Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Phật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 9, 2023

KINH VUA RỒNG






PHẬT THUYẾT ĐỨC PHẬT VÌ

VUA RỒNG TA KIỆT LA

GIẢNG NÓI ĐẠI THỪA

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Thi Hộ, Đời Tống


Tôi nghe như vậy!

Một thuở Đức Phật ở tại Đạo Tràng trang nghiêm của Cung Điện Vua Rồng Ta Già La trong biển lớn cùng với đại chúng Tỳ Kheo gồm bảy ngàn năm trăm người và các vị Đại Bồ Tát được đại trí tuệ.

Lại có hàng trăm ngàn câu đê na do tha Phạm Vương, Đế Thích, Trời Hộ Thế v.v... và Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già v.v... từ mười phương thế giới đều đến hội họp.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn thấy tất cả đại chúng đã tập họp rồi, bảo Vua Rồng Ta Già La rằng: Này Vua Rồng! Ông hãy quan sát đủ thứ hành nghiệp của thế gian này đều từ hư vọng khởi lên, đủ thứ tâm pháp phải cảm thụ đủ thứ quả báo. Nếu chẳng biết những điều đó thì sẽ sinh ra đủ thứ thú hướng.

Này Vua Rồng! Ông hãy quan sát mọi loài trong biển lớn này! Ông sẽ thấy chúng được tạo ra đủ thứ sắc tướng sĩ phu.

Này Chúa Rồng! Tất cả sắc tướng đó đều do tất cả nghiệp của thân, miệng, ý thiện hay ác. Tâm của mỗi mỗi sắc tướng đó biến hóa đủ thứ. Nhưng tâm pháp này tuy là sắc tướng mà giống như huyễn hóa không thể thủ lấy được.

Này Chúa Rồng! Sắc tướng tất cả các pháp này vốn không sở sinh cũng không chủ tể, lại không có ngã, cũng không ngăn ngại. Như vậy, nghiệp đã tạo tác đủ thứ mà tự tính các pháp đều là tướng huyễn hóa chẳng thể nghĩ bàn.

Này Chúa Rồng! Nếu có Bồ Tát biết tất cả pháp không sinh không diệt không sắc không tướng, biết đúng như thật rồi tạo tác, tu hành tất cả nghiệp thiện mà không tu hành tạo tác sắc tướng sở hữu và uẩn, xứ, giới, tất cả sinh pháp đều không có cái để thấy. Bồ Tát đó nếu quả thật được cái thấy đó rồi thì phải lại quan sát sắc tướng thù diệu.

Này Chúa Rồng! Sắc tướng thù diệu quan sát ra sao?

Phải quan sát thân tướng của Như Lai. Thân của Như Lai là thân sinh ra từ hàng trăm ngàn câu đê na do tha phước đức.

Lại nữa, thân tướng như vậy phải nghiêm trì những gì?

Cung tín ra sao?

Thì sẽ được thân tướng như vậy?

Lại được không bệnh không chết của trên Trời và nhân gian?

Lại được mười trăm ngàn thân Trời Tha Hóa Tự Tại?

Cho đến thân Trời Đại Phạm?

Những cái được này đều do tâm chẳng tán loạn, chuyên chú quán tưởng, chiêm ngưỡng thân tướng tối diệu của Như Lai, biết một cách chân thật tất cả sắc tướng thù diệu trang nghiêm của thân này đều từ sự tập hợp của nghiệp thiện mà được.

Vua Chúa Rồng! Như Cung Điện ông đang ở, tất cả sự trang nghiêm cũng là sự sinh ra của phước đức đến cả của Phạm Vương, Đế Thích và Hộ Thế v.v... cho đến tất cả sự trang nghiêm sở hữu của Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Ma Hầu La Già, Người, chẳng phải người v.v... cũng đều là sự sinh ra của phước đức.

Này Chúa Rồng! Lại nữa, đủ chủng loại chúng sinh sở hữu trong biển lớn này, hoặc có loài to rộng, hoặc có loài nhỏ nhoi, phần nhiễu xấu xí... tất cả thân của chúng đều do sự biến hóa của đủ thứ tâm mà ra.

