Hiển thị các bài đăng có nhãn Cửu Thiên Huyền Nữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cửu Thiên Huyền Nữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

Cửu Thiên Huyền Nữ Cứu Thế Chân Kinh


Cửu Thiên Huyền Nữ Cứu Thế Chân Kinh

(Chân kinh người hiểu Đạo Tiên mới thỉnh được Thần Tiên giáng hạ)

Cửu Thiên Huyền Nữ Cứu Thế Chân Kinh
Tịnh Thuỷ Tán
Tiên thiên chân thuỷ
Tịnh tẩy linh đài
Dương chi nhất trích tẩy trần ai
Phàm cảnh tịch bồng lai
Địch uế tiêu tai
Hương lâm pháp giới khai
Qui mệnh Đãng Ma Giải Uế Đại Thiên Tôn

Tịnh Hương Tán
Hương phần bảo đỉnh
Khí đạt tiên thiên
Uy quang cự hách tiếp vân yên
Giáng giám thử tâm kiền
Triển tụng linh thiên
Ung hộ trượng lôi tiên
Qui mệnh Hương Lâm Thuyết Pháp Đại Thiên Tôn  

Thái Thượng Khởi Kinh Tán
Tường vân sơ khởi
Pháp giới nhân huân
La thiên hải đảo dị hương đằng
Đáo xứ phúc từ vân
Đạt tín thông thành
Vạn thánh tận dao diêu lâm
Đạt tín thông thành
Vạn thánh tận diêu lâm
Qui mệnh Đại Thánh Hương Vân Phù Đại Thiên Tôn    

Tịnh Khẩu Chú
Nhân ngôn tùng khẩu xuất
Xuất nạp tất cẩn phòng
Nhiếp tâm vật vọng thổ
Thanh tâm tụng kinh chương
Cấp cấp như luật lệnh
Tịnh Tâm Chú
Nhân tâm bản thiện lương
Tạp niệm tất đề phòng
Kiền thành vô tạp niệm
Tiên Thánh giáng kinh đường
Cấp cấp như luật lệnh

Tịnh Thân Chú
Thân tại hồng trần uế khí huân
Đản tu mộc dục đối cao chân
Thân tịnh cánh y vô trần nhiễm
Thánh Thánh tiên chân tức giáng lâm
Cấp cấp như luật lệnh

Cửu Thiên Huyền Nữ Bảo Cáo
Chí tâm qui mệnh lễ
Thiên du địa du
Mãnh liệt chư hầu
Thượng niệm bắc cực
Hạ lâm cửu châu
Thân xuyên kim giáp
Thủ chấp qua mâu
Quải vu kim kế
Nhãn tự đồng tinh
Phùng yêu trảm yêu
Phùng quỷ triệt đầu
Thượng đế sắc lệnh
Bất đắc đình lưu
Nương phụng Cửu Đạo Mẫu Nguyên Tôn
Cấp cấp như luật lệnh

Khai Kinh Kệ
Cửu thiên cửu thiên
Huyền thị chân tiên
Đầu đái kim khôi
Cước đạp hoả luân
Thân kỵ bạch hạc tại vân gian
Thủ chấp bảo kiếm trảm yêu tinh
Lâm phàm tế độ cứu lương dân
Hà thần bất phục
Hà quỷ bất kinh
Thân thân hạ giáng
Cứu tế vạn dân
Đại bi đại nguyện
Đại thánh đại từ
Tiên cung linh động
Hiển phàm cứu đạo
Huyền Nữ tiên nương
Hưng nho độ thế Đại Thiên Tôn

Cửu Thiên Huyền Nữ Cứu Thế Chân Kinh
Cửu thiên thanh cảnh
Nguy nga tiên cung
Nhân từ bác ái
Hân khai thiên Thiênn
Lân mẫn thương sinh
Cáo nghiệp trầm luân
Hỗn độn sơ khai
Đại địa Thiênng lung
Quần linh hỗn tạp
Nhân thú vị phân
Nhân từ bố pháp vũ
Vạn vật thuỷ sơ sinh
Thuỷ điện âm dữ dương
Chế độ định càn khôn
Thiên hoàng địa hoàng nhân hoàng thị
Như mao ẩm huyết
Đa sinh tật bệnh mệnh bất trường
Giao chi thủ hoả thục thực
Miễn hoạn ngược tật hoặc yểu vong
Nại hà hung thần ác sát thường hạ giáng
Nhiễu dân bất an động can qua
Tức luyện kim chuyên điền bắc khuyết
Đổ trở hung thần giáng cửu trùng
Chẩm nại hà
Nhân tâm đa hiểm ác
Tranh quyền tài thế loạn phân phân
Gian kiêu hoành hành thi cường bạo
Thiện lương vô cô thảm tao ương
Lân mẫn thương sinh tao kiếp nạn
Tụ tập quần chân tại cửu thiên
Đồng phát từ bi cứu thương sinh
Quần chân đồng phát cứu thế tâm
Giá khởi tường vân sát đại thiên
Xứ xứ yên chướng trùng tiêu hán
Chúng sinh tạo nghiệp trọng như sơn
Luân lý đạo đức toàn bất cố
Tranh lợi phụ nghĩa thả vong ân
Táng lương tâm bất trung bất hiếu
Trí nặc tai tật hoạ triền miên
Đản tu hồi đầu cầu sám hối
Phần hương sám hối đảo thương thiên
Viêm hoàng thế trụ đức vi vinh
Lục dục sở mê đoạ trầm luân
Cố hữu đạo đức tu trùng chấn
Đạo nhật quang huy chiếu đại đồng
Ngô vi cứu thế giáng hồng trần
Thủ chấp bảo kiếm trảm yêu tà
Trung lương nghĩa sĩ phùng ách nạn
Ngô giá tường vân hộ kỳ thân
Nhân quân lương tướng ngộ tai ách
Ngô bảo ách nạn bất lâm thân
Loạn thần tặc tử ngô bất bảo
Nạn đào thiên khiển hoạ tương xâm
Vi nhân tử đương hiếu song thân
Bất hiếu phụ mẫu tội bất khinh
Tổ truyền phụ mẫu phương truyền kỷ
Vị lai tử tôn chiếu dạng hành
Dưỡng dục chi ân thâm tự hải
Ngỗ nghịch chi tội đại như thiên
Thân bệnh y dược tất tự tiên
Diệc tu thường quá hiến thân tiền
Bất nghi giải y vật ly thực
Thời thời khắc khắc thị thân biên
Nhược yếu vị lai tử năng hiếu
Nhữ đương tiên hiếu phụng thân tiền
Bất hiếu chi nhân tu sám hối
Bất khuy vi nhân tại thế gian
Vật vị thiện ác vô báo ứng
Trì tảo hữu kỳ đáo thân biên
Khuyến chúng sinh
Tích ngũ cốc
Cốc nãi tiên thiên mẫu chi nhũ
Hồ vi phao tán tội bất khinh
Tu tri ngũ cốc dưỡng mệnh bảo
Nhất nhật tam xan bất năng ly

Nhậm nhữ kim đan thành tiên Thánh
Bất dĩ thử bảo đan bất thành
Nhất sinh duy thử bất khả thiểu
Nhất triêu vô lương tử bất thân
Phao tán do như bất hiếu tử
Tích cốc tức như hiếu song thân
Cổ kim huyết mạch bằng thử dưỡng
Bỉ nhiên na đắc sinh nhân thân
Bất tích ngũ cốc thương thiên nộ
Định khuyết y thực thụ cơ bần
Khuyến chúng
Sinh kính tích tự
Thương hiệt khổng nho công ân trạch
Nãi như nhật nguyệt vạn thế công
Ngũ giáo kinh điển tự vi thành
Kính tích thánh tự khả vi nhân
Vô tri ngu phu tiễn tự tích
Phận bạc bất kính muội lương tâm
Vô độc ngu nhân thượng thả khả
Tối ác nho Thiênn độc thư nhân
Tiễn đạp thư tự nghịch thiên địa
Nghịch thiên nghịch địa tội nạn dung

Quân thân sư ân nhữ bất uý
Uổng sinh trần thế độc thư nhân
Kiến ngô chân kinh tức tốc cải
Khả miễn thiên kham thánh hiền sân
Tùng kim tích tự căn bản cố
Thượng thiên hộ hữu nhữ danh thành
Khuyến chúng sinh
Tu bảo thân
Vạn ác dâm thủ nghi tiên giới
Nãi khả tá giả lai tu chân
Thả khán cổ kim cuồng dâm bối
Tính mệnh giang sơn khái diệt vong
Trụ Vương sủng hạnh đát kỷ nữ
Chư hầu hội thượng diệt thành thang
U vương ngô vương diệc như thử
Đổng trác lữ bố nhân thiền vong
Tham dâm bại tiết bả mệnh thương
Văn ngã chân kinh tu sám hối
Đầu đầu cấm giới tính danh hương
Nhất linh chân tính tiên thiên vật
Thể thị động lai tĩnh thị linh
Ngộ giả tài bồi cập hàm dưỡng
Thành tiên thành Thánh cập thành chân
Luyện tựu chân linh triều kim khuyết
Chức tư hộ quốc dữ hữu dân
Mê nhân si si cánh bất ngộ
Tửu sắc tài khí đương bảo trân
Lục dục thất tình mê chân tính
Vong khước tiên thiên nhất điểm linh
Ngô kim chỉ điểm linh sơn lộ
Nãi tại kinh trung tử tế tầm

Chí Tâm Qui Mệnh Lễ
Đại bi đại nguyện đại thánh đại từ
Cửu Thiên Huyền Nữ nhân từ cứu thế tứ phúc xá tội Đại Thiên Tônhuyền nữ cứu thế trước chân kinh
Nhân từ hộ quốc tế lương dân
Trung thần hiếu tử kỳ khấu thỉnh
Tức giá tường vân giáng đàn đình
Ngộ nạn tị nạn
Địch cát trình tường
Hiếu tử tụng thử kinh
Phụ mẫu tăng hà linh
Gia trạch tụng thử kinh
Hợp gia bảo an ninh
Hành nhân tụng thử kinh
Đồ lộ bảo an bình
Châu thuyền bội thử kinh
Ba lãng tức khắc bình
Thư sinh khán thử kinh
Hổ bảng định tiêu danh
Thương nhân tụng thử kinh
Lợi lộ định hanh thông
Phụ nữ tụng thử kinh
Tất hoạch sản kì lân
Nhược vi quá thế phụ mẫu tụng thử kinh
Cửu Huyền Thất Tổ tận siêu thăng
Đản tu thân hành tâm mộ
Thiết vật tâm vi bất tuân
Như hữu vọng hành đề huỷ
Thí ngô bảo kiếm đoạn vô tình
Ngô trước chân kinh vi cứu thế
Quảng độ diêm phù thế thượng nhân
Đản nguyện thương sinh tâm tảo ngộ
Tuỳ ngô Huyền Nữ phục tiên thiên

Chí tâm qui mệnh lễ
Đại bi đại nguyện đại thánh đại từ
Vô cực vô thượng Cửu Thiên Huyền Nữ cứu khổ cứu nạn Đại Thiên Tôn

Đạo Đức Thiên Tôn Tán Viết
Cửu Thiên Huyền Nữ công đức trọng
Lịch kiếp cứu thế giáng cửu trùng
Trừ gian nịnh
Bảo nhân quân
Loạn thần nghịch tử tao hoành hoạ
Tử đáo âm ty cấm tù lung
Ta thán quần lê bối
Phụ nghĩa vong ân bối thánh hiền
Mê ư tửu sắc nhược cuồng điên
Thính bãi chân kinh tu sám hối
Hiếu kính song thân sùng thánh hiền
Mạc tham tửu
Mạc tham tài
Nhẫn khí thời thường ký tại hoài
Thảng hữu tham sân si ái dục
Nhậm nhữ sám hối diệc đồ nhiên
Chấp mê bất ngộ cam tạo nghiệt
Nan đào tật bệnh hoạ triền miên
Đản năng tụng kinh tồn sám hối
Tự nhiên thanh cát phúc miên miên

