Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp Khí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp Khí. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

Ý Trinh Pháp Khí trong Phật Giáo Tây Tạng

 


Ý nghĩa pháp khí Mật tông Tây Tạng 

  • Pháp khí là những dụng cụ dùng để thực hành các loại pháp sự, để dân cúng lên chư Phật hoặc các đạo tràng nghiêm trang, hoặc làm dụng cụ trợ ích trong tu chứng Phật pháp. Pháp khí của Phật giáo Tây Tạng đại khái có thể chia làm sáu loại lớn là kính lễ, tán tụng, cúng dường, trì nghiệm, hộ thân và khuyến giáo. 
  • Pháp khí hay còn gọi là Phật khí, là dụng cụ trong tu chứng Phật pháp, giúp người tu hành thực hiện các nghi thức Phật giáo và sinh hoạt Phật pháp. Những dụng cụ được sử dụng trong các Phật sự như tu pháp, cúng dường, pháp hội, hay những vật dụng mà giáo đồ Phật giáo thường mang theo người như tràng hạt, tích trượng, đều được gọi là pháp khí .
  • Phật giáo Tây Tạng sở hữu một lượng pháp khí phong phú, được làm từ nhiều vật liệu khác nhau, chủ yếu đúc bằng vàng, bạc, đồng, tạo hình sâu sắc, mỗi loại pháp khí mang một hàm nghĩa tôn giáo khác nhau, mang đậm màu sắc thần bí. Về cơ bản pháp khí có thể chia làm sáu loại lớn là kính lễ, tán tụng, cúng dường, trì nghiệm, hộ thân, khuyến giáo. Như cà sa, vòng cổ, kha-ta là pháp khí kính lễ; chuông, trống, sáo xương, vỏ ốc, đàn lục huyền, kèn thuộc loại pháp khí tán tụng; tháp, đàn thành, bát bảo, thất bảo, đàn cúng, lọng hoa thuộc loại pháp khí cúng dường; Tràng hạt, mõ, chùy kim cương, bình quán đỉnh, bát sọ người thuộc loại pháp khí trì nghiệm; Phật hộ pháp, bùa bí mật là pháp khí hộ thân; đèn mani, bánh xe mani, đá có khắc hoặc viết chân ngôn sáu chữ thuộc loại pháp khí khuyến giáo.

CHUÔNG CHÀY KIM CANG

  • Chày và chuông cũng là những pháp khí không thể thiếu trong các pháp đàn, các nghi quỹ tu trì của Mật Tông. Chày và chuông thường được làm bằng bạc hoặc đồng. Vì do những rung động của những phân tử kim loại này có ảnh hưởng tốt tới khí mạch trong cơ thể con người.

Chuông: tượng trưng cho phương tiện.
Chày: tượng trưng cho trí tuệ.

DAO PHURBA (KILAYA)


  • Kila hay Kilaya là một con dao găm có dạng tam giác, là đại diện cho thực tế tận cùng của ba cánh cửa giải thoát - tính trống rỗng, sự độc nhất, vô sở cầu - là sự đồng nhất của Tam Thân Phật, các năng lực này được huy động hết tất cả vào tại một điểm để chiến thắng tất cả mọi tội lỗi và chuyển hoá nó thành tốt lành.

  • Vajrakilaya, hay kila, có nghĩa là một thứ gì đó sắc nhọn, một thứ dùng để đâm, chọc xuyên qua các thứ khác, đại loại như là một con dao găm. Một con dao găm mà nó quá bén đến mức có thể đâm xuyên mọi thứ, trong khi không thể có cái gì đâm xuyên qua được. Sự sắc bén và năng lượng xuyên thủng mọi thứ này là những gì được sử dụng trong thực hành và là phương pháp quan trọng nhất trong những phương tiện vô lượng không thể tính đếm của Kim Cang Thừa.

  • Dao phurba và hành giả thực hành pháp này ở đâu thì nơi đó sẽ được an bình, tránh được các não hại, ma chướng. Sự thực hành các pháp bí mật lại sớm được thành tựu do oai lực bất khả tư nghì của pháp khí + đàn pháp này.


  • Tương truyền ngài Liên Hoa Sanh (Guru Rinpoche) cũng đã từng thực hành đàn pháp kilaya với pháp khí này để thành tựu
  • Vajrakilaya là một trong những bổn tôn phổ biến nhất được biến đến khi dùng để tiêu diệt những chướng ngại. Guru Rinpoche đã đạt được giác ngộ thông qua sự thực hành Yangdag Heruka, tuy nhiên trước đó ngài đã phải thực hành Vajrakilaya để dẹp, cũng như làm sạch những chướng ngại, và sau đó, thông qua đó, ngài thực hiện những phần còn lại và đạt được những gì ngài mong muốn. Do vậy, Vajrakilaya được biết đến thông qua sự dọn sạch những chướng ngại.

  • Vajrakilaya được biết đến như là những hiện thân của tất cả mọi hoạt động của chư Phật. Khi nói đến Vajrakilaya, thì chúng ta còn được biết đến ngài như là một hoá thân phẫn nộ của Vajrasattva (Kim Cang Tát Đoả)

TRỐNG DAMARU

  • Trống Damaru là loại trống hai mặt từ Ấn Độ và Tây Tạng. Trống thường được làm từ gỗ, với mặt trống làm bằng da. Đôi khi trống có thể được làm từ xương sọ. Có nhiều loại trống có cái nhỏ khoảng chừng gần 10 cm cho đến cái lớn có thể tới 30cm. Sử dụng trống damaru bằng một tay. Lắc trống bằng cử động của cổ tay. Trống Damaru được dùng trong các nghi thức của Phật Giáo Tây Tạng, đặc biệt là với sự thực hành Chod.


