phái chính ở Việt Nam [13, t. 7].


Dù là tông phái nào đi nữa, đó cũng chỉ là giáo pháp phương tiện giúp ta tu tâm tịnh ý để được an lạc và giải thoát. Cần phải hiểu rõ nguồn gốc và hoàn cảnh lịch sử trong tiến trình phát triển các bộ kinh điển và tông phái, để có được một sự thông cảm, hòa đồng và tương kính. Trong kinh Pháp Hoa, Phật có nói: "Chư Phật chỉ dùng một cỗ xe duy nhất đưa đến giải thoát (Nhất thừa Phật đạo), không có hai mà cũng chẳng có ba", và trong Tiểu Bộ và Tăng Chi Bộ của kinh tạng nguyên thủy, Ngài cũng dạy rằng: "Như tất cả các đại dương đều có cùng một vị mặn, các giáo pháp của Ta cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị giải thoát."


Bình Anson
Perth, Western Australia
Tháng 04, 1996
Hiệu đính: Tháng 10, 1999

Chú thích: Nội dung đã được đăng trên một số trang online cá nhân, đăng trên phatgiao.org.vn với sự đồng ý của tác giả biên soạn

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

Ý Trinh : ĐẠO PHẬT VÀ CON SỐ 108


ĐẠO PHẬT VÀ CON SỐ 108
Hoàng Phước Đại



Cây bồ đề được coi là một trong những biểu tượng của nhà Phật. Nơi Đức Phật thiền định để tìm ranguồn gốc mọi khổ đau, con người phải hứng chịu. Gỗ của cây bồ đề được dùng làm tràng hạt sử dụngtrong các buổi trì chú hoặc tụng kinh. Xâu chỗi tràng hạt thường có 108 hạt.





Xâu chuỗi tràng hạt

108 hạt bồ đề, tượng trưng cho 108 phiền não của con người. Theo thuyết nhà Phật, các phiền não xuất phát từ vô minh.

Con người có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức. Khi mắt tiếp xúc với cảnh vật; tai nghe được âm thanh; mũi nhận thức được mùi hương; lưỡi tiếp xúc và biết được vị mặn ngọt; thân thể cảm giác được sự nóng lạnh; ý thức nhận biết của não bộ sẽ làm cho con người khởi sinh cảm giác hoặc vui ( lạc ) hoặc buồn ( khổ ) hoặc không vui, không buồn ( vô ký ), làm cho thân, tâm chúng ta hoặc thanh tịnh hoặc bị ô nhiễm rối bời, từ đó gây ra 108 phiền ở trong cả 3 thời quá khứ, hiện tại và tương lai.




6 thức
3 cảm thọ
2 giới
3 thời


Mắt, tai, mũi, lưỡi thân và ý thức

Lạc, khổ, vô ký

Nhiễm, thanh tịnh

Quá khứ, hiện tại , tương lai.

6 x
3 x
2 x
3 x
= 108

Số 108 thường xuất hiện trong các công trình Phật giáo. Có 108 cuốn sách Luật, Luận ghi lại lời Phật dạy, để các môn đệ của Ngài noi theo tu học hàng ngày. Ngôi chùa Hải Ấn Tự hay còn gọi là Tàngkinh các ở Hàn Quốc, nơi cất giữ các Bộ Kinh, Luật, Luật của Phật được thiết kế với kiến trúc 108 cột độc đáo tượng trưng cho 108 phiền não. Các ngôi chùa lớn thường xây dựng 108 bậc thang để dẫn vào chánh điện. Hàm ý nhắc nhở chúng ta cần phải vượt qua 108 khổ đau để đến bến bờ an lạc.

Để thức tỉnh mọi người tinh tấn tu hành, vượt qua mọi đau khổ trong thế gian, hàng ngày tiếng chuôngtừ các ngôi chùa, đều được gióng theo thời khóa nhất định. Mỗi ngày hai thời. Mỗi thời đánh 108 tiếng chuông. Tiếng chuông được gióng lên cùng với lời cầu nguyện cho thế giới hòa bình, cho chúng sanhan lạc.

consocuadaophat-3consocuadaophat-2consocuadaophat-1consocuadaophat-4


Tượng Phật và 108 biểu tượng trên bàn chân Phật

Con số 108 dường như không chỉ ý nghĩa với nhà Phật mà còn xuất hiện khá nhiều trong cuộc sống. Chuyến bay đầu tiên của Gagarin vòng quanh trái đất (ngày 12 thánh 04 năm 1962) hết 108 phút và hành trình chuyến bay được viết lại trong cuốn sách với tựa đề "108 phút và cả cuộc đời". Nếu chúng tacòn cho rằng con số 108 phút của chuyến bay nói trên của con người vào vũ trụ có thể chỉ là một sự trùng hợp với con số linh thiêng của nhà Phật, thì dãy Hymalaya với 108 ngọn núi hùng vĩ cao nhất thếgiới, làm cho chúng ta chú ý nhiều hơn đến ý nghĩa của con số 108./.


Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Ý Trinh thuyết về chứ hiếu của Đạo Phật



CHỮ HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT

Sở dĩ ngày nay người Việt Nam ta nói riêng và Á châu vẫn còn tôn trọng và đặt lên hàng đầu về chữ HIẾU đối với Mẹ Cha. Nói chung hầu hết người Châu Á còn giữ đựơc nề nếp, đạo đức và văn hóa gia đình, đứng đầu là Trung Hoa, Việt Nam. Mặc dù hiện nay các con đang sống tại các nước Tây phương, nhất là Mỹ xem nhẹ chữ HIẾU do ảnh hưởng đời sống vì lo chạy đua theo vật chất, nhu cầu xã hội, không còn thời gian để họ có dịp sống nhiều về gia đình cũng như nội tâm . Từ đó họ cần đòi hỏi sự phóng túng, thỏai mái mà họ cho là TỰ DO, nhưng đằng sau cái tự do là một sự hủy họai tâm linh, đạo đức đưa dần con người đi vào sa đọa, suy thóai tâm linh là chìa khóa của tội phạm, giết chóc và khủng bố. Ngày nay nước Mỹ đứng đầu Thế giới về tội phạm, nhiều nhà tù lớn nhất và chế độ tử hình vẫn còn duy trì trong khi rất nhiều nước đã từ bỏ luật này.

Trở lại chữ HIẾU! Đọc văn hóa, văn chương Việt Nam hầu hết ca tụng rất nhiều về chữ hiếu bằng ca dao, thi văn, âm nhạc ca ngợi , trong đó đựơc đề cao tình Mẹ thiêng liêng:" Công cha như núi thái sơn , nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Trong các kinh điển Phật Giáo Nam Tông và Bắc Tông đều đề cao công ơn cha mẹ . Kinh tăng Chi Phật dạy :"Có hai hạng người , này các Tỳ kheo , ta nói không thể trả ơn được đó là mẹ và cha". Đối với bất thứ tình cảm nào rồi cũng nhạt phai với thời gian , chỉ có tình Mẹ thương con là ngàn năm bất tận. Trái tim Mẹ là một kỳ quan của vũ trụ , nước mắt của Mẹ nhiều hơn biển Thái Bình Dương . Mẹ thương con vô bờ bến và không bao giờ đặt điều kiện. Mẹ thương con dù con bao nhiêu tuổi già thậm chí hư đốn hay thất bại ê chề ngoài xã hội , Mẹ vẫn thương con cho đếngiây phút cuối cùng của đời Mẹ. Đối với Cha tình thương cũng không kém gì Mẹ , nhưng Cha cứng rắn , thương con bằng lời răn dạy , bao gồm cả roi vọt , lo cho con tiền bạc để ăn học , hướng dẫn đạo đức và lối sống thế nào cho con trưởng thành ra đời một cách vững vàng khi thành người ngoài xã hội .Bởi vì người con có làm gì đi nữa , lòng của người con đối với cha mẹ không thể sánh được lòng của cha mẹ đối với con cái , đúng như ca dao nước ta có câu :" Mẹ thương con biển hồ lai láng , con thương mẹ tính tháng tính ngày". Vì vậy, khi đề cập đến công ơn cha mẹ , các kinh đều cho rằng khó đền đáp nổi , là dựa vào tâm thức của người con đối với cha mẹ có giới hạn . Trong khi Cha đủ can đảm chỉ cho con thấy sự sai lầm để xa lánh , trái lại với Mẹ lại ôm ấp , che chở những lỗi lầm mà không hề trách mắng , đó cũng là sự tai hại cho con . Câu tục ngữ :

"Thương cho roi cho vọt , ghét cho ngọt cho bùi "
Không phải vì Mẹ cho ngọt khi con phạm lỗi mà gọi là ghét , đó chẳng qua tình yêu quá lớn mà không nở chỉ trích cái lỗi của con . Trong khi Cha cứng rắn và đôi khi sẵn sàng cho roi vọt để dạy con , đó cũng là vì thương con không muốn cho con bị hư hỏng . Cho nên con cái nhìn vào đó mà nghĩ rằng Mẹ không đánh đập mình nên thương hơn , điều đó không đúng và sau này khi có gia đình , con cái thì người con mới biết giá trị của tình thương người Mẹ , người Cha khác nhau và giá trị đều bằng nhau .

Vì thế , Chữ HIẾU trong đạo Phật vô cùng quan trọng. Đạo Phật cũng được gọi là Đạo HIẾU , hằng năm vào dịp Rằm Tháng 7 Âm Lịch hầu hết các chùa Việt Nam đều tổ chức Lễ Vu Lan để Phật tử có dịp cầu nguyện cho hương linh Cửu Huyền Thất Tổ được siêu sinh tịnh độ và Cha Mẹ hiện tiền có được đời sống trường thọ , an lành, hưởng nhiều phước lộc.

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ chuyện Ngài Mục Kiền Liên, một đệ tử của Đức Phật Thích Ca, có mẹ là Bà Mục Liên Thanh Đề đã gây nhiều tội ác thuở sinh thời, nên khi chết bị đọa vào địa ngục, làm ngạ quỷ đói khổ. Trong Kinh Vu Lan kể chuyện :

Ngài Mục Kiền Liên sau khi đắc đạo, chứng quả A La Hán đã vận dụng thiên nhãn để tìm mẹ, ngày rất xót thương thấy mẹ bị đọa trong địa ngục. Ngài về bạch Phật và xin chỉ dạy cách cứu mẹ. Phật dạy, ngày rằm Tháng Bảy là ngày Tự Tứ của Chư Tăng, sau ba tháng an cư kiết hạ, quý Chư Tăng có tâm rất thanh tịnh, nhờ vậy lời chú nguyện có nhiều năng lực giải trừ tội lỗi, ách nạn. Vào ngày Rằm Tháng Bảy nên đem lễ vật cúng dường và xin Chư Tăng, hiền thánh cầu nguyện cho mẹ, thì cha mẹ quá vãngcũng như hiện tiền đều được nhiều phước đức.