Quan Thánh Đế Quân Tán Viết
Chân kinh cứu thế bản hồ nhân
Phổ độ quần luân xuất mê tân
An bang định quốc hộ nhân quân
Dân an vật phụ hưởng thăng bình
Bảo kiếm quang mang trừ gian nịnh
Ngỗ nghịch nan đào hoạ tương xâm
Đản năng tụng kinh tồn sám hối
Thượng thiên bất gia hối tội nhân
Khuông phù chính nghĩa hoành thiên đạo
Đức phối càn khôn cảm thiên tâm
Lịch kiếp miễn luân phàm tục tái hạ trần
Hội đồng thánh Thánh hiển tiên hương
Điểm hoá linh tuyền cứu vạn dân
Khả liệu ngược tật kỳ diệu bệnh
Tế thế công ân hải dạng thâm
Đại thiên tuyên hoá tịch pháp Thiênn
Trung dung đại đạo phục trung hưng
Tứ duy bát đức phán vũ nội
Nhiễu ly đồi phong tự tiêu trầm
Cứu thế chân kinh bố thiên hạ
Đạo nhật quang huy chiếu vạn dân

Tử Đồng Đế Quân Tán Viết
Chân kinh công đức vô lượng
Quần chân phổ khung thương
Nhất thiết yêu ma củng thủ
Chư ban quỷ tuý tiềm tàng
Vạn đạo tường quang phổ chiếu
Thiên tằng ác nghiệt giai không
Kinh thanh phúng tụng
Dân khang vật phụ
Quốc vận long xương
Quần lê xích tử tuân kinh cú
Phổ thiên chi hạ trình thuỵ tường
Cứu thế chân kinh công đức ức
Ân cần phúng tụng độ mê tân

Thu Kinh Kệ
Đệ tử tụng chân kinh
Tụng thành đối cao chân
Từ bi cứu thế
Lân mẫn thương sinh
Từ quang chiếu đại đồng
Diễn giáo thuyết pháp độ chúng sinh
Ân cần hoá mê tân
Tụng kinh dĩ tất
Khể thủ tạ lễ

Vô cực thánh chúng Đại Thiên Tôn
Chí tâm qui mệnh lễ
Đại bi đại nguyện đại thánh đại từ
Vô cực vô thượng Cửu Thiên Huyền Nữ Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Thiên Tôn

Chí tâm qui mệnh lễ
Đại bi đại nguyện đại thánh đại từ
Cửu Thiên Huyền Nữ Nhân Từ Cứu Thế Tứ Phúc Xá Tội Đại Thiên Tôn

Chí tâm qui mệnh lễ  
Đại bi đại nguyện đại thánh đại từ
Nam Thiên Cửu Thiên Huyền Nữ Hộ Quốc Hữu Dân Cứu Thế Đại Thiên Tôn
志心皈命禮
大悲大願大聖大天。天極天上九天玄女救苦救難大天尊。 志心皈命禮
大悲大願大聖大天。九天玄女仁天救世賜福赦罪大天尊。 志心皈命禮
大悲大願大聖大天。南天九天玄女護國佑民救世大天尊。

HẾT

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2021

Tái Thiết Diêu Trì Bửu Điện






Cao Đài Tiên Thiên xuất phát từ Tiên Thiên Đại Đạo và chi đạo Minh Sư vốn thờ Diêu Trì Kim Mẫu nên việc tôn kính Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn trong Cao Đài Tiên Thiên được xem như là sự tiếp nối tư tưởng kính trọng và thờ phụng Thánh Mẫu của cộng đồng cư dân Nam Bộ. Trong văn hóa Nam Bộ, yếu tố Nữ Thần và Thánh Mẫu chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian. Cụ thể là các vị như: Lê Sơn Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Mẫu Thiên, Mẫu Địa và các vị Nữ thần như Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Vị Tiên Nương… đã xuất hiện lâu đời trong hệ thống thờ tự của cư dân Nam Bộ. Cao Đài Tiên Thiên đã tiếp thu yếu tố này và chọn Diêu Trì Kim Mẫu như là một biểu trưng nhằm dung hòa tín ngưỡng truyền thống tại Nam Bộ, đồng thời cũng để giải thích về triết lý Âm – Dương theo giáo lý Cao Đài.

Đây là ngôi thờ Diêu Trì Kim Mẫu, được xây dựng theo lối kiến trúc dung hợp Đông Tây rất rõ nét. Bên ngoài nhìn vào sẽ thấy có sự hài hòa giữa mái cong và cổng vòm bốn phía, trên nóc có hai lầu là Minh Nguyệt Lầu (Chuông) và Châu Nhật Lầu (Trống). Giữa hai lầu là biểu tượng Vòng Vô Cực, hai bên là hai Bát Quái Tiên Thiên và Bát Quái Hậu Thiên. Bên trong, có 8 cột đắp chim loan, họa tiết Tứ linh trên các mái diềm. Nơi chính điện của ngôi Diêu Trì là nghi thờ Diêu Trì Kim Mẫu được tượng trưng là Vòng Vô Cực ở trên cùng, bên dưới là chín bậc thờ Cửu Vị Tiên Nương, mỗi bậc đều có sắp đặt lư hương, đông bình tây quả. Phía sau còn có các bàn thờ lớn thờ Âu Cơ Thánh Mẫu, Nữ Oa Thánh Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ và Lê Sơn Thánh Mẫu.

Cao Đài Tiên Thiên xuất phát từ Tiên Thiên Đại Đạo và chi đạo Minh Sư vốn thờ Diêu Trì Kim Mẫu nên việc tôn kính Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn trong Cao Đài Tiên Thiên được xem như là sự tiếp nối tư tưởng kính trọng và thờ phụng Thánh Mẫu của cộng đồng cư dân Nam Bộ. Trong văn hóa Nam Bộ, yếu tố Nữ Thần và Thánh Mẫu chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian. Cụ thể là các vị như: Lê Sơn Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Mẫu Thiên, Mẫu Địavà các vị Nữ thần như Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Vị Tiên Nương… đã xuất hiện lâu đời trong hệ thống thờ tự của cư dân Nam Bộ. Cao Đài Tiên Thiên đã tiếp thu yếu tố này và chọn Diêu Trì Kim Mẫu như là một biểu trưng nhằm dung hòa tín ngưỡng truyền thống tại Nam Bộ, đồng thời cũng để giải thích về triết lý Âm – Dương theo giáo lý Cao Đài.

Chữ Diêu, hoặc Dao, có nghĩa là ngọc diêu, một thứ đá quý báu. Chữ Trì là ao nước hay là hồ nước. Chữ Diêu Trì hợp lại có nghĩa là ao nước hay hồ nước, trong đó có nhiều ngọc quý báu. Chữ Kim là vàng, cũng có nghĩa là các kim loại như bạc, đồng…thuộc về Tây Phương. Theo Bát quái Hậu thiên, Kim này ở ngôi Đoài, mà Đoài là Âm kim. Chữ Mẫu là mẹ, là chủ tể thuộc về hữu hình. Trong Đạo Đức Kinh có nói: “Hữu danh, vạn vật chi mẫu”, nghĩa là chừng Đạo có hình, có tên, nó là Mẹ sinh muôn vật.

Theo vũ trụ quan Cao Đài Tiên Thiên, khi chưa có trời đất, còn trong thời kỳ hỗn mang hay hồng mông, vũ trụ chỉ là một khoảng không mờ mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược chưa phân, nhưng vô cùng huyền diệu, chỉ có một chất khí gọi là “Tiên Thiên hư vô chi khí”. Khí hư vô ấy quay vòng rồi ngưng kết, phát ra một tiếng nổ lớn, sinh ra một điểm Thái Cực, Đạo Đức Kinh gọi đó là: “Đạo tự hư vô sanh nhất khí” tức khối Đại Linh Quang, Đại hồn của vũ trụ với tính trọn lành trọn tốt, toàn tri toàn năng, thiên biến vạn hóa, vô tận vô cùng. Từ đây, vũ trụ bắt đầu có ngôi Thái Cực duy nhất, là Đại hồn của một đấng duy nhất gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà tín đồ Cao Đài Tiên Thiên thường gọi là Đức Chí Tôn.
Từ ngôi Thái Cực, mới phân lập ra hai Nghi Âm - Dương và chưởng quản phần Dương quang, đồng thời hóa thân ra Diêu Trì Kim Mẫu từ khối Vô Cực ban đầu để chưởng quản phần Âm quang. Vậy, nguồn gốc của Diêu Trì Kim Mẫu là hóa thân đầu tiên của Ngọc Hoàng Thượng Đế để làm chủ khí Âm quang, cầm phân nửa quyền lực với Ngọc Hoàng Thượng Đế và luôn tùng theo mạng lịnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Sau đó, Diêu Trì Kim Mẫu thâu lằn sinh quang của ngôi Thái Cực, đem Âm quang phối hợp với Dương quang để tạo ra các tầng trời, tinh cầu và các địa cầu, tạo thành Càn khôn vũ trụ. Tiếp theo, định vị Kim Bàn nơi Tạo Hóa Thiên[1] mà sinh hóa ra Bát hồn nơi cõi Thiêng liêng vô hình gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn và cho đầu kiếp xuống các địa cầu tạo nên vạn vật chúng sinh. Vì vậy, Diêu Trì Kim Mẫu là đấng nắm cơ sanh hóa, thay mặt Chí Tôn đứng ra thâu cả Thập Thiên can đem hiệp với Thập nhị Địa chi mà tạo nên muôn vật. Như thế, con người nơi cõi phàm trần ngoài hai Đấng Cha Mẹ chung thiêng liêng, còn có thêm hai vị cha mẹ phàm trần nữa. Nói chung, toàn bộ chúng sinh trong Càn khôn vũ trụ hay toàn cả Vạn linh đều là con cái của Đức Chí Tôn và Đức Diêu Trì Kim Mẫu, dầu cho là các vị Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Lão Tử, Khổng Tử, Chúa Jésus…tất cả đều là con cái của Ngọc Hoàng Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu.

Vì là Mẹ sanh của muôn vật, là bậc rất mực tôn nghiêm và cao tột, có tình thương bao la, không cùng không tận đối với vạn vật nên còn có danh xưng là Vô Cực Từ Tôn. Tóm lại, trong danh xưng tuy phân biệt là Cha, là Mẹ, nhưng trong ý nghĩa siêu việt của chân lý thì Cha và Mẹ là một, hay Thái Cực và Vô Cực cũng là một, một bản thể chân như tự tánh, chí cực chí tôn, tự hữu và hằng hữu.
Trong bài Phật Mẫu Tâm Kinh có đoạn:

“Từ hỗn độn Chí Tôn hạ chỉ
Cho thiếp quyền quản khí hư vô
Lấy âm quang tạo khách tăng đồ…”
Và:
“Chưa ai vào đến cõi trần này
Chẳng thọ lấy chơn thần tay thiếp
Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp
Rồi dắt dìu cho hiệp với Cha”.
Từ đây, có thể thấy vai trò và công đức của Diêu Trì Kim Mẫu qua sự tôn kính trong ý thức và đức tin của người tín đồ Cao Đài. Chính vì vậy, đại lễ Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – Hội yến Bàn Đào hằng năm được xem là ngày lễ trọng bậc nhất của người tín đồ Cao Đài Tiên Thiên nói riêng và cả cộng đồng Cao Đài nói chung.

[1] Kim Bàn hay Kim Bồn là cái chậu bằng vàng của Đức Phật Mẫu đặt nơi Diêu Trì Cung dùng chứa các nguyên chất để tạo chơn thần cho các Nguyên nhân giáng trần. Tạo Hóa Thiên là từng trời Tạo Hóa. Đó là tầng Trời thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên, do Đức Phật Mẫu chưởng quản:
“Tạo Hóa Thiên huyền vi Thiên Hậu
Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì” (Phật Mẫu Chơn Kinh)

Tầng Trời thứ 9 gọi là Tạo Hóa Thiên, có vị cầm quyền năng tạo đoan gọi là Thiên Hậu, nắm cả Kim Bàn tức là nắm đẳng cấp thiêng liêng điều khiển chơn linh gọi là Phật Mẫu Diêu Trì.