  • Trống Damaru rất nổi tiếng trong Ấn Độ. Nó liên quan tới thần Shiva ở dạng Nataraja đang trình diễn điệu vũ của tanvada. Âm thanh của damaru đại diện cho âm thanh và nhịp điệu nguyên thủy.

CỜ TÂY TẠNG

  • Những là cờ nguyện cầu bay phấp phới trong gió có thể được tìm thấy cùng với những cọc đá mani bảo trên mái nhà, dọc đường núi, băng qua sông và những nơi linh thiêng khác. Cờ cầu nguyện thường được làm bằng vải hình vuông bằng các màu màu trắng, xanh dương, vàng, xanh lá và đỏ. Cờ được trang hoàng bởi những hình ảnh, thần chú và các lời cầu nguyện. Thông thường tại tâm của lá cờ cầu nguyện này, đó là hình ảnh của con ngựa gió là đại diện cho Tam Bảo của Phật Giáo. Ở bốn góc của lá cờ là những linh thú như là Garuda (Kim Xí Điểu), Rồng, Cọp và Sư Tử Tuyết đó là bốn linh thú đại diện cho bốn quyền năng: Trí tuệ, quyền năng, sự tự tin và vô úy

  • Thỉnh thoảng ta có thể thấy các biểu tượng cát tường của Phật Giáo ở các góc cạnh của lá cờ. Các khoảng trống ở giữa được in vào các hình ảnh, lời cầu nguyện và thần chú . Có 2 loại cờ cầu nguyện, loại ngang được gọi là Lungta và loại dọc được gọi là Darchor.


  • Cờ ngang thì hình vuông và được nối với nhau tại cạnh đỉnh trên cùng bằng sợi dây dài. Cái ít phổ biến hơn là cờ dọc thì thường là những lá cờ vuông riêng biệt hoặc nhóm những lá cờ vuông được thêu trên cọc được trồng ở mặt đất hay trên mái nhà.

  • Người Tây Tạng tin rằng các lời nguyện cầu và thần chú sẽ được thổi tới các cung trời như là những phẩm vật cúng dường tới các hộ thần của họ và đem lại thật nhiều lợi lạc cho những ai treo cờ, cho hàng xóm của họ, và cho tất cả chúng sinh, thậm chí là các loài chim bay trên trời.

  • Tuy nhiên, nếu cờ được treo sai ngày, chúng sẽ chỉ đem lại những kết quả tiêu cực. Và càng được treo lâu bao nhiêu, thì chướng ngại được sinh ra sẽ lớn hơn. Cờ cũ được thay bởi cờ mới thường niên vào Tết của Tây Tạng.

VẬT KHÍ DÙNG CÚNG DƯỜNG MANDALA

  • Trong tu học Mật Tông, thì tích lũy hai bồ tư lương phước trí là việc cực kì trọng yếu. Chính sự tích tập cùng lúc 2 thứ này trong pháp tu là sự khác biệt chính yếu làm cho Mật Tông trở thành pháp tu mà mọi người hay gọi nôm na là “tu tắt” – do sức nhanh chóng trong việc tích tập đầy đủ hai tư lương này.

  • Nói về phương pháp tích tập phước đức, thì trong Mật Tông có rất nhiều pháp. Nhưng trong các pháp, pháp đơn giản và đem lại lợi lạc nhiều nhất có thể nói đến pháp cúng dường Mandala. Pháp cúng dường Mandala được đề cập nhiều trong pháp tu ngondro dự bị trong tất cả mọi dòng truyền thừa của Mật Tông Tây Tạng.


  • Pháp cúng dường Mandala khi thực hiện thì dùng đồ cúng dường mandala. Vừa cất lời tụng, tay vừa rãi các hạt gạo, cát, hoặc đá quý….lên từng vòng, theo thứ lớp để tạo thành mandala. Ở đây sự cúng dường này không chỉ mang ý nghĩa là chỉ cúng dường gạo, cát hoặc đá quý…mà là sự dâng hiến lên cho Bổn Sư, cho dòng truyền thừa, cho Tam Bảo tất cả những thứ tốt đẹp nhất mà mình sở hữu.

  • Ngoài phước báu lợi lạc do sự cúng dường này, thực cúng dường mandala còn là một phương pháp tuyệt vời để cắt bỏ tâm chấp trước, chấp ngã….

KÈN ỐC LOA

  • Kèn ốc loa thường được làm bằng vỏ ốc. Âm thanh được tạo ra của kèn ốc loa khi thổi vào tượng trưng cho âm Om là âm thanh khởi đầu của vũ trụ ( theo quan niệm của Phật Giáo và Hindu giáo). Trong kinh, kèn ốc loa còn được xem như Pháp loa là biểu tượng cho chánh pháp được lưu truyền khắp nơi do sức vang rền, chấn dộng không gian của nó.