Ngài Mục Kiền Liên làm như lời Phật dạy. Ngay sau đó mẹ Ngài, Bà Mục Liên Thanh Đề được thoát kiếp ngạ quỷ và sinh lên cõi Trời. Lời chú nguyện của các chư tăng coi như một bài kinh giảng, nếu vong linhnghe theo, xả bỏ sân hận, phát tâm từ bi hỹ xã thì ngay sau đó sẽ thoát cảnh địa ngục. Từ đó Phật Tửtheo gương Ngài Mục Kiền Liên tổ chức Đại Lễ Vu Lan vào ngày Rằm Tháng Bảy để cầu nguyện cho cha mẹ.

Ở Nhật , trong ngày nhớ ơn mẹ có phong tục cài hoa Hồng lên áo. Người nào còn mẹ thì được cài hoa Hồng đỏ, ngưòi nào không còn mẹ thì cài hoa Hồng trắng. Thiề sư Nhất Hạnh đi Nhật thấy phong tục này có ý nghĩa nên đã du phập vào VN. Phong trào “Bông Hồng Cài Áo” trong ngày Lễ Vu Lan được Phật Tử hưởng ứng và phổ biến rộng rãi từ đó. Bản nhạc “Bông Hồng Cài Áo” được hát rất nhiều trong dịp Lễ Vu Lan.




Trong ba tháng an cư kiết hạ , ngày rằm tháng bảy thì giải chế phải làm lễ Tự Tứ . Chữ " Tự Tứ" tiếng Pali gọi là PAVARANA nghĩa là tuỳ ý , tức là xin chư tăng tuỳ ý chỉ trích những lỗi lầm của mình do chư tăng thấy , nghe hay nghi để mình biết mà sám hối , nhờ sám hối nên thân khẩu ý được thanh tịnh thì công đức rất lớn . Đây là cách thức hạ mình cầu xin chỉ lỗi , tương tự như câu nói của Nho là KHIÊM SINH ĐỨC , có lẽ vì vậy mà phải nương nhờ ý lực chú nguyện của chư tăng trong ngày Tự Tứ chứ không phải những ngày khác .

Nay các con lớn lên và sống tại đất nước tự do như Mỹ nhưng đừng quên chữ HIẾU đối với Mẹ Cha . Dù công việc , đời sống bận rộn thế nào cũng phải thường xuyên ghé thăm Mẹ Cha , hay ít nhất gọi phone thăm hỏi khi có thời gian rổi rảnh . Các con đến chùa lạy Phật là một điều tốt , nhưng đừng quên các con đang có những ông Phật tại nhà là MẸ và CHA . Con chỉ biết đến chùa , nhà thờ Kito mà không màng thăm viếng , chăm sóc cha mẹ ( nhất là các cô dâu , chú rễ) chứ đừng nói gì đến con ruột là điều thiếu sót lớn . Đức Phật dạy :

" Hiếu với Mẹ Cha tức là kính Phật ."

Tại sao các con không lạy ông Phật trong nhà là Mẹ Cha có công sanh thành , nuôi dưỡng , đó là KINH BÁO ÂN CHA MẸ .
I. NỘI DUNG KINH (Gồm có 6 phần)

1. Phần duyên khởi :
Đức Phật trong lúc du hành gặp một đống xương khô , Ngài liền đảnh lễsát đất . Đệ tử của Phật là ngài Anan ngạc nhiên hỏi Phật vì lý do gì mà lễ bái đống xương khô ấy . Đức Phật dạy rằng , đống xương khô này hoặc tổ tông kiếp trước , hoặc là cha mẹnhiều đời của ta nên ta chí thành kính lễ .

2. Đức Phật dạy ân đức cha mẹ có 10 điều :

a . ân giữ gìn mang thai trong 9 tháng .
b . ân sinh sản khổ sở
c . ân sinh rồi quên lo
d . ân nuốt đắng nhổ ngọt
e . ân nhường khô nằm ướt
g . ân bú mớm nuôi nấng
h . ân tắm rửa chăm sóc
i . ân xa cách thương nhớ
k. ân vì con làm ác
l. ân thương mến trọn đời .

3. Đức Phật dạy về sự bất hiếu của con cái :

Ăn nói hỗn hào với cha mẹ , xấc xược với anh em chú bác bà con ..v.v.
Không tuân theo lời dạy của cha mẹ , thầy bạn và các bậc trưởng thượng trong gia tộc .
Theo bạn bè xấu ác , từ bỏ gia đình đi hoang , gây tạo tội lỗi làm cho cha mẹ , bà con buồn khổ .
Không lo học tập , xao lãng nghề nghiệp , không tạo dựng được một đời sống vững chắc , làm cha mẹ lo lắng .
Không phụng sự cha mẹ về vật chất , không an ủi về mặt tinh thần , coi thường cha mẹ , coi trọng vợ con .