ĐÀN GIỜ HỢI

Ngày 9 tháng 8 năm Canh Tí
Ngày 25 tháng 9 năm 2020
Đàn Tràng Nam Thành
Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền




Một đêm trước, khuya 23 tháng 9, Đức Ngài đã thỉnh cầu Cửu Vị Tiên Nương xuống bài xác định tôn danh và phong vị của các ngài để về sau tông đệ Giáo Hội Thiên Trường và người đời biết chính xác và thờ phụng.



Bấm vào thanh audio để nghe


NHỨT NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG thế danh

HOÀNG THIỀU HOA NƯƠNG NHỨT cơ sanh

NGỰ VƯỜN NGẠN UYỂN Tỳ Bà tán

TỲ BÀ ĐÀN khải húy lực canh

Nhứt khí tả đoan xuất địa cầu

Nương theo MẸ lịnh biểu âm câu

Tam bửu kỉnh bái dâng đàn vọng

Hội Yến mừng vui khải tỳ thầu.



[Nhứt Nương là Chưởng Quản của Vườn Ngạn Uyển. Ngài tiếp dẫn các chơn hồn mới vừa thoát xác lên tầng trời thứ nhứt. Mỗi đóa hoa trong vườn Ngạn Uyển là một chơn hồn. Khi chơn hồn giáng kiếp thì hoa nở, lúc mãn kiếp thì hoa tàn. Tôn danh của Nhứt Nương là Ngạn Uyển Chưởng Hồn. Đạo hiệu là Huỳnh Hoa Tiên. Pháp khí của Nhứt Nương là Đàn Tỳ Bà. Nhứt Nương có một kiếp giáng sanh trên đất Việt có tên là Hoàng Thiều Hoa, là một vị nữ tướng lừng danh của hai Vua Bà.]



NHỊ NƯƠNG CẨM TÚ NỮ HOÀNG danh

MỞ HỘI TRƯỜNG SINH KỲ TIÊN THÁNH

VƯỜN ĐÀO NƠI NGỰ TÂY VƯƠNG MẪU

Phẩm nhị CẨM TÚ ứng hiện rành

Nhị châu giai phận phận giai không

Thiên Cung đương cõi tương ấn đồng

Trần ai HOA trổ chim hót dịu

Gởi bóng khệ hình xác thể HỒNG.



[Nhị Nương chính là Tây Vương Mẫu Chưởng Quản Vườn Đào Tiên. Tín ngưỡng nhân gian và tôn giáo đã lầm lộn tôn danh này là của Mẹ Kim Mẫu Diêu Trì. Nhị Nương tiếp dẫn các chơn hồn lên từng trời thứ nhì. Với danh nghĩa con của Mẹ Kim Mẫu Diêu Trì thì Nhị Nương là Hồng Hoa Công Chúa. Tôn danh của Nhị Nương là Hội Yến Đại Tế Tư. Đạo hiệu của Nhị Nương là Cẩm Tú Tiên Tử. Pháp khí của Nhị Nương là Ngọc Lư. Nhị Nương có một kiếp giáng sanh vào đất Campuchia tên là Cẩm Tú. Cẩm Tú hoặc Cẩm Bửu là phiên âm từ tên của Nữ Hoàng Cambhubhara. ]



TAM NƯƠNG KIM TUYẾN cung thế danh

ĐỘ KHÁCH TRẦN AI tu thiện lành

CÕI THANH THIÊN hộ nhơn chúng thế

LONG TU PHIẾN công tận tường canh

Tam Kỳ khai mở đạo lần ba

Vi phướn nương cầu đạo dung hòa

Canh từ vô chuyển ơn trên kính

Ban đức tánh nhu tài trí CHA.



[Tam Nương được dân gian Việt cung kính xưng tụng là Kim Tuyến Tiên Tử. Tam Nương tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời Thanh Thiên tức từng Trời thứ ba. Tôn danh của Tam Nương là Độ Ách Nương Nương. Pháp khí của Tam Nương là Long Tu Phiến.]



TỨ NƯƠNG LÊ NGỌC GẤM thế danh

ĐOÀN THỊ ĐIỂM KIM BẢNG nhơn lành

NẮM QUYỀN GIÁM KHẢO tuyển hiền đức

CÕI HUỲNH THIÊN ẩn kỳ viên thành

Tứ đức vẹn toàn mới xưng danh

Cao trọng thiên lý đại chủ thanh

Hiền tâm vui tĩnh ngộ tâm đức

Điển tá buổi yên đạo cho thành.



[Tứ Nương đang nắm quyền Giám Khảo cửu thiên. Tứ Nương tiếp dẫn các chơn hồn lên tầng trời Huỳnh Thiên là tầng trời thứ tư. Tôn danh của Tứ Nương là Cửu Thiên Giám Khảo. Đạo hiệu là Hồng Hà Tiên Tử. Pháp khí của Tứ Nương là Kim Bảng. Tứ Nương có hai kiếp giáng sanh trên đất Việt, một kiếp tên là Lê Ngọc Gấm và một kiếp sau tên là Đoàn Thị Điểm, nữ sĩ nổi tiếng của Việt Nam.]



NGŨ NƯƠNG LIỄU HẠNH phong thế danh

TIẾP HỒN VỀ CÕI XÍCH THIÊN hành

XÍCH THIÊN CÕI chánh Tây thước tốc

NHƯ Ý thực phân ký phong sanh

Ngũ hồng vận chuyển HOẠT HUYỀN THIÊN

Gởi trọn hữu cảnh trực quan nhiên

Công tu nay gặp Diêu Yến Hội

Đức tánh lượng bề kiến bàn nguyên.



[Trách nhiệm của Ngũ Nương là tiếp dẫn các chơn hồn lên tầng trời Xích Thiên là tầng Trời thứ năm. Tôn danh của Ngũ Nương là Thượng Thiên Thánh Mẫu. Đạo hiệu của Ngũ Nương là Liễu Hạnh Tiên Tử. Pháp khí của Ngũ Nương là Như Ý. Theo tư liệu của Giáo Hội Thiên Trường, Ngũ Nương có nhiều kiếp giáng sanh trên đất Việt. Một kiếp là Hoa Dung Công Chúa. Một kiếp khác tên là Liễu Hạnh.]



LỤC NƯƠNG HỒ THỊ HUÊ thế danh

TRUY HỒN say đắm biển mê hành

KIM THIÊN CÕI ngự cảnh di bảo

TIÊU DIÊU PHƯỚN lạc ảnh cung thành

Lục lạc kiểng khai mở năm châu

Nương chi đường lối vật chất sầu

Mau mau tỉnh giấc nghịch sai bước

Cuộc án phân thân đổi mạch cầu.



[Lục Nương tiếp dẫn các chơn hồn lên tầng trời Kim Thiên, là tầng trời thứ sáu. Tôn danh của Lục Nương là Truy Hồn Sứ Giả. Đạo hiệu của Lục Nương là Huệ Hoa Tiên Tử. Pháp khí của Lục Nương là Tiêu Diêu Truy Hồn Phướn. Theo tư liệu của Cao Đài, Lục Nương có một kiếp giáng sanh trên đất Việt tên là Hồ Thị Huệ. Một kiếp khác tại Pháp tên Jeanne d'Arc được dân Pháp tôn là một nữ thánh. Theo tư liệu của Giáo Hội Thiên Trường, như trong bài này, Lục Nương không phải tên Hồ Thị Huệ như tư liệu của Cao Đài đã viết mà là Hồ Thị Huê.]



THẤT NƯƠNG VƯƠNG THỊ LỄ thế danh

CÕI HẠO THIÊN nhiên mở phúc lành

ĐỘ HỒN NƠI CÕI ÂM QUANG lạc

HOA SEN HỒNG thắm chói nguyệt thanh

Thất thế tạm nương chớ tưởng lâu

Nương cùng ĐẠI ĐẠO đuốc sáng cầu

Quyết đem nhơn thiện đến dương liễu

Đón chào căn lọt lễ phụng chầu.



[Trách nhiệm của Thất Nương là tiếp dẫn các chơn hồn lên tầng trời Hạo Thiên là tầng Trời thứ bảy. Tôn danh của Thất Nương là Âm Quang Tiếp Dẫn Đạo Nhơn. Đạo hiệu của Thất Nương là Lễ Hương Tiên Tử. Pháp khí của Thất Nương là đóa Hoa Sen Hồng. Thất Nương có một kiếp giáng sanh trên đất Việt tên là Vương Thị Lễ.]



BÁT NƯƠNG HỚN LIÊN BẠCH thế danh

CÕI PHI TƯỞNG THIÊN giáp lướt thành

ĐỘ KHẮP HỒNG TRẦN SANG BẾN NGẠN

GIỎ HOA LAM thơm tỏa mây xanh

BÁT chiêu SEN TRẮNG nở mọi ngày

Hương thơm HOA đẹp ngất lòng thay

Trăng soi đổi lớp triển khai ý

Nơi gương sen nở trắng thơm hoài.



[Bát Nương tiếp dẫn các chơn hồn lên tầng trời Phi Tưởng Thiên là tầng trời thứ tám. Tôn danh của Bát Nương là Phổ Lạc Thiện Sư. Đạo hiệu của Bát Nương là Bạch Liên Hoa Tiên Tử. Pháp khí của Bát Nương là Giỏ Hoa Lam. Theo tư liệu của Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ, và nội dung trong bài này, Bát Nương có một kiếp giáng sanh bên Trung Hoa thời Tây Hán tên Hớn Liên Bạch và một kiếp giáng sinh trên đất Việt mang họ Hồ. Theo tư liệu của Giáo Hội Thiên Trường thì Bát Nương giáng sinh trên đất Việt rất nhiều lần trong các đời Đinh, Lê, Lý, Trần.
Chiếu theo nội dung bài Bát Mẫu Nương Công do Hiệp Thiên Huyền Nam Phương Vũ tại đạo tràng St. Louis nhận thông điệp từ Huyền Không Thượng Thiên và gởi đến Đức Ngài vào ngày 20 tháng 9 năm 2020 lúc 11:40 sáng US, thì kiếp gần đây nhất của Bát Nương chính là “Cô Thu” vừa mới mất (Thu vàng lá úa màu hoa cuối), tức là bà Phạm Xuân Thu, sinh ngày 2 tháng 3 năm năm Kỷ Hợi (1959) và triều thiên ngày 4 tháng 4 năm Bính Thân (2016). Bát Nương còn có tôn danh khác là Bát Nương Di Hoa Kim Hải.]



CỬU NƯƠNG CAO THỊ KHIẾT ngọc danh

TẠO HÓA THIÊN SANH giải nét lành

Giác ngộ hồn vui thay sửa kịp

ỐNG TIÊU vang vọng khắp linh thành

CỬU THIÊN MỞ CỬA RƯỚC NGƯỜI HIỀN

Nương vi vô ảnh tầm độ duyên

Tri ân chiếu điển chánh pháp tiếng

Thiên cảnh giải trình lập Kỳ Nguyên.



[Cửu Nương là tiếp dẫn các chơn hồn lên tầng trời Tạo Hóa Sanh Thiên là tầng Trời thứ chín. Tôn danh của Cửu Nương là Diêu Trì Cung Sứ Giả. Đạo hiệu của Cửu Nương là Ngọc Vạn Tiên Tử. Pháp khí của Cửu Nương là Ngọc Tiêu. Theo tư liệu của Giáo Hội Thiên Trường, bài Cửu Mẫu Nương Công, do Hiệp Thiên Huyền Nam Phương Vũ tại đạo tràng St.Louis tiếp điển ngày 22 tháng 9 năm 2020 gởi thông điệp đến Đức Ngài lúc 15:16 giờ US, Cửu Nương tiết lộ cho biết mình đã nhiều lần giáng trần trên đất Việt trong các triều Đinh, Lê, Lý, Trần và có một kiếp là vợ của Lịnh Công Mạc Kính Cửu ở Hà Tiên (tức bà Bùi Thị Lam, người huyện Đồng Môn, Biên Hòa?). Cũng trong bài này Cửu Nương tiết lộ bà chính là Cửu Thiên Huyền Nữ mà tín ngưỡng nhân gian và tôn giáo lầm lộn tôn danh này là của Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu. Theo tư liệu của Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ, Cửu Nương có một kiếp giáng sanh trên đất Việt tên là Cao Thị Khiết, sanh ngày 16 tháng Giêng năm Bính Thân (1895) tại Thị Xã Bạc Liêu, con của Ông Đốc Phủ Cao Minh Thạnh và Bà Tào thị Phu Nhân, triều thiên ngày 27 tháng Năm năm Canh Thân (1920) lúc mới 25 tuổi. Một kiếp khác bà là Công Chúa Ngọc Vạn, con của Chúa Nguyễn Hy Tông, được gã cho Vua Chey Chetta II trở thành Hoàng Hậu của nước Cao Miên.]




CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG khai sắc cơ

PHẬT khai nguồn lực pháp môn chờ

Hữu lai lai hữu giai không bất

Giữ phục y kỳ tác hoán cờ.



PHONG VỊ CỬU PHẬT NƯƠNG diêu quí

Xuất đất toan kỳ lộ tống vi

Chí phân giai đáo kỳ Phổ Độ

Cựu báo CƯ, CHIÊU chiếu hành y.



[CỬU PHẬT NƯƠNG là phong vị của CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG. Cư là Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư và Chiêu là Ngôi Hai Giáo Chủ Ngô Văn Chiêu của Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ. Các ngài đều trở lại vào lần ba này của Tam Kỳ Phổ Độ trong Giáo Hội Thiên Trường để tiếp tục sứ mạng.]



ĐẠI ĐẠO TAM KỲ phổ độ nhân

HỘI YẾN DIÊU TRÌ cung Tây tần

TRƯỞNG QUẢN TẠO HÓA THIÊN đoan xuất

KIM BÀN PHẬT MẪU thiêng liêng ân.


[Trưởng Quản Tạo Hóa Thiên là Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Từ Tôn cũng chính là Kim Bàn Phật Mẫu.]


ĐỔNG SONG THÀNH hầu giá KIM ÂN


VƯƠNG TỬ PHÁ phá tài sắc đoan huân

HỨA PHI YẾN nhiệt thể tiên đáo

AN PHÁT TRINH trung tứ vị thân.



[4 vị nữ nhạc hầu Đức Phật Mẫu là Đổng Song Thành, Vương Tử Phá, Hứa Phi Yến, An Phát Trinh]



Tam HOA bửu kính NHỨT địa cầu

TÚ NƯƠNG NHỊ VÕ gợi bóng châu

TUYẾN TAM rõ báo bề trên lượng

GẤM đức TỨ toàn quý danh câu.


[Nhứt HOA, Nhị TÚ, Tam TUYẾN, Tứ GẤM]


LIỄU NGŨ tịnh thiên bảy vận chuyển

HUÊ LỤC NƯƠNG sanh cả giới điền

LỄ THẤT chỉ đường sơn già trẻ

BẠCH SEN nở trắng BÁT thêm HOA.


[Ngũ LIỄU, Lục HUÊ, Thất LỄ, Bát BẠCH, Cửu KHIẾT]


KHIẾT CỬU trùng nguyên cửa sướt về

Đảnh cảnh dặm thành gốc cội năng

Chớp nhoáng cửu vi nương Tây đàng

Canh yên ý lịnh chờ THIÊN MẪU

CỬU VỊ PHẬT NƯƠNG đáo khai ban.



Kỳ ba TAM KỲ PHỔ ĐỘ NHÂN

Chiếu điển ân ban rõ OAI THẦN

Ngược thuyền xuôi cảnh CHỜ XUẤT TRẬN

Phẩm vị CỬU NƯƠNG phép mầu thuần.



Tri ân mệnh cuộc ĐẠI ĐẠO hòa

Phận cơ lan tỏa vận khương xa

Linh liễu cơ thiên trần hồ chuyển

PHÁP ĐIỂN tạo ra ĐẠO KỲ BA.



Chỉ là THIÊN Ý trải ban hành

CỬU NƯƠNG bổn hữu khoảnh khắc đang

NHIỆM KỲ ĐẠI ĐẠO lịnh bổn hoàn

Khắp phương Hội Yến trăng soi sáng.



Pháp động mở mang thái bình an

Hạ phàm CỬU trụ vạn trường xuân

Cõi tạm thân xác MẪU từ ân

Lộng lầu vô ảnh nâng tứ trụ.



Cơ chiếu tại trường danh bộ lưu

Chờ hội trống vọng từ công án

Đông Tây Nam Bắc chọn nẻo đàng

Vui từ hạnh đạo bảo chơn như.



Canh thâu ráng thức truy bài tâm

Tấn hội Canh niên cửu phẩm tầm

Cạn sâu vực thẩm nêu kỳ hội

Cửu vi ngắm nhìn thế sự phàn.



Phiêu phiêu sóng lặng khúc nhạc đàn

NHỨT NƯƠNG giáng vẹn tặng lễ ban

Nhứt nhứt đoan tả vẹn pháp ý

Nương ý chỉ một tấm chơn vàng.



Ẩn lộng theo chơn đức MẪU HOÀNG

NHỊ NƯƠNG CHƠN VÕ khiếu huyền quang

Chờ kỳ ô giải mở thầm thức

Trinh tiết phòng không sự xế xan.



Thời khó tam ma MỞ ĐẠO ra

TAM KỲ PHỔ ĐỘ pháp mọi nhà

QUẠT LÔNG PHIÊN TỤ lượng chính thất

TAM NƯƠNG khai chí mở báu tòa.



Thúc tâm linh Tứ Đức vẹn toàn

KIM BÀN xoay chuyển thoát huy năng

TỨ NƯƠNG tặng khách văn bài tự

Tâm trạng vững vàn niệm tầm phăng.



NHƯ Ý màn Canh chuyển bạc thiên

NGŨ NƯƠNG hồng đơm một chiếc thuyền

Huyền môn khai lộng ân tâm phúc

Qui nguyên bố đức mái nhà duyên.



PHƯỚN TIÊU DIÊU ÂM vang Hội Yến

Tỉnh giấc lo cởi hết mộng huyền

LỤC NƯƠNG quyết Ô cầu Ngân bắt

Sám cung khôn thoát khổ trầm khiên.



HỒNG SEN trổi mọc cõi Hoa Thiên

THẤT NƯƠNG VƯƠNG phép thất thế truyền

Chỉ đường chơn ý Tòa Đài mở

Chí dốc một lòng Phật chuyển nhiên.



HOA LAM GIỎ hương thơm cung diễn

BÁT NƯƠNG từ HOA vận rộ thiên

Gần hương SEN say mãi Tòa Đài

Thêm hoa rãi vườn hoa gội tuyển.



ỐNG TIÊU âm diệu mở cửa thiên

CỬU NƯƠNG qui cựu đón người hiền

Nương chí dắt dìu đến Tây Phật

Mùa Thu sáng lạng như trăng lên.



Điển thiện chắt chiu lượt giải trình

Giai mang đa phận giải tạng kinh

CỬU NƯƠNG VỊ PHẬT nghiêm chánh pháp

Mở rộng tâm căn hữu phúc linh.



Hồn thăng nhập thể vô hình thay

Mạch khiết năng cơ thao lược mài

Cẩm nang chí tỏa giải bồng giấc

Chơn tu tâm pháp tựa Phật Đài.



Diệu ý SÔNG NGÂN PHỤNG GÁY non

Chân tướng xác thân đi đứng mòn

Vô vi sắc mệnh tâm khả ái

Gởi trọn KỲ YÊN lập án công.



CỬU NƯƠNG say pháp rõ nét nhìn

TAM KỲ PHỔ ĐỘ tát viên linh

Pháp bủa lắm phen mau nắm lấy

Nhẹ bước liên hoa thở bình minh.



Cơ đáo di phận bủa đức trong

Xuân Thu trổi nhánh mọc mầm vòng

NGHÌN NĂM CÓ MỘT KỲ YÊN ĐẾN

CỬU NƯƠNG trang sử sách thần công.



Ngày mai sự thế đăng hoa tỏ

Thơ thảo càn khang hấp thụ ra

Hội Yến dồi đức hoa thơm tựa

LIÊN HOA CHÍN PHẨM TẤT LỊNH BÀ.



LONG HỘI đang chờ tinh hoa nở

Màu trời đượm bóng thắm linh thơ

Vô hình huyền diệu sơn minh tỏa

CỬU PHẬT NƯƠNG NƯƠNG thiện ý chờ.



Phận người giai bổn nhiệt tình chỉ

Giờ khắc vô vi bến hẹn kỳ

PHONG THẦN KHAI điệu âm vang trổi

Bước một màn ba cẩm nang y.



Chấp pháp vi hồi đổi gió xa

Ngàn năm mở xuất chúng linh tà

Toán trời sửa soạn tinh hoa mã

Can lược thâm sâu đếm thời gia.



Khuê lầu các thuần phong khả ái

Rõ mục đề sâu khải đàn an

Mầm thiện tâm đâm mọc rào hàng

Thơm hương vị tựa hồ sen dậy.



Thả lòng từ kỳ mở gom thâu

Thiên ý kỳ ba LONG HỘI LẦU

Mầm căn tô điểm năng công lực

Trống lịnh THIÊN MINH điệu xoay lâu.



Điển hồi chấm dứt an khương cảnh

Đàn trổi vọng thiên thấu mây xanh

CỬU NƯƠNG VỊ trở lai cung vị

Thiên Cung gởi bóng tạm lời lành.



ĐÀN GIỜ MÃO



Ngày 9 tháng 8 năm Canh Tí
Ngày 26 tháng 9 năm 2020
Đàn Tràng Nam Thành
Hiệp Thiên Huyền Nữ Kim Ngọc Thanh Huyền






THÁI KIM ANH CẨM TÚ TÂY DIÊU KIM LÂM TRẢI




THÁI thời diễn hết khúc dân yên



KIM lai ẩn bóng Kỷ Canh niên



ANH tài Đức Đạo chói rực tỏa



CẨM thơ ngõ ý tỏa bố miền



TÚ lộng xòe cánh vô hình bóng



TÂY Thiên mở thức đẩy lực thần



DIÊU Tây soi sáng chuyện gội nhuần



KIM Nương cảnh lạc cõi Tây Bồng



LÂM hạ một cảnh hoa liên rộ



TRẢI mạch ấm lòng định CỬU THIÊN



LỰC tâm cố giữ đời cảnh thiện



SÁCH giải hòa dung đột phá vô



Ý chờ thạnh thới vinh quy giá



TUYỆT đỉnh nêu sâu chọn ứng HUYỀN




VỜI vợi từ tâm xưa lại chuyển



RỰC ánh ban mai cảnh thiên xa



BÌNH tâm ráng bước thức thần mở



MINH thuần hồi vị rạng ngày mai



KIM Đài ẩn bóng trau màng lộng



TỎA rực kim quang xu thế cờ.

LỄ VÍA ĐỨC KIM MẪU





LỄ VÍA ĐỨC KIM MẪU


NGHI THỨC CÚNG VÍA ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU

CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG –HỘI YẾN BÀN ĐÀO

(Rằm Tháng 08 Âm Lịch)

I. CHUẨN BỊ

1/ Vật Phẩm

- Một cái bàn dài, có khăn trải bàn.

- Một thau nước bạch thủy.

- Một cái bàn nghi thức (chắn ngang), có khăn trải bàn.

Bàn nghi thức chắn ngang quay về hướng thiên bàn có 5 vị:
  1. Diêu Trì Kim Mẫu
  2. Hồng Bàn Tiên Mẫu
  3. Lê Sơn Thánh Mẫu
  4. Cửu Thiên Huyền Nữ
  5. Hà Tiên Cô

Bàn dài nghi thức có 9 bài vị tứ:
Nhứt Nương Diêu Trì cung.
Nhị Nương … đến cửu Nương Diêu Trì cung.
Mỗi bài vị đều có 3 chung để dâng hoa, tửu, trà (3 chung).