  • Theo Mật Tông Phật Giáo thì Kèn ốc loa là một trong 8 thứ quý báu để cúng dường cho Bổn Tôn (hay còn được gọi là Bát Cúng Dường - bao gồm có nước, rượu, hoa, ánh sáng - nến, trầm, nước hoa, trái cây và Kèn ốc loa). Kèn ốc loa cũng là thứ bảo vật mà ta thường thấy ở trong Bát Báu Kiết Tường mà Chakravatin ( Chuyển Luân Thánh Vương) thường hay sử dụng.

LUÂN MẠN ĐÀ LA KALACHAKRA

  • Biểu tượng Kalachakra (Kim Cang Thời Luân) là sự kết hợp của 10 chủng tự mật tông kết hợp với nhau. Là biểu tượng cho 10 quyền lực của Phật (thập lực). Là tinh hoa của tất cả tinh hoa.


  • Tương truyền rằng biểu tượng này còn là đại diện cho bàn thờ thập phương chư Phật. Nếu không có bàn thờ, nếu không có hình ảnh, tôn tượng của chư vị. Thì chỉ cần thờ hình ảnh của biểu tượng này, cũng xem như là đã có bàn thờ hướng tới thập phương chư Phật. Công năng, diệu dụng của Kalachakra thật không thể nghĩ bàn và diễn tả hết được. Nơi nào có biểu tượng kalachakra, nơi đó sẽ không bị nạn về đất, nước, gió, lửa và được cát tường.

TRỐNG CHOD

  • Một trong pháp môn hành trì của Mật tông nổi tiếng là Chöd để dứt trừ chấp ngã, theo đó hành giả đi vào trong nghĩa địa lúc 12 giờ đêm và xướng tụng bài kệ. Chöd trong khi bàn tay phải thì quay một cái trống lớn.


KÈN KANGLING

  • Chiếc còi làm bằng xương xương đùi làm thoát ra âm thanh như muốn xé nát không gian .


RÌU KIM CƯƠNG

  • Với hình dáng tương tự như một loại rìu dùng trong chiến đấu thời cổ đại, ngụ ý Phật pháp là không thể xâm phạm. Thể hiện sự bảo vệ đối với Phật pháp. Như tạo hình các vị Không Hành Mẫu(Dakini) đầu hổ, Không hành mẫu đầu sư tử, Đại Uy Đức Kim Cương (Vajrabhairava) trong Phật giáo Tây Tạng đều mang rìu kim cương.


  • Ngoài rìu, rìu cong cũng là một loại pháp khí của Mật Tông, với vẽ ngoài tượng trưng cho chùy kim cương, nhưng phần đuôi có hình chóp nhọn. Ở chính giữa gắn vào một cán dài, pháp khí này thường thấy trong các bức họa Thang-kar, thế nhưng số liệu rùi cong trên thực tế rất ít ỏi. Rìu cong tượng trưng cho đức nhiếp triệu của Như Lai, đưa tất thảy chúng sinh vào trí tuệ Phật.

TRỐNG GABBRA

  • Trong tiếng Phạn, gabbra có nghĩa là đầu lâu. Loại trống này được làm bằng hai nắp sọ người ghép lại với nhau,bịt bằng da khỉ, tang trống thắt lại, bên dưới có gắn cán nhỏ và dây lụa, bên tang trống buộc thêm hai cục xương nhỏ. Khi lắc trống. Hai cục xương nhỏ đập vào mặt trống phát ra âm thanh. Loại trống này thường được sử dụng trong khi tu pháp, nhằm ca ngợi công đức của chư Phật Bồ Tát, thường được sử dụng phối hợp với chuông kim cương, chùy kim cương.

MÀN KINH

  • Đây là một pháp khí hết sức phổ biến tại vùng Tây Tạng, thường được đặt trên nóc nhà, chân núi, bờ sông, ven đường, chùa chiền tu viện. Bên trên có chép kinh Phật, mỗi khi gió thổi vào màn kinh cũng như tụng được một lượt kinh, truyền đạt tâm nguyện của con người đến với chư Phật Bồ Tát để cầu xin sự phù hộ.

BÁT GABBRA

  • Tức là bát sọ người, một đồ đựng có hình chiếc bát được làm từ bát được làm từ nắp hộp sọ người, phần lớn được chế tác từ nắp hộp sọ của cao tăng đại đức căn cứ vào di chúc của họ. Miệng bát và lòng bát được khảm bạc, bên dưới có trôn đế bằng kim loại, người Tây Tạng còn thêm nắp kim loại cho bát.


  • Bát sọ người cũng là một pháp khí được dùng trong nghi thức quán đỉnh, thượng sư Mật Tông đựng nước hoặc rượu trong bát, sau đó nhỏ lên đầu người thụ pháp, với ngụ ý đem lại sự gia trì.

KHATA

  • Một vật dụng bày tỏ sự tôn kính trong Phật giáo Tây Tạng. Đây là một tấm lụa mỏng hình chữ nhật, có các màu trắng, đỏ, vàng, xanh lam, dài từ ba thước đến hơn trượng.


  • Màu sắc và độ dài của khata có thể thay đổi tùy theo thân phận của người được nhận, địa vị càng tôn kính thì khata càng dài. Khata màu trắng là cao quý nhất, tượng trưng cho sự thuần khuyết, cao thượng

THANG - KAR

  • Một loại tranh Phật được bồi trục, một trong những loại hình nghệ thuật đặc thù của Phật giáo Tây Tạng. Việc bảo quản cất trữ tranh thang-kar cần tuân theo những quy tắc nhất định, phải cuốn tranh theo chiều từ dưới lên trên, nếu làm ngượi lại sẽ làm bất kính, phỉ báng thánh thần.