4. Đức Phật dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp dù con cái báo hiếu bằng các cách như :

Vai trái cõng cha , vai phải cõng mẹ , cắt da đến xương , nghiền xương thấu tuỷ , máu đổ thịt rơi cũng không đáp được công ơncha mẹ
Giả như có ai gặp lúc đói khát , phá hoại thân thể , cung phụng cha mẹ cũng không đáp được công ơn cha mẹ .
Vì cha mẹ mà trăm kiếp nghìn đời , đâm tròng con mắt , cắt hết tâm can, trăm nghìn dao sắc xuất nhập toàn thâncũng không trả nỗi công ơn cha mẹ .
Dù vì cha mẹ , đốt thân làm đèn cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ .

5. Đức Phật dạy về phương pháp báo hiếu :

Ngoài việc cung phụng cha mẹ về mặt vật chất và an ủi tinh thần mà ai cũng biết , chúng ta phải :

Khuyến hoá cha mẹ thực hành thiện pháp .
Phải vì cha mẹ mà thực hành tịnh giới , bố thí , làm các việc lợi ích cho mọi người .
Phải truyền bá tư tưởng hiếu đạo này cho nhiều người được lợi ích .

6. Phần kết thúc và lưu thông:

Đức Phật khích lệ tinh thần báo hiếu .
Đại chúng phát nguyện vâng lời phật dạy .
Đặt tên kinh là Kinh Báo Ân Cha Mẹ .

Trong 10 điều ân đức của cha mẹ đã cho thấy rõ tình thương bao la đó . Những lời kinh hết sức cảm động và chinh phục lòng người như :

- " Nhổ ngọt không tiếc nuối , nuốt đắng không phiền hà…Miễn sao con no ấm , đói khát mẹ nào từ" ( điều 4 )

-"Mẹ nằm chổ ướt át ,nâng con chổ ấm khô , đôi vú lo đói khát , hai tay che gió sương , yêu thương quên ngủ nghỉ , sủng ái hết giá lạnh , chỉ mong con yên ổn , mẹ hiền không cầu an" ( điều 5 )

-"Mẹ hiền ân hơn đất , cha nghiêm đức quá trời , che chở ân cao dày , cha mẹ nào tính toán , không hiềm không mắt mũi , không ghét què chân tay ,sinh con từ bụng mẹ , con đổi dạ thương ai" ( điều 6 )

-" Con đi đường xa cách , lòng mẹ bóng theo hình , ngày đêm không hả dạ , tối sớm nào tạm quên , khóc như vượn nhớ con , thương nhớ nát can trường … ( điều 8 )

-" Mẹ già hơn trăm tuổi , còn thương con tám mươi, ân ái có đoạn chăng chỉ hơi thở cuối cùng" ( điều 10 )



Ngoài ra chưa nói Cha phải bị 9 năm tù tội trong lao tù Cọng Sản để ngày nay các con mới đựơc đi Mỹ , sống cuộc đời tương đốiđầy đủ , an nhàn và sung sướng . Thế mà các con lại quên đi Mẹ Cha và chỉ biết đến vợ chồng , con cái mình . Luật nhân quả sẽ trả lại cho các con sau này . Trước mắt hành động của các con sẽ ảnh hưởng và làm cho các cháu nhìn theo , bắt chước và sẽ đối xử tồi tệ , bất hiếu lại với các con .

Cha Mẹ tuy đã già và suy yếu , nhưng với kinh nghiệm do sự thành công , thất bại trong cuộc đời 60 năm qua đã tạo nên một gia tài quý báu . Vì vậy khi các con mua nhà , lập Business ....... phải thưa trình , hỏi ý kiến Mẹ Cha trước khi làm . Đó vừa là chứng tỏra con nhà có giáo dục , đạo đức vừa là học thêm những kinh nghiệm làm ăn ngoài đời do Cha Mẹ chỉ dạy .

Không có gì hạnh phúc , sung sướng khi còn có Mẹ , có Cha . Các con phải biết trân quý và kính dường Mẹ Cha khi họ đang còn sống , đừng để đến lúc Mẹ Cha qua đời mới bày lễ lược , cúng kiến cho thật lớn , khóc cho thật nhiều . Đây là những lời Cha Mẹdạy dỗ các con để duy trì nếp sống lễ giáo , đạo đức của Gia đình và truyền thống Dân tộc mà chính Đức Phật vẫn quan tâm và luôn luôn nhắc nhở các con . Không nên hiểu nhầm chữ tự do đầy sa đọa , tội ác tại Mỹ mà quên đi nguồn gốc và giá trị vô cùng to lớn của chữ HIẾU trong đạo Phật đã dạy các con và phải biết trân quý , giữ gìn nó như những bảo vật giá trị nhất trong cuộc đời.Mặt khác , theo đạo Phật quan niệm tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình ngoài việc báo đáp thâm ân cha mẹ của mình hiện nay , người Phật tử còn có nhiệm vụ báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời của mình bằng phương thức gián tiếp . Tất cả mọi người ai cũng có trách nhiệm truyền bá tư tưởng đạo hiếu để cho những người con học tập và thực hành phương pháp báo hiếu đúng chánh pháp , đem đến lợi ích cho tất cả những người cha mẹ khác trong xã hội sẽ trở thành một nền tảng đạo đức cơ bản cho con người, tâm hiếu là một tâm lý có tính cách văn minh , văn hoá . Truyền bá đạo hiếu sẽ tạo nên một truyền thống tốt đẹp , từ đó xã hội có điều kiện xây dựng hạnh phúc cho con người ngày càng tiến bộ và tốt đẹp hơn.