Mỗi bàn đều có lư hương, đèn, bình hoa, dĩa trái và bánh mứt được xếp vào dĩa để đều mọi chỗ thẳng hàng theo Bài vị.

2/ Nhân sự

- Ban đồng nhị tề tựu, nam, nữ.

- Cặp nghi đứng đôi bên để xướng nghi lễ.

- Ba vị đại diện phái nữ chuẩn bị quì để dâng hương.

- Một vị trưởng hoặc phó Ban Nghi lễ, đọc văn sớ và nhắc nghi.

- Hai vị đại diện phái nữ đứng để đại diện thắp nhang đèn, rót rượu trà khi nghi lễ xướng dâng cúng từ Đức Mẹ và Nhứt Nương tuần tự đến Cửu Nương.

- Hai vị văn đàn, võ đàn, hầu chuông và sắp xếp nơi thứ tự khi hành lễ.

II. NỘI DUNG TIẾN HÀNH

Xướng:

Tinh tú thị lập

Chấp sự giả các tư kỳ sự

Thiên phong chức sắc nhập đàn

Lôi âm cổ khởi

Bạch ngọc chung minh

Thanh chung phát khởi

Nội nhi ngoại nhi tựu vị.

(Chuông xá đàn vào vị trí)

- Giai quì –Phần hương –Nguyện hương (Thỉnh Thánh)

- Thành tâm tụng niệm Hương chú (đọc Bái Hoàng Thiên).

Xướng: Cúc cung bái (3 lạy). Hưng –bình thân.

Xướng: Lễ hiến Huỳnh tương yến.

- Thành niệm sớ văn (quay về Thiên Bàn để cầu nguyện dâng sớ).

- Tuyên đọc sớ văn.

(Sớ đại đàn có thêm phần: Lễ Vía; Đức Diêu Trì Kim Mẫu đại yến huỳnh tương).

Xướng:

- Thượng sớ (đọc Chú vãng sanh).

- Cúc cung bái (3 lạy). Hưng –bình thân.

(Quay về Bàn Nghi thức, Đức Mẹ và Cửu vị Thiên Nương, Lên Đèn, Văn đàn, đốt hương chuẩn bị cho 3 vị nữ, đại diện nguyện hương).

BÀI NGUYỆN HƯƠNG

Thành kỉnh trọn lòng thắp nén nhang

Vọng cầu Kim Mẫu đáo trần gian

Phật, Tiên, Thần, Thánh đồng lai ngự

Cửu vị Tiên nương hiệp nhất đàng.

Xướng: Thượng hương (cắm vào Bàn Đức Mẹ phía trên).

- Cúc cung bái (3 lạy). Hưng –bình thân.

Xướng: Thành tâm phụng thỉnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

KINH VÍA ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU I

Vọng Kim Mẫu Diêu Trì chứng chiếu

Cùng Cửu Nương giáng hiệu đàn trung

Đêm nay nhăm tuyết trung thu

Các con mừng Mẹ, mừng cùng chư tiên

Đức Từ Phụ gieo truyền đại đạo

Lời nhủ khuyên dạy bảo dành rành

Nay con lập đức chí thành

Ơn nhờ Đức Mẹ lời lành nhủ khuyên

Cúng chư Phật chư Tiên dạy bảo

Có sám kinh thánh giáo dạy truyền

Nay con mới rõ Mẹ hiền

Từ Ngôi Diêu Điện xuống miền trần gian

Vì con dại lầm đàng sái bước

Nên Mẹ hiền không được lòng vui

Lòng thương Mẹ rất ngậm ngùi

Bởi con khờ dại nhiễm mùi trần lao

Đại Từ phụ đạo cao tế độ

Mẹ lòng thương bảo hộ các con

Từ đây ghi tạc lòng son

Tuân hành dại đạo giữ tròn tam qui

Chứ chí thiện, trí tri tạc dạ

Xin Mẹ thương ân xá lỗi lầm

Từ đây con nguyện nhứt tâm

Học theo đại đạo cao thâm dạy truyền

Xin Hoàng Mẫu giảm thiền xá tội

Rộng từ bi thi tội con khờ

Khi xưa con Mẹ bơ vơ,

Ngày nay rõ biết cũng nhờ đạo khai.

Lòng chí kỉnh Cao Đài từ phụ,

Hiệp các con qui tụ một nhà.

Tam kỳ đạo cả truyền ra,

Chị em hội hiệp chung hòa lo tu.

Ngày kỷ niệm Trung Thu ghi sổ,

Mẹ giáng trần điều độ các con.

Từ nay thịt nát xương mòn,

Các điều Mẹ dạy con còn nhớ ghi.

Nhờ Đức Mẹ từ bi quảng đại,

Xá mấy phen con lạy lỗi lầm.

Trung Thu Tháng Tám đêm rằm,

Là ngày Đức Mẹ giáng lâm cõi trần.

Lòng thành kỉnh ân cần tiếp rước,

Lập Thiên Bàng trà nước quả dâng.

Con xin Mẹ giáng chúc mừng,

Mẹ thương xin chứng lễ mừng của con.

Xướng: Cúc cung cúng lạy (3 lạy), hưng –bái, hưng –bái, hưng –bái. Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Cửu Nương.

KINH CÚNG CỬU NƯƠNG

Cửu kiếp hiên viên thọ sắc thiên

Thiên thiên cửu phẩm đắc cao huyền

Huyền hư tạc thể Thần Tiên Nữ

Nữ hảo thiện căn đoạt cửu thiên.

Xướng: Cúc cung bái (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Nhứt Nương.

NHỨT NƯƠNG

HOA thu rủ như màu thẹn nguyệt

Giữa thu ba e tuyết đông về

Non sông trải cánh tiên quê

Mượn câu thi phú vui đề chào nhau

Xướng: Cúc cung bái (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Nhị Nương.

NHỊ NƯƠNG

CẨM tú văn chương hà khách đạo?

Thi thần tửu Thánh vấn thi nhân?

Tuy mang lấy tiếng hồng quần

Cảnh tiên còn mến cảnh trần anh thư.

Xướng: Cúc cung bái (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Tam Nương.

TAM NƯƠNG

TUYỄN đức độ tri nhân thành đạo

Quản trí thành ngộ đắc đạo cao huyền

Biển mê lắc lẽo con thuyền

Chở che khác tục cửu tuyền ngăn sông.

Xướng: Cúc cung bái lạy (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Tứ Nương.

TỨ NƯƠNG

GẤM lót ngõ chưa vừa gót ngọc

Vàng treo nhà ít học không ưa

Đợi trông nho sĩ tài vừa

Đằng giao cõi phụng chẳng ngừa tiên phi.

Xướng: Cúc cung bái lạy (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Ngũ Nương.

NGŨ NƯƠNG

LIỄU yểu điệu cho vừa nét đẹp

Tuyết trong ngần khó phép so thân

Hiu hiu nhẹ gót phong trần

Đài sen mây lướt gió thần đưa hương.

Xướng: Cúc cung bái lạy (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Lục Nương.

LỤC NƯƠNG

HUÊ ngào ngạt đưa hương dìu dịu

Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong

Nương mây thông thả cảnh hồn

Tiêu diêu phưởng phất cõi tòng đưa tiên.

Xướng: Cúc cung bái lạy (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Thất Nương.

THẤT NƯƠNG

LỄ bái thường hành tâm đạo khởi

Nhân từ tài thế tữ vô ưu

Ngày xuân gọi thế bảo cừu

Trăm duyên phước tục khó bù lòng tiên.

Xướng: Cúc cung bái lạy (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Bát Nương.

BÁT NƯƠNG

HỒ hớn hoa sen trắng nở ngày

Càng gần hơi đẹp lai càng say

Trêu trăng hằng thói dâu mày

Cợt mây tránh chúc Phật Đài thêm hoa.

Xướng: Cúc cung bái lạy (1 lạy). Hưng –bình thân. Thành tâm phụng thỉnh Cửu Nương.

CỬU NƯƠNG

KHIẾT sạch duyên hồng trần vẹn giữ

Bạc liêu ngôi hội cũ còn lời

Chính chuyên buồn chẳng trọn đời

Thương người noi Đạo Phật trời cũng thương.

Xướng: Cúc cung bái lạy (3 lạy). Hưng –bình thân. Thành nguyện chúc văn Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

KINH VÍA ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU II

Nhìn hương án châu rơi lã chã

Ngó đằng sau tấc dạ ai bi

Mẹ ơi Kim Mẫu Diêu Trì

Xin thương con trẻ sầu bi chốn này

Xưa con nguyện xuống đây độ thế

Nào hay đâu lầm kế mỵ tà

Dắt dìu cách Mẹ xa Cha

Thân con lao khổ ái hà dòng châu

Tình con Mẹ bấy lâu phân biệt

Cũng bởi vì oan nghiệt tạo gây

Từ khi vâng lệnh xuống đây

Quyết tu trở lại sum vầy Mẹ Cha

Hay đâu nỗi kế tà quỉ quyệt

Rù quến con ly biệt quê hương

Dắt đi sái bước lạc đường

Chịu điều ly khổ bi thương muôn ngần

Nhớ đến Mẹ chứa chan giọt lệ

Thảm thương con giữa bể ái hà

Cậy nhờ đức Mẹ ơn Cha

Dắt dìu con dại thoát qua lưới trần

Con gặp đặng hồng ân Mẹ Bố

Ra khỏi vòng bể khổ mê tân

Chữ tu con nguyện chuyên cần

Mẹ thương xin Mẹ dắt lần con thơ

Vì con dại sái bờ lạc nẻo

Bị kẻ tà trỉ kéo bấy lâu

Ngày nay tỉnh ngộ hồi đầu

Quyết tu trở lại đặng chầu Mẫu nghi

Nhờ đức Mẹ từ bi quảng đại

Xin dắt con trở lại Diêu cung

Ngày nay con Mẹ tương phùng

Là ngày hạnh phúc Mẹ cùng các con

Nhớ đến Mẹ héo von trong dạ

Thương Mẫu Hoàng lả chả dòng châu

Trần gian con chịu thảm sầu

Mẹ thương xin Mẹ rưới bầu thuốc linh

Cho con được tâm minh trí sáng

Cho con vào nơi bản nữ hiền

Ngày nào con mãn trần duyên

Về chầu Kim Mẫu nơi miền Tây Cung.

Xướng: Cúc cung bái lạy (1 lạy). Hưng –bình thân.

- Phụng hiến tiên hoa.

- Thành kỉnh tụng hoa nghi.

-

DÂNG HOA

Hoa tươi năm sắc, sắc thiên nhiên

Đầu cúi xin dâng lễ kỉnh thiền

Cám Đức Mẫu Nghi lòng đoái tưởng

Từ bi cứu thế giáng đàn tiên.

Xướng: Cúc cung bái lạy (3 lạy). Hưng –bình thân.

- Phụng hiên tiên tửu

- Thành kỉnh tụng tửu bôi

HIẾN BỒ ĐÀO

Bồ đào cam giá tửu Tây phương

Bá trãng cung trần mỹ vị hương

Hiếu tử thành tâm kiên phụng hiến

Mẫu Nghi hoan lạc kiết trinh tường.

Xướng: Cúc cung bái lạy (3 lạy). Hưng –bình thân.

- Phụng hiên tiên trà

- Thành kỉnh tụng trà nghi

DÂNG TRÀ

Đông độ thanh trà mỹ vị hương

Khấu đầu cung hiến chước hồ trường

Mẫu Nghi hứng cảnh nhàn quang nhã

Hiếu tử cung trần mỹ vị hương.

Xướng: Cúc cung bái lạy (3 lạy). Hưng –bình thân.