  • Thang-kar được dùng trong tu hành chủ yếu với tư cách là đối tượng quán đỉnh và chiêm bái.

TORMA

  • Một loại đồ ăn làm bằng bột mì, bột mạch chín, dùng để cúng tế chư Phật Bồ Tát, Bản tôn, các vị thần, hoặc bố thí cho vong hồn. Cũng có khi dùng trong quán đỉnh, tượng trưng cho sự gia trì của thần Bản tôn đối với đệ tử.



BÁNH XE MANI (KINH LUÂN)

  • Đây là một loại pháp khí được giáo đồ Phật giáo sử dụng trong tụng niệm, có hình trụ tròn, có thể quay quanh một trục ở chính giữa. Trong hình trụ này dán các tấm giấy chép kinh văn. Người cầu nguyện vừa xoay bánh xe mani vừa tụng chân ngôn sáu chữ Om mani padme hum (Án ma ni bát di hồng ), nhằm ca tụng chư Phật. Bánh xe mani cần phải xoay theo chiều đồng hồ, xoay được một vòng tượng trưng cho đọc một lượt thần chú.









Chủng loại và công dụng của pháp khí


a. Chủng loại pháp khí

  • Pháp khí là những vật dụng dùng trong tu chứng Phật pháp, về cơ bản có thể chia làm sáu loại, là kính lễ, tán tụng, cúng dường, trì nghiêm, hộ thân, khuyến giáo.

  • Kính Lễ: Khata (kha-gtags) : dâng lụa khata dể thể hiện lòng tôn kính với chư Phật.

  • Cúng dường: đèn nến : dùng của cải và vật chất và tấm lòng thanh tịnh dể cúng dường chư Phật.

  • Tán Tụng: Sáo xương : dùng âm thanh dể mời gọi chư tôn, thức tỉnh chúng sinh.

  • Hộ Thân: Hạt ô: mang theo Phật. Bồ Tát bên mình để hộ thân.

  • Khuyến Giáo: Đá mani: dùng chân ngôn của chư Phật để khuyến giáo chúng sinh cầu phúc cho chúng sinh.

  • Trì Nghiệm: Bình Quán Đỉnh: dụng cụ dùng trong tu trì, tạo phúc, trấn tà ma.

b. Công dụng của pháp khí

Trong quá trình tu luyện, người tu hành nhờ vào sự trợ giúp của pháp khí để tăng cường trí tuệ và linh cảm, nhanh chóng đạt đến chứng ngộ. Pháp khí cũng chính là cầu nối để liên kết người tu hành cới chư Phật và chúng sinh.

Lục tự đại minh chú: Um Mani Padme Hum – Án Ma Ni Bát Di Hồng

  • Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà.



Mặt trên của một Mani có 6 chữ là : Om mani padme hum
  • Có thể nào chuyển thân miệng ý ô nhiễm thành thân miệng ý thanh tịnh được không? hay đây là hai phạm trù hoàn toàn tách biệt? Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm, mang đủ mọi tánh đức. Thân miệng ý thanh tịnh đến từ sự tách lìa trạng thái ô nhiễm, chuyển hóa ô nhiễm thành thanh tịnh.

  • Chuyển hóa bằng cách nào? Phương pháp tu được nhắc đến qua bốn âm kế tiếp. MANI [ma ni], nghĩa là ngọc báu, tượng trương cho phương tiện, là tâm bồ đề, vì chúng sinh mà nguyện mở tâm từ bi, đạt giác ngộ. Cũng như viên ngọc quí có khả năng xóa bỏ cảnh nghèo, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng xóa bỏ sự bần cùng khó khăn trong cõi luân hồi và niết bàn cá nhân. Như ngọc như ý có khả năng chu toàn mọi ước nguyện của chúng sinh, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng chu toàn mọi ước nguyện chúng sinh.

  • Hai chữ PADME [bát mê], nghĩa là hoa sen, tượng trưng cho trí tuệ. Hoa sen từ bùn mọc lên nhưng lại không ô nhiễm vì bùn. Tương tự như vậy, trí tuệ có khả năng đặt người tu vào vị trí không mâu thuẫn ở những nơi mà người thiếu trí tuệ đều sẽ thấy đầy mâu thuẫn. Có nhiều loại trí tuệ, trí tuệ chứng vô thường, trí tuệ chứng nhân vô ngã (con người không tự có một cách độc lập cố định), trí tuệ chứng tánh không giữa các phạm trù đối kháng (nói cách khác, giữa chủ thể và khách thể) và trí tuệ chứng sự không có tự tánh. Mặc dù có nhiều loại trí tuệ, nhưng chính yếu vẫn là trí tuệ chứng tánh Không.

  • Trạng thái thanh tịnh có được là nhờ sự kết hợp thuần nhất giữa phương tiện và trí tuệ, được thể hiện qua âm cuối, HUM [hồng]. Âm này ứng vào trạng thái bất nhị, không thể phân chia. Trong hiển thừa, phương tiện và trí tuệ bất nhị có nghĩa là phương tiện ảnh hưởng trí tuệ, và trí tuệ ảnh hưởng phương tiện. Trong mật thừa, sự hợp nhất này ứng vào một niệm tâm thức trong đó phương tiện và trí tuệ đồng loạt hiện hành. Nói về chủng tự của năm vị Thiền Phật, HUM là chủng tự của Bất Động Phật [Akshobhya], sự đứng yên không gì có thể lay chuyển nổi.