Người người hạnh phúc tốt đẹp , nước nước an lạc vui tươi , Thế giới hòa bình thịnh trị , đúng là thiên đường đẹp nhất tại trần gian phải không nhỉ ?

Ý TRINH nói chữ Hiếu trong đạo Phật





CHỮ HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT
HT.Thích Trí Quảng





Mùa Vu lan lại trở về, gợi nhắc chúng ta nhớ đến tình thương vô bờ bến của cha mẹ đã dành cho mình. Và đối với người Việt Nam, hiếu thảo là truyền thống quý báu được đặt lên hàng đầu. Tất cả chúng tađều nhớ như in bài học vỡ lòng đã được dạy dỗ từ tấm bé:

“Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha.

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Hoặc những câu ca dao Việt Nam cũng nhắc đến bổn phận hiếu thảo của người con:

Cha sinh mẹ dưỡng

Đức cù lao lấy lượng nào đong

Thờ cha mẹ phải hết lòng, ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

Hay:

Hai tay bưng bát cơm đầy

Nhớ công cha mẹ tháng ngày gầy nên.
Và chính Đức Phật cũng khẳng định vai trò tối ưu của cha mẹ đối với con cái qua lời dạy rằng tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật, cha mẹ tại tiền như Phật tại thế. Đức Phật cũng đã so sánh thâm ơn dưỡng dục của cha mẹ sâu dày đến mức độ: Dù hai vai cõng cha mẹ đi giáp vòng hòn núi Tu Di, trải qua trăm ngàn kiếp cũng chưa đền đáp được ơn đức của cha mẹ.

Là đệ tử Phật, với nhận thức sâu sắc về công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ vô bờ bến, chúng ta phải thể hiện thành việc vui vẻ phụng dưỡng cha mẹ. Chăm lo cho cha mẹ bằng tất cả niềm thươngyêu tôn kính mới thể hiện đúng nghĩa hiếu hạnh theo tinh thần Phật dạy, chứ không phải chỉ nấu cho xong bát cơm chén cháo cho cha mẹ là đủ. Đối với những người con vì hoàn cảnh phải sống xa cha mẹ, không được trực tiếp chăm sóc cha mẹ, thì cũng phải có tâm hiếu là nhớ nghĩ đến cha mẹ và phụng dưỡng cha mẹ bằng tiền bạc, chỗ ở, thuốc men, v.v...






Đặc biệt là theo Phật dạy, nếu cha mẹ chúng ta vắng bóng trên cuộc đời, chúng ta vẫn có thể báo hiếu. Thật vậy, khi Phật tại thế, trong thiền định, Ngài Xá Lợi Phất đã thấy một ngạ quỷ đến nói rằng năm đời trước, nó là mẹ của Ngài. Xin Ngài cứu độ nó bằng cách cúng dường Đức Phật và 1.250 vị Thánh Tăng. Sau buổi lễ trai tăng cúng dường, đêm hôm đó, một vị Thiên tử trên trời báo cho Ngài Mục Kiền Liênbiết rằng nhờ lực chú nguyện của Phật và Thánh chúng mà bà mẹ của Ngài Xá Lợi Phất đã được sanh về cõi Trời. Đây là câu chuyện ghi trong Tiểu Bộ kinh, tập truyện Ngạ quỷ. Câu chuyện này tương ưngvới chuyện mẹ của Ngài Mục Kiền Liên là bà Thanh Đề trong kinh Vu Lan Bồn cũng nương nhờ công đức của Phật và Thánh Tăng mà thoát khỏi kiếp ngạ quỷ và sanh lên cõi trời.


Đức Phật dạy chúng ta tâm hiếu, hạnh hiếu và Ngài đã thể hiện điều này một cách sâu sắc nhất trong cuộc đời Ngài. Đức Phật nói: “Này A Nan, việc hiếu không phải ta không làm. Lúc ta thành đạo, về thăm hoàng cung, ta đã thuyết pháp cho hoàng cung nghe. Và vua Tịnh Phạn đã chứng quả Tu đà hoàn, bà Ma ha Ba Xà Ba Đề đã quy y Tam bảo. Như vậy, hạnh hiếu ta đã đền xong”.