- Thành tâm phụng thỉnh Chư Thiên

THỈNH CHƯ TIÊN HỘI YẾN

Nguyện chư Phật mười phương rộng lớn

Thỉnh chư Tiên khắp chốn bồng lai

Trung Thu đại lễ đến ngày

Bàn Đào hội yến lễ bày kỉnh dâng

Cầu chư Thánh hồng ân giáng ngự

Mừng chư thần hội dự điện tiền

Giờ đày nơi cõi tục miền

Tấc lòng thành kỉnh kiếu thiên ngưỡn trông

Đời mạc pháp xoay vòng giáp mối

Cuộc thế trần vò gối cuộn tơ

Biết đâu mê giác bến bờ

Nguyên căn đành chịu ảo mờ thân tâm

Nhờ ân đức cao thâm bố hóa

Vẹt ngút mù giải phá tiền khiên

Bao nhiêu oan trái tiền khiên

Cam lồ rửa sạch cảnh tiên phục về

Chúc lễ mọn đượm đề dọn sẵn

Mừng chư Thiên dặm thẳng hạ đàn

Tửu trà huệ quả bỉ bàn

Hiến dâng trọn vẹn mọi đàng hôm nay.

Xướng: Cúc cung bái lạy (3 lạy). Hưng –bình thân.

Ghi chú: Nếu có chương trình Bình Thánh Giáo thì soạn sẵn đề tài, vào giờ này tiến hành, xướng ngôn viên giới thiệu và bình …

- Thành thỉnh chúc tụng bái tạ Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

BÀI ĐƯA TIỄN ĐỨC MẸ

Trước hương án dâng trà, huê, quả

Lễ kỉnh thành bái tạ Mẫu Nghi

Mẹ là đại đức từ bi

Vì thương con dại mấy khi giáng trần

Lời châu ngọc ân cần dạy biểu

Tiếng đá vàng cho hiểu thiên cơ

Dắt con chỉ bến, chỉ bờ

Khuyên con trọn đạo đặng thờ Thiên ân

Nay con đặng tâm yên trí định

Giữ một lòng nhẫn nhịn lo tu

Đêm nay nhằm tiết trung thu

Là ngày Mẹ vẹt ám mù cho con

Nếu rõ biết sống non bờ bến

Đồng chị em bước đến đường ngay

Trung Thu kỷ niệm là ngày

Thanh trà huê quả đất bày kỉnh dâng

Con lớn nhỏ lễ mừng Hoàng Mẫu

Mong hưởng nhờ mai hậu cưu ngôi

Canh khuya cuộc lễ an rồi

Lạy đưa Đức Mẹ phản hồi Diêu Cung.



Niệm: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu cô cựu đại từ tôn.

Xướng: Cúc cung bái lạy (3 lạy). Hưng –bình thân.



Chân dung Nữ Phái trong Sứ mạng Kỳ Ba

Sự lập giáo của Đức Cao Đài trong buổi hạ nguơn là một sự kiện hy hữu chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Bởi vì Ngài không chỉ mang đến cho con người những lời thánh huấn mà Ngài còn đến thế gian lập nên một đại cuộc cứu độ, với sự tái lập mô hình tổ chức và vận hành của cả vũ trụ càn khôn mà từ xưa con người vẫn mong mỏi tìm hiểu khám phá. Có thể nói Đức Thượng Đế đã mở cánh cửa huyền vi để con người thấy được chân lý mà quày bước trở về cho kịp nguơn hội quy nguyên của chu kỳ vũ trụ.

Từ cung Bạch Ngọc chín tầng cao vọi, Đức Thượng Đế đã bước xuống trần gian để làm một Tiên Ông thật gần gũi trong tâm thức con người với danh xưng Cao Đài và Cao Đài Tiên Ông cũng đã hữu hình hóa cả một guồng máy vận hành lý Đạo từ vô thỉ đến vô chung mà Ngài đặt tên là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để qua đó, con người thấy được hết cơ vi mầu nhiệm của trời đất mà phản bổn hoàn nguyên. Chính vì vậy mà tôn giáo Cao Đài không chỉ đơn thuần có sự giáo hoá, dạy dỗ của Đấng Giáo Chủ mà còn được sự dẫn dắt của tất cả chư Phật Tiên Thánh Thần và nhất là ngôi Khôn Đạo là Đức Diêu Trì Kim Mẫu, là Đấng chưởng quản cõi hữu hình.

Đức Diêu Trì Kim Mẫu hay Đức Phật Mẫu theo Đức Di Lặc "là hình ảnh ngôi Âm ứng hiện phương Tây thuộc Kim".
Theo Phật Mẫu Chơn Kinh, Ngài ngự ở từng trời thứ chín trong cửu trùng thiên, là từng trời sanh hóa vũ trụ vạn vật:

Tạo Hóa Thiên Huyền Vi Thiên Hậu
Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì
Sanh quang dưỡng dục quần nhi
Chơn linh phối nhứt thân vi thánh hình.

Chính Đức Phật Mẫu có quyền năng tạo hóa và cai quản, chăm sóc chúng sanh và toàn cõi hữu hình mà chúng ta được biết qua bài kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu:

Kể từ hỗn độn sơ khai
Chí Tôn hạ chỉ trước đài Linh Tiêu
Lưỡng nghi phân khí hư vô
Diêu Trì Kim Mẫu nung lò hóa sanh
Âm dương biến tạo chơn thần
Lo cho nhơn vật về phần hữu vi
Mớm cơm vú sữa cũng tay
Dưỡng sanh đùm bọc với tài chí công…

Khi Đức Thượng Đế khai mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, với tá danh lúc đầu là AĂÂ, Ngài dạy ba vị Tiền Khai là Ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang thiết lễ đãi mười đấng vô hình vào đêm 14 rạng 15-8 Ất Sửu (1925), và từ đó Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chính thức hằng năm thiết lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu vào đêm Trung Thu.
Đức Vân Hương dạy:

"Về sử liệu thánh đản xưa kia, ngày 18 tháng 7 là ngày lễ Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà hiện nay Minh Lý Thánh Hội còn noi theo cung kính. Đến khi Đức Thượng Đế lâm phàm tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thì ngày lễ Vô Cực Từ Tôn được thiết vào đêm Rằm tháng Tám. Tuy ngày tháng có khác nhưng nguyên lý vẫn một, duy chỉ có tùy thời kỳ mà giáo hóa, tùy cơ duyên mà phổ độ. Về hình thức cũng như tổ chức, trước dụng sự để vào lý, sau dụng lý mà hóa sự…"

Sự giáng trần của Đức Diêu Trì Kim Mẫu chính là để khẳng định quyền năng tạo hóa và chưởng quản thế giới hữu hình của Ngài, nhưng đồng thời cũng xác định vị trí của ngôi Khôn mà Dịch Kinh đã đề cập đến từ mấy ngàn năm trước:
"Chí tai Khôn Nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa Thiên." (Lớn thay đức Nguyên của đạo Khôn là đầu mối sinh thành phần hữu chất của vạn vật và thuận theo Đạo Trời.) Sau khi Đạo Kiền đã gây được mầm mống khởi đầu: "Đại tai Kiền Nguyên, vạn vật tư thỉ, nãi thống Thiên." (Lớn thay đức Nguyên của đạo Kiền, khởi sanh muôn vật, thống chưởng ngôi Trời.)
Kiền và Khôn là hai quẻ đầu mối của Kinh Dịch, đã được Ơn Trên dạy trong Đại Thừa Chơn Giáo (Sài Gòn 1956, tr. 276) như sau:
"… Cái Lý Đơn Nhứt ấy (Thái Cực) mới phóng ra một vầng quang minh phân định: (…) Khí nhẹ nhàng bay bổng lên làm ngôi Càn. Càn là thiên tức là nhứt dương chi khí. Khí nặng nề ngưng giáng xuống làm Khôn. Khôn là địa, nhứt âm chi khí."
Khôn là thuận, thuận tùng thiên lý,
Đức Kiền Nguyên tạo thỉ khai sanh,
Khôn Nguyên thừa tiếp hoàn thành.
Theo Trời hoằng hóa đại hành đạo Khôn.

Từ xưa đến nay, nhiều tôn giáo đã được khai sinh, các vị giáo chủ đã lần lượt đến trần gian mở đạo dẫn dắt con người tìm lại bổn nguyên chơn tánh. Từ Khổng Giáo, Ki Tô Giáo, Lão Giáo rồi Phật Giáo, chưa kể đến Hồi Giáo, Bà La Môn Giáo… chưa một lần nào mà ngôi Âm được xiển dương dù rằng nằm trong lý Đạo nhiệm mầu. Các vị giáo chủ có trách nhiệm dạy đạo đều là nam phái từ Đức Khổng Tử, Đức Giê-su, Đức Mô-ha-mét, Đức Lão Tử, rồi Đức Thích Ca… và tín đồ đi tu cũng toàn là phái nam. Nàng Thị Kính phải cải nam trang mới xin được vào chùa tu hành và Đức Quan Thế Âm Bồ Tát suốt cả một thời gian dài cũng chỉ làm công việc cứu khổ cứu nạn chúng sanh chứ cũng không thấy ghi lại những lời thuyết giảng thành kinh sách. Bởi vì tự ngàn xưa, người phụ nữ đã bị rẻ rúng coi thường, ngay cả trong đời sống thường nhật, nữ phái đã bị đóng khung bên trong gia đình với quan niệm lệch lạc về đức tam tùng: tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử. Người phụ nữ phải khép mình trong sự tùy thuận với gia đình thì làm gì được chen chân vào xã hội, huống hồ nói chi đến việc tu hành là việc mà người đời cho là cao trọng khó khăn vì thuộc lĩnh vực tâm linh, như lời của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát:

"Hỡi chư hiền muội! Kìa hãy nhìn xem trong vũ trụ: Trời thì có âm dương, người có nam có nữ, loài thượng cầm có trống có mái, loài hạ thú có đực có cái. Xét theo lý đạo, không giới nào là trọng, không giới nào là khinh. Mỗi mỗi đều có sứ mạng phối ngẫu hóa sinh trưởng dưỡng và bảo tồn cơ vận hành cùng lòng háo sanh của tạo vật. Nhưng than ôi! Chỉ tiếc vì tự ngàn xưa, giới nữ lưu đã bị gán những tiếng như thường tình nhi nữ, tay yếu chơn mềm, quần vận yếm mang, phụ nhơn nan hóa, nhược chất liễu bồ, khê hắc chi tâm, lá lâm chi khẩu. Rồi từ đó đã gieo vào tâm tư người phụ nữ có mặc cảm là người thiếu đức kém tài, non lòng yếu dạ. Từ chỗ mặc cảm thể hiện đến tinh thần yếu đuối. Vì ảnh hưởng của mặc cảm trên rồi khiến người phụ nữ trở nên có những đức tính thường tình"

Như vậy, đến Tam Kỳ Phổ Độ, đại cuộc cứu độ của Đức Cao Đài đã làm nên một cuộc cách mạng với sự giáng trần của Đức Diêu Trì Kim Mẫu cùng Cửu Vị Nữ Phật trong đêm trung thu khởi đầu sự phục hồi giá trị nữ phái để phái nữ không chỉ được bình đẳng, ngang hàng cùng nam giới trên đường tiến hóa tâm linh, mà còn được tham gia vào đại cuộc cứu độ mà Đức Thượng Đế gọi là sứ mạng kỳ Ba với sự đồng hành thực hiện của cả hai cõi sắc không, trong đó từ vô vi đến hữu hình đều có bóng dáng của nữ phái để xác định trở lại khả năng tiến hóa của nữ phái mà lịch sử đã từng chứng minh như lời của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát:

"Tuy nhiên những đại nguyên căn đã đủ can trường quật khởi để đính chánh những tiếng thị phi do đời đã gán, như nào là những bậc Thánh Nữ, các hàng Tiên Nương, những liệt nữ trong lịch sử đã lưu lại muôn đời, chớ nào phải như đời người đã tưởng tượng và mỉa mai."