  • Vậy Lục Tự Đại Minh Chú, Om mani padme hum, có nghĩa là dựa vào đường tu kết hợp thuần nhất phương tiện và trí tuệ mà người tu có thể chuyển hóa thân miệng ý ô nhiễm của mình thành thân miệng ý thanh tịnh của Phật. Thường nói người tu không thể tìm Phật ở bên ngoài, tất cả mọi nhân tố dẫn đến giác ngộ đều sẵn có từ bên trong. Đức Di Lạc Từ Tôn có dạy trong bộ Tối Thượng Đại Thừa Mật Luận (Uttaratantra) rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh trong tâm. Chúng ta ai cũng mang sẵn trong mình hạt giống thanh tịnh, cốt tủy của Như Lai (Tathatagarbha – Như lai tạng), đó là điều cần nuôi nấng phát triển đến mức tột cùng để bước vào địa vị Phật đà.

( Nguồn Dalai Lama - Hồng Như (dịch)

Ý Trinh Pháp Khí Bát Bảo Cát Tường


Ý NGHĨA CỦA BÁT BẢO KIẾT TƯỜNG
  • Phật Giáo là sự kế thừa phát huy đến tột cùng của Tôn Giáo cổ Ấn Độ, tức Đạo Bà La Môn, nên có nhiều tri thức được tiếp nối trong Giáo Pháp. Bát Cát Tường Bảo chính là như vậy. Trong Phật Giáo Tây Tạng, Bát Cát Tường Bảo được gọi là "Trát Tây Đạt Kiệt" ... Cũng được gọi là Bát Cát Tường Huy với ý nghĩa luân chuyển thuận chiều kim đồng hồ trên các Mạn Đà La. 

  • Khi các biểu tượng cát tường này xuất hiện tại bất kỳ nơi nào thì nơi đó trở thành sự gia trì hoàn hảo. Tám tướng cát tường khi được vẽ kết hợp lại với nhau thành một tổng thể được gọi là trí tuệ Bản Lai, chính là hóa thân Phật dưới hình thức biểu tượng cát tường để ban gia trì lợi ích chúng sinh. 

  • Ngày nay, không có nhiều người biết về nguồn gốc và ý nghĩa của các biểu tượng Phật giáo. Các hình ảnh, họa tiết Phật giáo nói chung và đặc biệt là Phật giáo Kim Cương thừa không bao giờ được người nghệ sĩ trình bày một cách ngẫu nhiên tùy hứng mà đều là thông điệp cát tường mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc. Từ khuôn mặt Phật Bản tôn hướng về bên phải hay bên trái, các thế ấn của Ngài, sự lựa chọn đồ vật trang trí, pháp khí, các loài linh thú cho đến màu sắc của một cánh sen đều nhằm tạo ra từ trường gia trì cát tường và thể hiện ý nghĩa Phật pháp riêng biệt cho hành giả và đại chúng có phúc duyên chiêm bái.

  • Trong số các biểu tượng cổ điển và phổ biến nhất của văn hóa Phật giáo phải kể đến tám tướng cát tường. Nguồn gốc của tám tướng này được tìm thấy trong những kinh điển cổ xưa của Ấn Độ và được cho là có mối liên hệ với Thân – Khẩu – Ý giác ngộ của Đức Phật. Các ý nghĩa đó có thể được mô tả toát yếu như sau:

1. Bảo Tán Cái (Lọng báu): 


Tượng trưng cho đầu của đức Phật. Lọng có ý nghĩa bảo vệ tránh sự thiêu đốt của phiền não, đọa lạc và thoát khỏi khổ đau. Khi tặng lọng báu cho ai, ngụ ý cầu nguyện người đó luôn nhận được sự gia hộ và che chở của Tam Bảo.



2. Song ngư (Cặp cá vàng): 

Tượng trưng cho đôi mắt của đức Phật. Biểu tượng này chỉ sự tỉnh thức, không xao lãng và luôn linh hoạt như cá bơi trong nước, đồng thời cũng là biểu tượng của sự tươi tốt, mãn nguyện, không còn khổ đau. Cặp cá vàng còn tượng trưng cho lòng từ bi và trí tuệ, tự do tự tai trong mọi nơi, mọi lúc.


3. Bảo Bình (Bình báu): 

Tượng trưng cho cổ của đức Phật. Bình báu được tin là chứa đầy vật phẩm quý giá linh thiêng, cho dù có lấy ra bao nhiêu thì vẫn đầy ắp trong bình. Điều này cũng giống như chúng ta thực hành hạnh bố thí và cúng dường, các vật phẩm đó sẽ không mất đi mà được chuyển vào bảo bình bất tận này. Ngoài ra, bình báu cũng tượng trưng cho sự trường thọ và giàu sang phú quý. Khi tặng bình báu cho người nào ngụ ý cầu nguyện cho người đó được những lợi ích này.



4. Liên Hoa (Hoa sen): 

Tượng trưng cho lưỡi (kim khẩu) của đức Phật. Hoa sen tượng trưng cho bản tính thanh tịnh, chân thật của chúng sinh, nêu biểu cho sự tu tập của hành giả đã vượt khỏi luân hồi trở về với tự tính Phật thanh tịnh. Hoa sen là một trong những biểu tượng cát tường nhất của đạo Phật, có khả năng ban sự gia trì giải thoát đau khổ và đem đến thành tựu, may mắn.