Tấm gương sáng của Đức Phật về hạnh hiếu nói trên là bài học thiết yếu giúp chúng ta nhận ra phương cách báo hiếu tốt nhất đối với cha mẹ mình. Thật vậy, nếu cha mẹ còn hiện tiền, chúng ta nên tìm cáchcho cha mẹ được quy y Tam bảo, kính tín Tam bảo là chúng ta đã giúp cho cha mẹ thoát khỏi ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngoài ra, cha mẹ đã quy y Tam bảo, chúng ta nên thường xuyên nhắc nhở cha mẹ không làm việc ác, tạo điều kiện cho cha mẹ làm việc thiện, nhất là hỗ trợ cha mẹ trong việc thường xuyên nghe pháp, cúng dường, tụng kinh, niệm Phật, v.v…




Tóm lại, trong bốn ơn lớn, ơn cha mẹ được Đức Phật nhắc đến rất nhiều. Vì vậy, khi nào chúng ta còn nghĩ tưởng đến công ơn cha mẹ, còn thực hiện hiếu hạnh là chúng ta đang thể hiện sự biết ơn và báo ơn, tức là đang làm việc thiện trên cuộc đời này và đang tạo nhân lành cho phước lạc vô biên là đang ở gần Phật. Và Đức Phật cũng dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, nếu một người biết ơn và đền ơn, thì dù sống xa Ta ngàn dặm vẫn như đang ở bên cạnh Ta. Còn người không biết ơn và không đền ơn, thì dù ở bên cạnh Ta cũng giống như cách xa Ta ngàn dặm”. 



Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ Số Vu Lan 185 / Tuyển Tập Vu Lan TVHS

Ý Trinh nói Chữ Hiếu trong Cõi Thiền





CHỮ HIẾU TRONG CÕI THIỀN
Thích Phước Đạt

“Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền”.
Xem ra bước vào cửa thiền là bước vào cửa hiếu, cửa hiếu cũng là cửa tỉnh thức, cửa chơn không diệu hữu. Nơi đó mỗi người luôn cất lên tiếng nói yêu thương và hiểu biết. Thế nên, đã là người đệ tử Phật thì suy cho cùng, bạn phải phát tâm thực thi sống theo hạnh của Phật. Mà hạnh Phật được thiết lập khởi đầu bằng tâm hiếu hạnh như Đức Phật từng dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”.

Huống chi, trong kinh Tương ưng, Phật còn bảo:“Vô thỉ luân hồi, tất cả chúng sinh từng làm cha, làm mẹ, làm anh, làm chị, là bà con quyến thuộc trong các nẻo đường sinh tử”. Chính từ Phật ngôn này mà con người hướng tâm đến giải thoát khổ đau cho nhau. Bởi vì trên cõi đời ai cũng được sinh ra và lớn lên, trưởng thành cho đến việc xuất gia, tu hành thành đạo đều bắt đầu từ tâm hiếu hạnh. Và như vậy, từ cõi đời trần tục, mọi người có thể chuyển hóa thực thi tâm hiếu hạnh để chuyển hóa thành cõi Thiền thanh tịnh.




Lễ hội Vu lan - rằm tháng Bảy hàng năm là dịp con người có cơ hội và điều kiện làm hóa hiện tâm hiếu hạnh. Bất kể là ai, dù ở vị trí nào, sinh sống ở đâu cũng có thể làm cho dòng suối yêu thương được tuôn chảy trong dòng sống vốn luôn nhiệm mầu. Nó có thể kết nối yêu thương từ trong quá khứ, tiếp diễntrong hiện tại và định hướng cho tương lai để thiết lập một đời sống an lạc, hạnh phúc mang tính vững bền cho tất cả ai hiện hữu trên cõi đời này.

Chính lẽ đó, mà Đức Phật đã xuất gia, tu hành, tự thân chứng ngộ, thuyết pháp độ sinh không chỉ để báo hiếu cho cha mẹ của Ngài mà còn muốn khuyến cáo mọi người hãy vì ân sinh thành của cha mẹnhiều đời nhiều kiếp mà chuyển hóa thân tâm, tu hành là báo hiếu một cách trọn vẹn, ý nghĩa cao quý nhất. Nếu không làm như thế thì mỗi cá nhân hiện hữu ở cõi đời không bao giờ báo hiếu được cha mẹ.




Ta chẳng ngạc nhiên gì, Bản kinh Tăng nhất A hàm ghi lại lời dạy của Phật về công ơn sâu dày của cha mẹ thật cao hơn trời, sâu hơn biển cả, đồng thời khuyên con người phải biết tri ân và báo ân với cha mẹ: “Này các thầy Tỳ kheo, nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi xa nghìn dặm, cung phụngđầy đủ mọi thức ăn, đồ mặc, chăn đệm và thuốc thang, thậm chí cho cha mẹ có tiểu tiện trên vai mình đi nữa, cũng chưa trả được ân sâu. Các thầy phải hiểu rằng ân cha mẹ nặng lắm, bồng bế nuôi nấng, dưỡng dục đúng lúc, làm cho ta trưởng thành. Vì thế mà biết ân khó trả. Này các thầy Tỳ kheo, có hai việc làm cho phàm phu được công đức lớn, được quả báo lớn, đó là phụng sự cha và phụng sự mẹ”.

Trong cõi đời đầy biến động vô thường, khi mà con người còn phải đối diện biết bao nhiêu vấn đề từ cơm áo gạo tiền, cho đến các vấn đề phức tạp khác, vấn đề phụng sự mẹ cha lại càng được quan tâmhơn bao giờ hết. Thực tế minh chứng như thế, con người mỗi khi giáp mặt khổ đau thì mới có cơ hội biết kết nối yêu thương để mong cầu sống trong sự bình an nội tại. Vì suy cho cùng, báo hiếu cho cha mẹ chính là báo hiếu cho mọi người, cho quốc gia, cho đồng bào, cho quê hương xứ sở. Lý Duyên khởixưa kia Phật chứng ngộ đã minh thuyết cho sự thật này như là một chân lý, bởi vì không ai có thể sống một mình mà tồn tại và phát triển, con người cần nương tựa vào nhau, trong ý niệm ai cũng từng làm cha, làm mẹ, làm anh, làm chị trong dòng sống tương tục.