Bởi lẽ, người phụ nữ dù bản chất âm nhu, tùng thuận nhưng cũng vẫn còn hàm chứa tính chất của Khôn Đạo phát xuất từ nguyên lý toàn năng tự khởi như lời Đức Vân Hương đã xác định trong Tam Kỳ Phổ Độ (08-6 Tân Hợi, 1971):
"… người nữ phái là hiện thể đặt riêng của nguyên lý Vô Cực toàn năng tự khởi. Lý ấy là lý đầu tiên hóa sinh ra muôn nghìn thế thái có bản chất nhu thuận hòa đồng. (…) mặc dù lẽ Vô Cực hóa sanh ra Thái Cực, lẽ âm tịnh mới phát khởi dương động, sự kiện có trước có sau trong diễn trình tạo đoan là thế, nhưng cùng lý tận tánh nó vẫn là ngang nhau. Sự trước sau không phải chỉ điều bé điều to hay điều quan trọng với điều thứ yếu."

Một điều đáng nói là đối với dân tộc Việt Nam vì bị ảnh hưởng phần nào nền văn hóa của phương Bắc do trải qua thời gian dài bị đô hộ, một số người Việt cũng đã có cái nhìn trọng nam khinh nữ nhưng truyền thống dân tộc với niềm tự hào con Rồng cháu Tiên để mãi mãi hướng về cội nguồn với hình bóng Mẹ Âu Cơ sản sinh trăm trứng làm nên giống nòi Hồng Lạc bất khuất vẫn ăn sâu vào tâm thức người Việt nên Đức Vân Hương đã nhận xét:
"Như các em đã biết, từ ngày nhân loại được tiếp nhận một nguồn sống mới cho xã hội mới, thì giá trị nữ phái mới được công nhận hoàn toàn. Nhưng xét lại, sự công nhận vào khoảng thời gian đó không phải là điều mới lạ. Thật sự thì tự ngàn xưa, bên cõi trời Đông, bên bờ sông Lạc Việt, bên lịch sử Tiên Rồng đã có một nền tảng giá trị quan trọng đối với người mảnh mai bồ liễu. Thế thì hiện hữu các em đang trên đà tiến triển về sự hiệp nhất tinh thần, đoàn ngũ hóa nữ phái, ấy chỉ là sự hoàn phục lại cái căn bản sơ nguyên…"

Phải chăng chính truyền thống dân tộc bắt nguồn từ nền văn hóa trọng nông, tôn thờ các nữ thần cũng là một trong những yếu tố để mảnh đất này được Đức Thượng Đế chọn làm nơi cho Đức Diêu Trì cùng chư Phật Nữ Tiên Nương dừng chân xây dựng tòa nhà tận độ trong buổi hoàng hôn của trái đất, để nhân loại được cơ hội ngàn năm một thuở tiếp xúc với các Đấng Phật Nữ, Tiên Nương, Thánh Nữ, Thần Nữ ngay trong cõi hữu hình mà tưởng chừng như chỉ xảy ra trong truyện cổ tích. Đặc biệt hơn nữa, các Đấng Phật Nữ, Tiên Nương không là hiện thân của thần quyền để ban phúc lộc hay trừng phạt con người phàm tục mà thể hiện trọn vẹn chân dung của tình thương Khôn đạo qua hình ảnh dịu dàng của người Mẹ, người Chị, người Thầy… mà Đức Vân Hương đã minh định:
"Từ cổ chí kim, chỉ có lần này nữ phái được hồng ân trong cơ tận độ, cùng trong quyền pháp sứ mạng, ngang hàng cùng nam giới, bình đẳng trước công cuộc hướng đạo và giáo hoá nhơn sanh.
"Sở dĩ từ xưa chí nay nữ lưu cam phận tùy tùng dưới quyền nam giới, ấy là lẽ âm dương đạo pháp tôn ti. Dương bao giờ cũng quang minh chánh đại, còn âm thì u hiểm tư tà, vì vậy mà mọi việc quan trọng người nữ không được dự vào, mà có dự vào kết quả muôn một chung quy cũng đem lại bất toàn.
"Thử coi trong mọi tổ chức, từ gia đình, quốc gia, xã hội chí đến tôn giáo, hễ có nữ xen vào thì hay gây mọi chướng ngại; không sớm thì chầy cũng khó tránh họa diệt thân, tán đạo. Vì vậy mà Đông Tây xưa nay các tôn giáo không cho nữ giới được cầm quyền hành pháp, cũng vì lòng dạ nữ nhi hẹp chật, tâm địa bất thường. Khi đã cầm quyền thì hay tự thắng kiêu căng, khi chạm tự ái quyết chẳng nhịn nhường bỏ qua, kết nên thù, gây nên tội. Dầu sống giữa nhau, một khí huyết, một xu hướng với nhau, cũng có thể vì tự tôn mặc cảm, tạo nên xung đột, bất bình, ganh tỵ rồi rã tan."

Hồng ân lớn lao mà Đức Chí Tôn dành cho nữ phái trong kỳ Ba tận độ được minh định thể hiện qua trách nhiệm tổ chức điều hành thiết lễ Hội Yến Bàn Đào để đón tiếp Đức Diêu Trì Kim Mẫu và chư Phật Nữ Tiên Nương mà Đức Vân Hương đã diễn tả:
Trùng trùng ân điển phủ không gian
Thánh Nữ Tiên Nương đức bủa tràn
Đưa bước Mẫu Nghi vào hạ giới,
Nương mây lướt gió giáng cơ đàn

Để rồi chúng ta được nghe tiếng nói của Đức Mẹ trong đêm trung thu Hội Yến:
"Hỡi các con yêu quý của Mẹ! Mẹ cũng thấy vui, mỗi độ thu sang thì các con lại tựu về chầu lễ Mẹ trong những ngôi chiêm ngưỡng. Con ôi! Mẹ vui nhìn thấy các con đoàn tụ tình thiêng liêng đạo đức trùm phủ bao linh hồn còn đang yếu đuối nơi bể khổ sông mê. Cứ mỗi độ thu về thì các con cứ quây quần dưới chân Mẹ để rồi các con đặt hết niềm tin tưởng vào bàn tay vô hình của bà Mẹ thiêng liêng đang an ủi vỗ về các con trong khi lụy khổ, cứu vớt các con trong lúc trầm luân, dẫn dắt các con trở lại quê xưa vị cũ là nơi bất diệt, bất sanh, thiên đàng cực lạc.
"Con ôi! từ vạn cổ ngàn đời, Mẹ vẫn ngự trị trong tâm hồn vạn vật, nhưng cõi dục giới này là một nơi phi thường ảo biến, nếu các con không tỉnh định linh tánh thì sao khỏi bị sức quyến rũ của vật chất để rồi con quên mất nguồn nguyên thủy, mãi lăn lộn trong kiếp trầm luân. Mẹ nhắc các con cần ghi nhớ, suy nghĩ cho kỹ những lời của Mẹ."

Rồi từ mùa thu năm ấy, những lời thánh ngôn thánh giáo của một Đấng Cao Cả đã đến với con người bằng những lời vỗ về đằm thắm, những lời nhủ khuyên dịu dàng hết mực của một bà Mẹ với tấm lòng trải rộng cho con cùng chất ngất bao nỗi nhớ mong đàn con lạc loài xa mẹ:

"Hỡi các con! Cõi thiên đường là nơi bất sanh bất diệt, không phiền lụy nghiệp oan, không trả vay vay trả. Nhưng các con đã trót rời cảnh thiên đường để thác sanh vào nơi thế tạm, mang một sứ mạng tạo lập nên cõi dinh hoàn, đâu phải Thượng Đế đưa các con vào nơi đọa lạc, mà chính đó là đức háo sanh tạo thành trung giới vạn vật để vũ trụ thêm một phần của sự mầu nhiệm vô biên. Nào hay đâu, khi con vào cõi hồng trần, chẳng vững vàng giữ bổn nguyên chơn tánh, để bụi trần che lấp điểm linh quang, rời xa linh tánh tức là Đạo.
"Con ôi! Trong khi ấy nguyên thỉ hóa sanh là Mẹ, Mẹ phải đem huyền năng thâm diệu, hầu cầu khẩn với Chí Tôn để đến thế gian vạch rõ đường đi nước buớc, nhắc nhở tiền kiếp hậu lai, và cũng để cho các con thức tỉnh mà nhìn đến nguyên nhân của mình, hầu quày gót trở về nơi khối đại linh quang và sẽ chuyển luân trong đức háo sanh chí trọng."

Đọc những lời thánh giáo này đâu ai tưởng tượng rằng đó là lời của một Đấng Quyền Năng đang chi phối cả cuộc sống lẫn sự chết của con người:

Ước chi con thoát trần hồng
Trở về Diêu Điện non bồng vui say
Thôi căn kiếp đọa đày âu phải
Thôi nghiệp duyên trang trải cho rồi
Kiếp này cố gắng con ôi!
Vượt qua cho khỏi luân hồi thế gian.

Ta có thể thấy được hình ảnh của một bà Mẹ đang hết lòng lo lắng trấn an vì sợ con mình không chịu nỗi những áp lực của cuộc đời phiền não qua đoạn thánh giáo sau (Đức Diêu Trì Kim Mẫu, 20-01 Đinh Mùi, 1967, Thiên Lý Đàn):

"… các con có thể tưởng tượng một bà mẹ hiền đang đứng trước con để che chở vỗ về các con trong khi áp lực của thường tình hoặc nhỏ hay lớn, hoặc ít hay nhiều, để mát mẻ dịu dàng và xóa hết những điều ấy hay trừ hẳn đi, tự khắc con sẽ được hưởng một tình thương không bờ bến, và các con không còn thấy thế gian là miếng đất phiền não nữa, mà con phải nhận nhiệm vụ nhơn sanh trong nhơn sanh, một Tiểu Linh Quang trong Đại Linh Quang. Chừng đó các con sẽ thấy các đấng chơn sư hằng đến với các con, và các con không còn xa Thượng Đế Chí Tôn hay tình thương Vô Cực nữa."

Nếu như người mẹ chốn phàm trần chỉ có thể quan tâm chăm sóc cho con cái mình khi còn tại thế, một mai nếu con đã lìa đời thì mẹ chỉ một lần khóc thương đau khổ chớ không phải cực khổ vì con nữa. Trái lại người Mẹ linh hồn còn phải lo toan độ dẫn con mình về nẻo siêu sanh cực lạc,hoặc lại phải theo con đến mọi nẻo đường khổ đau của vòng luân hồi nghiệp quả. Mẹ dạy (15-8 Đinh Mùi):
"Hỡi các con! Học đạo, hành đạo, các con hãy ý thức điều này: Mẹ là sự sống và trong sự chết. Ở đâu có sống có chết là có Mẹ. Mẹ không khởi điểm và không tận cùng.
"… Con ôi! Vô Cực Từ Tôn không ngự trên đài cao hoang vắng tình thương, mặc dầu nó đầy đủ vẻ vàng son rực rỡ. Ở đâu có ấu nhi đau khổ là có Mẹ, ở đâu có liễu bồ bất hạnh là có Mẹ. (…) Mẹ không nắm quyền sanh phạt các con. Ngược lại, Mẹ nắm phần cứu rỗi. Cho nên, thương là Mẹ, yêu là Mẹ, tha thứ, sinh dưỡng, bảo tồn, tất cả đều là Mẹ. Các con có nghĩ đến lòng Từ Mẫu chăng?"