5. Bạch Hải Loa (ốc tù và): 

Tượng trưng cho Pháp âm của đức Phật. Bạch hải loa màu trắng có những xoắn theo chiều kim đồng hồ tượng trưng cho chính pháp của đức Phật vang rộng, lan tỏa khắp muôn phương, khiến chúng sinh nghe được liền thức tỉnh khỏi vô minh đau khổ. Bạch ốc tượng trưng cho sức mạnh, quyền lực và sự tự chủ. Âm thanh của vỏ ốc biển (tù và) xua đuổi tà ma, ngăn chặn thiên tai và làm cho các loài độc hại kinh sợ. Trong khóa lễ theo nghi thức Phật giáo Kim Cương thừa, tù và vừa được sử dụng làm nhạc cụ vừa được dùng để đựng nước cúng dường.



6. Kiết Tường Kết (Nút thắt vô tận): 

Tượng trưng cho Ý của đức Phật và nêu biểu cho sự hợp nhất từ bi và trí tuệ. Hình ảnh sợi dây bện chặt chỉ sự kết nối chặt chẽ của các hiện tượng trong vũ trụ như một vòng khép khín của nhân và quả, nó tượng trưng cho sự thống nhất và hài hòa cân đối, sự bất khả phân của từ bi và trí tuệ. Về mặt nhân quả thì quả thiện trong tương lai bắt nguồn từ nhân lành trong hiện tại. Vì nút cát tường tượng trưng cho sự kết nối, nên khi chọn nút thắt vô tận làm quà tặng thì ngụ ý rằng nút thắt này sẽ kết nối duyên lành giữa người tặng và người được tặng.



7. Thắng Lợi Chàng Phan (Tràng phan chiến thắng): 

Tượng trưng cho Thân của đức Phật. Tràng phan chiến thắng tượng trưng cho sự chiến thắng của đức Phật trước Ma vương và cũng là sự chiến thắng những tham ái, sân giận, nỗi sợ chết. Việc tặng tràng phan chiến thắng cho ai có ý nghĩa cầu chúc cho người đó thành đạt mọi tâm nguyện trong cuộc sống và trên con đường thành tựu tâm linh.



8. Pháp luân (Bánh xe luân chuyển): 

Tượng trưng cho bàn chân, bàn tay của đức Phật. Bánh xe có tám nan tượng trưng cho Bát chính đạo và sự diệu dụng của trí tuệ, giúp chấm dứt vô minh và đoạn tận khổ đau; trục bánh xe nêu biểu cho sự rèn luyện trong khuôn khổ giới luật, hỗ trợ cho tâm được ổn định; vành bánh xe biểu thị cho sự kiểm soát và nhất tâm trong khi hành thiền, giống như vòng bánh xe và nan bánh xe được giữ bởi trục của nó. Bánh xe Pháp luân tượng trưng cho giáo pháp – chân lý của vũ trụ luôn được trao truyền và trải rộng khắp muôn phương vì lợi ích tất cả chúng sinh.

  • Trong Phật giáo Kim Cương thừa, hình ảnh tám tướng cát tường được nhìn thấy ở nhiều nơi: trên tường và trần các ngôi tự viện, trên ngai, tòa ngồi, pháp khí, đồ thờ cúng, tranh cuộn, nhiều đồ vật tôn giáo và cả những vật dụng sinh hoạt hàng ngày. Chúng ta cần hiểu đây không chỉ là hình ảnh trang trí mỹ thuật thông thường mà là biểu tượng tâm linh vô cùng sâu sắc. Tập hợp Tám tướng cát tường tạo nên sự gia trì cát tường hoàn hảo. Tám tướng cát tường khi được vẽ kết hợp lại với nhau thành một tổng thể được gọi là trí tuệ Bản Lai, chính là hóa thân Phật dưới hình thức biểu tượng cát tường để ban gia trì lợi ích chúng sinh.























Tibetan eight treasures

The Ashtamangala 
(Sanskrit Aṣṭamaṅgala, 
Tibetan: བཀྲ་ཤིས་རྟགས་བརྒྱད་, 
THL: Trashi Takgyé;
Chinese: 吉祥八宝 Jíxiáng bā bǎo) are a sacred suite of Eight Auspicious Signs endemic to a number of Indian religions such as Hinduism, Jainism, and Buddhism. The symbols or "symbolic attributes" (Tibetan: ཕྱག་མཚན་, THL: chaktsen) are yidam and teaching tools. Not only do these attributes, these energetic signatures, point to qualities of enlightened mindstream, but they are the investiture that ornaments these enlightened "qualities" (Sanskrit: guṇa; Tibetan: ཡོན་ཏན་, THL: yönten). Many cultural enumerations and variations of the Ashtamangala are extant.


Groupings of eight auspicious symbols were originally used in India at ceremonies such as an investiture or coronation of a king. An early grouping of symbols included: throne, swastika, handprint, hooked knot, vase of jewels, water libation flask, pair of fishes, lidded bowl. In Buddhism, these eight symbols of good fortune represent the offerings made by the gods to Shakyamuni Buddha immediately after he gained enlightenment.





Right-coiled White ConchRight-coiled White Conch

  • The white conch which coils to the right symbolises the deep, far-reaching and melodious sound of the Dharma teachings, which being appropriate to different natures, predispositions and aspirations of disciples, awakens them from the deep slumber of ignorance and urges them to accomplish their own and others' welfare.