Cho nên, bạn đừng bao giờ có ý nghĩ chỉ khi mình trở thành người giàu có mới có điều kiện phụng sựcha mẹ của mình. Cửa Thiền là cửa Không, ngay cả khi bạn không có gì vẫn có thể báo đáp ân đức cha mẹ, vấn đề là bạn có chuyển hóa tâm thức hay không trong giai trình đi về miền đất an lạc. Xưa kia, Phật từng lễ lạy đống xương khô bên đường mà cũng chuyển hóa đại bi tâm biết bao nhiêu con ngườitrở về suối nguồn thực thi hiếu hạnh. Các vị thiền sư, sống một đời sống không gia đình, không tài sản, thế mà các ngài vẫn báo hiếu cho cha mẹ một cách thiết thực và hữu hiệu mang các giá trị rất nhân văn nhưng trên hết là đem lại giá trị giải thoát tự thân cho cha mẹ của các ngài.

Chắc bạn còn nhớ câu chuyên ngài Lục tổ Huệ Năng (638 - 713) trong kinh Pháp Bảo đàn ghi nhận. Ngài vốn xuất thân là một người nghèo khổ, khi còn ấu thơ đã sớm mồ côi cha, lớn lên chỉ còn mẹ già. Do đó, hàng ngày, Tổ phải lên núi đốn củi rồi gánh ra chợ bán, đổi lấy gạo đem về nuôi mẹ. Một hôm, nghe người ta tụng kinh Kim cương, đến câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” mà Tổ bừng tỉnh. Vì vậy, Tổ nghĩ rằng, chỉ về xin phép mẹ xuất gia tại núi Hoàng Mai, thọ giáo với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn mới may ra có cơ duyên báo hiếu cho mẹ cha rốt ráo được. Nhưng Tổ chợt nghĩ, mình còn mẹ già thì ai phụng dưỡng đây, nên lòng còn chần chừ, chưa nỡ xuất gia hành đạo. Bỗng dưng, có người hiểu được tâm nguyện của Tổ, liền trợ giúp 10 lượng bạc và hứa thay mặt Tổ trông nom phụng dưỡng mẹ già cho đếnmãn phần. Nhờ thế, Tổ an tâm tu học, về sau chứng đạo trở thành bậc Long tượng của rừng Thiền, không chỉ độ cho mẹ cha của mình mà còn chuyển hóa tâm thức biết bao nhiêu người khác trong cuộc đời sinh tử trầm luân này.

Từ câu chuyện này, có thể hiểu rằng, khi bạn khởi tâm hiếu hạnh đến với mẹ cha thì bạn sẽ thọ nhận sự an lành đến với chính mình, có khi nó còn quyết định được một đời sống tốt đẹp hơn cho cả người thân của bạn sau này. Chỉ cần một nén hương lòng với tâm thành kính hướng nghĩ về mẹ cha là bạn cũng có khả năng thực thi được một công đức lớn, một lợi ích lớn trong cõi đời này.


Đó là công đức hiếu hạnh mà Tổ sư Thiền Trung Hoa thành tựu. Còn ở Việt Nam, xưa kia cũng có ngài Liễu Quán nhờ công hạnh báo hiếu mà chứng đạt sở nguyện của mình. Ngài Liễu Quán mồ côi mẹ lúc còn 6 tuổi, thân phụ liền gởi ngài vào chùa Hội Tôn, cho thọ giáo với Hòa thượng Tế Viên. Sau 7 năm sống tu hành ở cửa Thiền thì Hòa thượng bổn sư viên tịch. Sư đành lòng khăn gói, băng rừng lội suối ra Thuận Hóa (Huế) để thọ học với ngài Giác Phong thiền sư chùa Báo Quốc. Năm sau, nghe tin cha già lâm bệnh, không có người săn sóc, sư liền trở về nhà, hàng ngày lên rừng đốn củi, dành dụm tiền nong để đổi gạo nuôi cha già, nguyện cầu cho cha yên lành, thể hiện chí nguyện hiếu tâm là hiếu Phật.




Rõ ràng, phụng dưỡng mẹ cha hiện tiền chính là phụng thờ Phật sống ở đời. Cho nên, sư quyết tâmhầu hạ thân phụ cho đến khi qua đời mới trở về sơn lâm. Chính nhân duyên này, đã trợ duyên cho thành tựu công đức hiếu hạnh, tức là thành tựu hạnh nguyện tu tập giải thoát. Về sau, sư Liễu Quán trở thành Tổ sư của một dòng Thiền, có ảnh hưởng rất lớn trong giới Thiền và cả trong giới hoàng tộc trong việc phò vua giúp nước, và phát triển đạo Thiền.