Lòng Từ Mẫu vô cùng vô tận
Đức Từ Tôn khó nhận khôn lường
Không lĩnh vực, không biên cương
Bao trùm vạn loại tình thương vạn loài. (Đức Vô Cực Từ Tôn, Ngọc Minh Đài, 15-10 Bính Ngọ)

Như đã nói, Đức Diêu Trì Kim Mẫu nắm cơ sanh hóa, trưởng dưỡng và bảo tồn muôn loài vạn vật, bên cạnh Ngài là chín vị Tiên Nữ ở Diêu Trì Cung nơi từng trời Tạo Hóa Thiên, hầu cận và giúp việc cho Đức Phật Mẫu. Đức Bát Nương giáng cơ giảng giải về Diêu Trì Cung như sau:

"Nơi ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang, đài ấy thâu lằn sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên chơn thần cho vạn linh trong càn khôn vũ trụ.
"Phật Mẫu là Đấng nắm cơ sanh hóa, thay quyền Chí Tôn, đứng ra thâu cả thập thiên can đem hiệp với thập nhị địa chi mà tạo nên vạn vật. Nơi Cung Diêu Trì là nơi tạo nên chơn thần và thể xác đó vậy.
"Diêu Trì Cung là cung điện bằng ngọc Diêu ở bên ao Thất Bửu chớ chẳng chi lạ. Ngọc tượng trưng cho sự quý giá, còn Diêu là chất hơi kết tụ mà thành. Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ giáo hoá cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật, trông nom về cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Đấng đứng đầu.
"Quan Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam Hải ở An Nhàn Động. Còn Diêu Trì Cung thì ở tại Tạo Hóa Huyền Thiên. Nơi cung Diêu Trì còn có một cõi Âm quang riêng biệt gọi là Phong Đô đặng giáo hóa các chơn thần đã bị lạc nẻo trên đường trần. Vậy vắn tắt hơn, Diêu Trì Cung là cơ sanh hóa vạn linh và vạn vật."
Chín vị Nữ Phật phụ trách chín tầng trời với trách vụ theo dõi và tiếp đón các chơn hồn trở về từ cõi thế sau khi rời bỏ nhục thân. Như vậy, Cửu Vị Nữ Phật là những Đấng sẽ tiếp nhận dẫn dắt chơn hồn của con người khi rời bỏ nhục thân, để lên các tầng trời theo như các bài Kinh Cúng Cửu và Kinh Di Lặc mà người tín đồ đọc cầu nguyện dẫn dắt linh hồn người chết.
Chân dung nữ phái trong sứ mạng kỳ Ba còn được khắc họa bởi hình ảnh của người thầy dạy hay người chị tận tụy dìu dẫn đàn em, với các Đấng có danh xưng Thánh Mẫu đã từng được biết qua kinh sách như Đức Lê Sơn Thánh Mẫu hoặc là những vị nữ thần hiện hữu trong giòng tín ngưỡng dân gian Việt Nam như Đức Vân Hương Thánh Mẫu còn gọi là Liễu Hạnh Thánh Mẫu, Đại Nam Thánh Mẫu là Mẹ Âu Cơ của dân tộc Việt. Ngoài ra còn có rất nhiều những anh hùng liệt nữ mà tuổi tên đã đi vào hậu thế như Đức Trưng Nữ Vương, Giác Minh Thánh Đức Đoàn Thị Điểm… Đó là chưa kể vô số các vị nữ tiền bối đã đắc quả vị mà gần gũi nhất là Đức Quán Pháp Chơn Tiên, Nguyệt Quang Tiên Nương…


Chỉ có qua Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nữ giới Việt Nam mới được nghe lời dạy dỗ của Mẹ Âu Cơ với danh xưng Đại Nam Thánh Mẫu, người Mẹ giống giòng Hồng Lạc, dòng dõi Tiên theo truyền thuyết đã sản sinh các vua Hùng từ hơn 4000 năm trước.
Bốn ngàn năm lẻ thọ ân Thiên
Quyết dạy các con thỏa chí nguyền
Gái liệt chuyên cần trau bốn cội
Nữ tài sửa lập nét ba giềng . . .
… Con hiền trổ đức ra tài phụng
Gái hiếu lập đời rạng vẻ lân
Non Thánh có ngày chơn bước tới
Rạng danh Nam Việt nữ oai thần.

Nếu như trong lịch sử văn học Việt Nam vẫn còn lưu danh một nữ sĩ tài hoa Đoàn Thị Điểm ở vào thế kỷ 17 với những áng thơ Nôm làm rạng danh phụ nữ Việt thì đến thế kỷ 20, với sự ra đời của tôn giáo Cao Đài, người ta đã gặp lại một Đoàn Thị Điểm trong vai trò một người chị thiêng liêng cùng tham dự đại cuộc sứ mạng kỳ Ba của Đức Thượng Đế với hồng danh Giác Minh Thánh Đức:
"Giác Minh Thánh Đức Đoàn Thị Điểm, chị thân chào các em. Có lẽ các em đã biết chị lâu lắm rồi, nhưng hôm nay mới gặp lần đầu tiên. Này các em ơi! Chị rất sung sướng lắm các em. Sung sướng vì nền Đại Đạo hoằng khai kỳ Ba tế độ. Đức Thượng Đế điểm nhuận trên lãnh thổ Việt Nam là nơi xứ sở của chị trong lúc sanh tiền. Rồi đây toàn thề quốc dân sẽ nương nhờ chánh pháp mà lập thành quốc đạo và xây dựng quốc hồn. Hơn nữa, giờ đây chị đắc lịnh Diêu Cung về đây để dạy đạo cho các em. Trước tiên, chị có lời chào mừng các em đầy đủ tinh thần tiến hóa trong khóa hạnh đường và duy trì nền Đạo mãi mãi để mỗi em còn ngày trở về cựu vị và chung nhau xây dựng cho tiền đồ Đại Đạo hiện thời sớm bước đến ngày vinh hoa xán lạn."

Trong Kinh Thế Đạo của Cao Đài, chính Ngài đã giáng cơ tả các bài kinh cúng tổ phụ, cha mẹ, anh em, chồng vợ quy liễu với lời lẽ hết sức tha thiết cảm động; và các bài kinh dạy về tam tùng tứ đức trong kinh Tiểu Thừa Chơn giáo. Đặc biệt là quyển Nữ Trung Tùng Phận gồm 1324 câu song thất lục bát và hai bài thất ngôn bát cú bằng chữ quốc ngữ với nội dung nói đến nỗi niềm thân phận của người phụ nữ với trăm nỗi buồn đau phiền lụy trong kiếp làm vợ rủi may luôn hứng chịu thiệt thòi, gánh nặng trách nhiệm đối với tổ tiên, tông đường, cha mẹ, nhất là dạy tường tận cho nữ phái việc giáo hóa con cái theo đường đạo lý, như dạy con trai đối đãi với vợ:
Con chớ ỷ mình là nam tử
Chiếm chủ gia hẹp xử thê nhi
Đừng xem ra phận tiện tì
Quyền trong nội trợ cũng bì đồng nhau
(Nữ Trung Tùng Phận)
Dạy con gái vừa săn sóc dung mạo vừa giữ gìn tánh hạnh:
Phàm phận gái đứng hàng khuê các
Phải trau tria tướng hạc hình mai
Chín tầng cửa đóng then gài
Ra ngoài nghiêm nghị trong bày đoan trang
(Nữ Trung Tùng Phận)

Đến với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, con người trần thế của thế kỷ 21 còn nghe được tiếng nói của Đức Lê Sơn Thánh Mẫu, một vị tôn sư của rất nhiều anh thư nữ kiệt trong những tích xưa của Trung Quốc như Phàn Lê Huê, Chung Vô Diệm, Lưu Kim Đính…
Tu lo giữ dạ trì trai
Tu gìn tứ đức mới tài nữ nhi
Tu Phật học tánh từ bi
Tu Tiên bác ái hộ trì chơn linh
Tu theo đạo Thánh công bình
Tu đừng lơ lảng chơn tình mới hay

Cũng trong Tam Kỳ Phổ Độ, trên đường tu học theo Đức Cao Đài, nữ phái cũng nghe được âm thinh của Đức Hà Tiên Cô, một vị Tiên nữ trong Bát Tiên mà chúng ta đã biết qua kinh sách xưa với lời khuyến nhủ nữ phái:
Chặt đứt mảnh tơ hồng, mới mong vào đất Phật. / Xóa tan gò má phấn, chở vận đến làng Tiên.

Không thể không nói đến Bà Chúa Liễu Hạnh trong giòng tín ngưỡng dân gian nay hiện diện trong sứ mạng Tam Kỳ với hồng danh Thánh Mẫu Vân Hương vừa phát huy truyền thống văn hóa dân tộc vừa tiếp nối tinh thần nhân bản có tự ngàn xưa trên đất nước của giòng giống Lạc Hồng là sự tôn trọng nữ giới. Ngài đã đến với nữ phái Đại Đạo trong vai trò người chị với tình cảm hết sức ngọt ngào đằm thắm:
Ôi nắng hạ bén duyên người khách tục
Ôi mưa thu ướt sũng áo hành nhân
Chị vâng lịnh Từ Mẫu
Lên tận đỉnh non thần
Cắt vạn thảo thiên nhiên về dệt áo
Áo vạn thảo dệt bằng tâm linh bằng lý đạo
Bằng tinh thần hoài bão giống Rồng Tiên

Nổi bật nhất trong cơ cứu độ kỳ Ba, trong vị trí quyền pháp Nhị Trấn Oai Nghiêm, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cũng là sự thể hiện rõ nét một chân dung nữ phái. Ngài đã từng lập mười hai đại nguyện đi khắp cõi ta bà độ dẫn chúng sanh thoát vòng nghiệp quả. Ngài dạy nữ phái:

"Muốn làm chủ lấy mình, phải nương vào gốc Đạo. Đạo là lẽ phải, mục đích của tâm, mà tâm bị cảnh lung lạc, dầu có khéo giữ, cũng có lúc bị lửa dục nướng mềm, nên phải chọn hướng mà đi, chọn thầy mà học, chọn bạn mà chơi, nương ở pháp quyền để tránh mọi cám dỗ bất ngờ. Ấy là gần mực thì đen, gần đèn thì sáng."

Ngoài ra, như đã nói, còn rất nhiều các Tiên Nương Thánh Nữ đã có mặt trong đoàn sứ mạng kỳ Ba, trong đó không ít các vị tiền bối đã từng mang hình hài nữ giới đã về lại được quê xưa vị cũ, mà gần gũi nhất với chúng ta là Đức Quán Pháp Chơn Tiên, đạo tỷ Bạch Tuyết của chúng ta ngày nào:

Thoát được rồi về nơi u nhã
Chốn thiên đình cảnh lạ đẹp xinh
Phải đâu như chốn thế tình
Nay buồn, mai thảm, tháng kinh, năm sầu


Chân dung các Đấng Nữ Thiêng Liêng được khắc họa trong dấu ấn Tam Kỳ Phổ Độ đã nói lên tinh thần:
- Vô phân biệt giới tính trong cõi vô vi:
Nữ nam âu cũng một chơn linh
Cùng tách ra đi chốn thượng đình
Đến cõi hồng trần tu lập vị
Công đầy quả mãn lại hồi sinh

- Nữ phái vẫn có khả năng tiến hóa siêu xuất thế gian để trở thành bất tử, thành những con người muôn thuở, muôn phương, tồn tại vĩnh hằng cùng vũ trụ. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát dạy (thánh tịnh An Tiên, 02-02 Đinh Mùi, 1967):

"Thử hỏi trong luật hóa sanh, hai cực âm dương, nếu thiếu một thì không thành. Tự ngàn xưa, những bậc thánh triết hiền nhân đã tự lập, đủ sáng suốt can trường kiên nhẫn để tạo những trang lịch sử bác ái, từ bi và oanh liệt muôn đời. Chư hiền muội ngày nay được diễm phúc gặp Tam Kỳ Phổ Độ, những hồi chung Bạch Ngọc, trống Lôi Âm đã đánh thức linh căn, hãy mau mau trổi bước để làm tròn cương vị của một tín đồ Đại Đạo và một sứ mạng thế Thiên hành hóa. Người phụ nữ nếu làm được những điều do Đạo hoạch định, do Thiêng Liêng chỉ bảo, cũng sẽ đắc quả vị như ai. Nếu không tu, dầu nữ dầu nam cũng đọa lạc trong bánh xe luân vô tận."
"Đã mang tấm thân của người phụ nữ, là đã mang một sứ mạng trọng đại trong cơ sanh hóa trưởng dưỡng bảo tồn. Nếu hiểu được lý đó sẽ làm tròn sứ mạng cao cả trưởng dưỡng và bảo tồn. Trái lại, nếu vì ảnh hưởng của mặc cảm, lại phó mặc cho thời gian đưa đẩy xuân hạ thu đông, rồi sẽ trở nên nhi nữ thường tình, lẩn quẫn trong bánh xe luân không ngày trở lại."