Precious UmbrellaPrecious Umbrella

  • The precious umbrella symbolises the wholesome activity of preserving beings from illness, harmful forces, obstacles and so forth in this life and all kinds of temporary and enduring sufferings of the three lower realms, and the realms of men and gods in future lives. It also represents the enjoyment of a feast of benefit under its cool shade.



Victory BannerVictory Banner

  • The victory banner symbolises the victory of the activities of one's own and others body, speech and mind over obstacles and negativitities. It also stands for the complete victory of the Buddhist Doctrine over all harmful and pernicious forces.



Golden FishGolden Fish

  • The golden fish symbolises the auspiciousness of all living beings in a state of fearlessness, without danger of drowning in the ocean of sufferings, and migrating from place to place freely and spontaneously, just as fish swim freely without fear through water.



Dharma WheelDharma Wheel


  • The golden wheel symbolises the auspiciousness of the turning of the precious wheel of Buddha's doctrine, both in its teachings and realizations, in all realms and at all times, enabling beings to experience the joy of wholesome deeds and liberation



Auspicious Drawing Auspicious Drawing

  • The auspicious drawing symbolises the mutual dependence of religious doctrine and secular affairs. Similarly, it represents the union of wisdom and method, the inseparability of emptiness and dependent arising at the time of path, and finally, at the time of enlightenment, the complete union of wisdom and great compassion.



Lotus FlowerLotus Flower

  • The lotus flower symbolises the complete purification of the defilements of the body, speech and mind, and the full blossoming of wholesome deeds in blissful liberation.



Vase of TreasureVase of Treasure

  • The treasure vase symbolises an endless rain of long life, wealth and prosperity and all the benefits of this world and liberation.

(Nguồn theo daibaothapmandalataythien.org )

Ý Trinh Pháp Khí Thất Bảo Luân Vương


THẤT BẢO


Thất bảo là bảy món quí báu

Trong A Di Đà Kinh, Đức Phật phán với Ngài Xá Lợi Phật rằng: Nơi cõi Cực Lạc, phía trên những ao thất bảo, thì có lầu các, đều bằng thất bảo hiệp thành, thất bảo đó là:

1. Kim





2. Ngân



3. Lưu ly



4. Pha lê




5. Xà cừ



6. Xích châu




7. Mã não




Thất bảo này rất đẹp đẽ, nó nghiêm trang nơi quốc độ Cực Lạc



Trong pháp bảo Đàn Kinh Tổ Huệ Năng có giảng rằng: Thất bảo ở cõi Cực lạc là bảy món của cải Thánh (thất Thánh tài) của nhà tu niệm:

1. Kim ( giới )

2. Ngân ( tín )

3. Lưu ly ( văn )

4. Pha lê ( tàm )

5. Xà cừ ( tấn )

6. Xích châu ( huệ )

7. Mã não ( xã )

Cho nên nhà tu niệm nên đắc bảy món Thánh tài ấy, còn hơn có được bảy món báo thế gian.

Thất bảo của vị Chuyển Luân Thánh Vương bao gồm:

1. Luân bảo: Xe báu dùng đi hàng phục thiên hạ

2. Tượng bảo: Voi báu

3. Mã bảo: Ngựa báu

4. Ma ni châu: Châu báu

5. Nữ bảo: Ngọc nữ ( bà vợ đẹp đẽ và hiền thục hơn hết )

6. Chủ tạng thần: Vị quan giữ kho tàng

7. Chủ binh thần: Vị quan giữ binh quyền

Vị Chuyển Luân Thánh Vướng mỗi khi ra đi thâu phục quốc độ nào đều có đem theo thất bảo ấy là binh tướng tùy tùng. Thất bảo của vị Chuyển Luân Thánh Vương có mô tả giảng rõ trong Kinh Đại Bát Niết Bàn ( quyển 12 )



Seven hallows vajrayana



  • Item name: Buddhism Wheel Wang Qizhen;

  • Material: copper alloy;

  • Color: golden, bronze colour;
  • Size: 60mmX85mm;
  • Pacakge include: 7 pcs per set;
  • Application: Buddhism decor, Collection, film props;

Buddhist Classic Bronze Color Tantric 7 pcs Auspicious Symbols Delicate Gilt King of Wheel Seven Treasures for Temple Decor

  • The History story:
Runner Wang Qibao for:
  • 1, round treasure: a symbol of the spread of the teachings of the Buddha.
  • 2, jewelry: table can cut off the root of poverty, growth reported income.
  • 3, Princess Po: table can break the root of ignorance, to know the performance of Empty, Tragic dual-shipped.
  • 4, Robinson: table can be inside and outside the dense three-bit fruit, eternal protection of Dharma meaning.
  • 5, like Po: table yield evil view, get the supreme fruit of the achievements.
  • 6, Ma Po: Table can be released from reincarnation, can increase the power of change, to reach the Holy Land of Buddha fruit.
  • 7, General Po: table to overcome the troubles of the enemy, destroy the evil group of evil, to reach the situation without slow.
As the seven treasures to support the Guru and the ten parties III all Buddhas and Bodhisattvas, merit is very large.



The Vajrayana Buddhism(Lamaism) Seven Auspicious

Seven auspicious, Tibetan, said, "扎西达杰" Tibetan painting are the most common and the profound meaning of a given combination of painting products. Most of the form of murals, there is also a small amount of carving and shaping three-dimensional shape, the eight auspicious signs are closely related with the Buddha or Buddhism.