Ngoài ra, còn nhiều gương hiếu hạnh nữa trong cửa Thiền ở nước ta. Thiền sư Huyền Quang đời Trần là một minh chứng cụ thể. Khi chưa xuất gia, sư là một vị trạng nguyên xuất chúng, làm quan, nhưng lại chán ngấy chốn quan trường đầy nhiễu nhương, phức tạp của bụi trần. Lòng sư luôn tự hỏi, cuộc đờisao mà lắm sự chua cay nghiệt ngã, sao có người xem phú quý vinh hoa như mục đích tối thượng mà tranh chấp không hướng nghĩ đến tình thân cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt, dẫn đến khổ đau hệ lụymãi hoài…


Một hôm, sư Huyền Quang theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm tham dự pháp hội, thấy Quốc sư Pháp Loađang diễn thuyết hoằng hóa độ sinh mà nhớ lại chuyện xưa, bèn than rằng: “Làm quan lên bồng đảo, đắc đạo đến Phổ Đà; trên cõi nhân gian là Tiên, cảnh giới Tây phương là Phật. Phú quý vinh hoa nào khác chi lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên lưu luyến mãi hoài”. Thế rồi, sư dâng biểu xin vua từ quan, xuất gia hành đạo.

Cho đến khi, bỗng nghe tiếng chim khách kêu vang trên cành ở trước sân, sư chạnh lòng nhớ nghĩ đến cha mẹ hiện đang già yếu, nhất là công ơn sinh thành cao như núi, sâu như biển khơi, liền sửa soạn hành trang về cố hương hầu thăm cha mẹ. Đến nơi, sư nhìn thấy cha mẹ còn khỏe mạnh và biết thêm cha mẹ của mình rất tín tâm với Tam bảo nên lòng rất hoan hỷ. Nhân đó, ngôi chùa có tên là Đại Biđược hình thành từ nơi mảnh đất gần nhà của song thân, trong ý nghĩa tiếng kinh cầu vang lên “Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát cứu độ cha mẹ hướng về Phật đạo”. Từ đó, không chỉ có cha mẹ của sư được diễm phúc hàng ngày được tụng kinh, niệm Phật, làm các việc công đức cho bá tánh mà dân làng còn được nghe thuyết giảng của các sư, thực hành Chánh pháp, sống có ích cho đời, làm hưng thịnhPhật pháp.

Rõ ràng, nơi nào có tâm hiếu được hóa hiện, nơi đó được đâm chồi kết trái của tình người tình đạo trong cuộc hành trình hướng về miền giải thoát khổ đau. Nơi đó chính là mảnh đất để cho giới đức, tâm đức, trí đức hóa hiện, mục đích là nhằm kết nối giai điệu yêu thương giữa người còn kẻ mất. Nó cũng góp phần bảo lưu mọi giá trị cao quý nhất trong dòng chảy văn hóa tình người được xuất phát từ trong văn hóa ứng xử giữa con người với con người; giữa con người với cộng đồng xã hội; giữa con ngườivới thiên nhiên môi trường sống. Thế nên, bổn phận của mỗi cá nhân phải thực thi hiếu hạnh với mẹ cha, với mọi người như là một đạo lý sống giữa đời mà kinh Thi ca la việt ghi, bao gồm 5 điều:

1. Cung kính và vâng lời cha mẹ.

2. Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu.

3. Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình.

4. Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại.

5. Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời.




Ngoài ra, Đức Phật còn đề cập bốn trách nhiệm để hướng dẫn cha mẹ sống đúng theo Chánh pháp:

1. Nếu cha mẹ không có niềm tin, khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam bảo.

2. Nếu cha mẹ xan tham, khuyên cha mẹ phát tâm bố thí.

3. Nếu cha mẹ làm ác thì khuyên cha mẹ hướng tâm làm việc thiện.

4. Nếu cha mẹ theo tà kiến thì khuyên cha mẹ theo chánh kiến.




Và như thế, bạn đang hướng vọng về ngày hội Vu lan, ngày hội của văn hóa hiếu hạnh, chứa chan tình, đầy hương vị của giải thoát. Nếu xưa kia Mục Kiền Liên từng vì cha mẹ đọa lạc tam đồ, rồi cất lên tiếngkinh cầu nhờ oai lực của chư Tăng chú nguyện để giải thoát cho mẹ cha thì ngay từ bây giờ cõi Thiền lại mời gọi mọi người hãy khởi tâm thực thi hiếu hạnh tùy theo hoàn cảnh, điều kiện của mình mà báo hiếu cho hai đấng sinh thành dưỡng dục.

Có một điều đơn giản hết sức, nhưng giá trị yêu thương thì vô cùng tận, bạn cũng như tôi hãy để thì giờngắm kỹ dung nhan của mẹ cha thật lâu, rồi cất lên tiếng nói con yêu cha mẹ thật nhiều, nhất là nhiệt tâm tinh cần làm các thiện lành. Tại đây, mẹ cha hạnh phúc biết chừng nào! Còn như nếu ai mất mẹ hoặc cha thì xin hãy thắp nén hương lòng tưởng niệm về họ mà nguyện cầu Phật từ bi tiếp độ về miền đất an lành. Làm được như thế, Vu lan trở thành ngày đánh dấu sự trở về cội nguồn sống đúng Chính pháp mà đức Phật từng chỉ dạy cho mỗi người chúng ta hiện hữu ở cõi đời này. Cõi hiếu hóa thành cõi Phật ở đời. 




Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ Số Vu Lan 185 / Tuyển Tập Vu Lan TVHS