Building for Success at the time of ancient India, a flag. Buddhist moral problems with buildings to escape the root of sin, a Zhengguo consciousness. Tibetan metaphor used their annoyance of 11 kinds of governance, namely ring, set, Hui, free, Great Mercy, empty with no wish to facilitate, without me, understanding the origin, from prejudice, by the blessing of the Buddha from the heart since clean conditions.

Aquarius monasteries of Tibetan Buddhism bottle of water purification equipment (mannose) and precious stones, there is inserted the bottle tree孔雀翎or wishful. That is, a symbol of good luck, purity and wealth, but also a symbol of Po are seamless, full福智Park, immortal.

Po umbrella of ancient India, the aristocracy, when members of the royal family travel to the umbrella cover yang, after the evolution of equipment for the guards of honor, for the supreme moral authority. Buddhist symbol of shelter umbrella魔障to protect Buddhism. Tibetan Buddhism also think, Po umbrella symbolizes the authority of the teachings of the Buddha.

Knot knot more auspicious auspicious meaning of the original symbol of love and devotion. According to the interpretation of Buddhism, is also a symbol of good luck if node follow the Buddha, there is the ability to survive the ocean from the recovered treasures of wisdom and consciousness of pearls.

Kingland ancient India, the round is a powerful weapon of mass destruction. Buddhism after the borrowing, as a symbol of Buddhism as the wheels kept rotating, does not stand still.

Gold fish in the water line, smooth obstacle. Buddhist metaphor that goes beyond its world, a free open-minded practitioners relief. Tibetan Buddhism, often a symbol of male and female goldfish release a pair of position, but also a symbol of recovery, eternal life, regeneration, such as Italy.

Aquarius monasteries of Tibetan Buddhism bottle of water purification equipment (mannose) and precious stones, there is inserted the bottle tree孔雀翎or wishful. That is, a symbol of good luck, purity and wealth, but also a symbol of Po are seamless, full福智Park, immortal.

Buddhist white conch on the sonic booms when the Buddha said the Quartet, such as Voice of conch. Therefore, this method will be a time when the regular blowing conch-ming. In Tibet, in order to right the most respected white conch, the reputation of being regarded as a symbol of the world far 3000, but also a symbol that is always echoed the voice of Bodhidharma.



Dưới đây là bảy món châu báu quý hiếm trên thế gian này mà ai ai cũng thích, ai ai cũng muốn có được, vì chúng quá hiếm và đắc tiền. Chúng ta đều làm lụng vất vả để tích trữ những món châu báu này từ đời này cho đến đời khác để dành cho con cháu.

Tuy nhiên có mấy ai biết được rằng những món châu báu này ở những nơi Phật ở lại có nhiều vô kể mà không ai thèm lụm tại nơi đó, bạn không thể tin được là có chuyện này phải không? Tuy nhiên điều này là có thật vì có rất nhiều dẫn chứng để lại trong các đoạn kinh.

Chúng ta không ngờ được rằng, chẳng cần dành dụm tí nào, mà chỉ cần yêu thương mọi người không mục đích, giúp đỡ mọi người không vụ lợi là khi mất ta tự nhiên sẽ về cõi Phật, nơi có bảy loại châu báu này có vô số mà bạn hằng mơ ước.

Kinh Vô Lượng thọ chép rằng:”Có loại cây vàng lá, hoa trái bằng bạc, hoặc có cây bạc, lá hoa trái bằng vàng, hoặc cây lưu ly có hoa trái bằng pha lê, hoặc có cây thủy tinh, lá hoa trái bằng lưu ly, có cây san hô, lá hoa trái bằng mã não, có cây mã não có hoa trái bằng lưu ly, có cây xà cừ lá hoa trái bằng các thứ báu”

Kinh A Di Đà chép :”Cõi ao cực lạc có nước bảy báu nước tám công đức đầy khắp trong đó, dưới đáy ao toàn là cát vàng, bốn bên bờ có vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành, trên có lầu gác cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Hiện Bảo Tháp chép :”Bấy giờ trước Phật có tháp bảy báu, vô số tràng phan trang sức, các tràng phan ấy dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, mã não, chơn châu, mai khôi bảy thứ báu như thế hợp thành, cao đến cõi trời tứ thiên vương”

Thế nên, đừng dại khờ tích trữ ở đời này chi cho mệt những loại châu báu này để rồi chết cũng không đem theo được, nhưng hãy làm điều thiện, điều lành để tạo nên những công đức lớn, làm với mục đích không vụ lợi sẽ tạo nên công đức vô lượng (không giới hạn), và khi mất đi bạn sẽ về những cõi có đầy châu báu này, lúc đó bạn có lấy xe tải chở cũng không ai thèm nói đến bạn, nhưng có lẽ đến lúc đó bạn sẽ không quan tâm đến chúng nữa, vì tâm của bạn đã tìm được điều khác thiêng liêng hơn, cao quý hơn rất nhiều là những châu báu tầm thường này.




Hãy luôn niệm Danh hiệu Phật

  • 🌹Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
  • 🌹Nam Mô A Di Đà Phật
  • 🌹Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
  • 🌹Nam Mô Di Lạc Tôn Vương Phật
  • 🌹Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Phật










(Theo PHDS của Thích Nữ Đức Trí)