Này Chúa Rồng! Vậy nên nói rằng, tùy theo sở đắc của nghiệp thân, miệng, ý.

Này Chúa Rồng! Quả báo như vậy là do nghiệp làm nhân, nghiệp làm chúa tể. Ông phải khiến cho các chúng sinh khởi lên tâm trí tuệ, việc tạo tác, việc tu hành phải theo học nghiệp thiện, đối với các tà kiến chẳng tạo tác chẳng an trụ, biết tà kiến đó chẳng phải là cứu cánh.

Biết như vậy rồi thì tất cả chúng sinh sẽ cầu ông làm thầy, đều đến cúng dường, đồng thời được trên Trời, nhân gian theo về, tin tưởng cúng dường.

Này Chúa Rồng! Có một pháp có thể khiến cho chúng sinh đoạn dứt nghiệp của tất cả đường ác.

Sao gọi là một pháp?

Đó gọi là quan sát thiện pháp! Mà thiện pháp đó quan sát thế nào?

Phải quan sát tự thân! Ở trong ngày đêm, ta đi đứng ngồi nằm mà tâm ý khởi lên thì không gì chẳng liên quan đến những hành động đó. Xét hiểu như vậy thì làm cho những pháp bất thiện chẳng được phát sinh trong bốn oai nghi.

Như vậy là đoạn trừ hết những pháp bất thiện và sẽ khiến cho thiện pháp được đầy đủ, lại còn khiến cho tất cả chúng sinh đồng thiện đều sẽ được Thanh Văn, Bích Chi Phật và Bồ Tát v.v... cho đến quả vị Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Này Chúa Rồng! Sao gọi là thiện pháp?

Ta hôm nay giảng nói pháp đó! Pháp đó gọi là mười nghiệp thiện!

Đó là tất cả sự an trụ căn bản. Đó là sự an trụ căn bản để sinh lên Trời và nhân gian, sự an trụ căn bản của pháp thiện thù thắng thế gian và xuất thế gian, sự an trụ căn bản của Thanh Văn, Bích Chi Phật và Bồ Tát, sự an trụ căn bản của Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Những gì là sự an trụ căn bản đó?

Đó là mười nghiệp đạo thiện! Nếu có thể xa lìa sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ nói dối, ỷ ngữ lời thêu dệt, ác khẩu lời ác, lưỡng thiệt lời hai lưỡi cho đến tham, sân, tà kiến v.v... nếu có thể xa lìa như vậy thì gọi là mười nghiệp đạo thiện, mới chính là sự an trụ căn bản của thế gian và xuất thế gian.

Này Chúa Rồng! Bậc Sĩ Phu Bổ đặc già la xa lìa sát sinh thu được mười thứ thiện pháp.

Những gì là mười pháp?

Đó là:

Được vô úy thí thì tất cả chúng sinh khác được trụ ở từ tâm.

Được chính hạnh thì được chẳng khởi lên ý niệm về tội lỗi của tất cả chúng sinh.

Được niềm vui ít bệnh hoạn.

Được thọ mạng lâu dài.

Được đủ chủng loại không phải người ủng hộ. Ở trong giấc ngủ hay lúc thức dậy đều được yên ổn.

Lại được Bậc Hiền Thánh thủ hộ, lòng chẳng chán bỏ. Ở trong giấc mơ chẳng thấy sự khổ não của nghiệp ác. Tự được chẳng sợ tất cả đường ác. Sau khi mạng chung được sinh lên Trời.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la thu được mười thứ pháp lành như vậy mà làm đạo Bồ Tát thì được trụ thiện tâm, căn lành thành thục thì sẽ được Vô Thượng, Chánh Đẳng bồ đề.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa trộm cắp thì thu được mười pháp y chỉ.

Những gì là mười?

Đó là:

Được giàu to tự tại.

Được khỏi nạn của Vua, được khỏi nạn nước lửa, đạo tặc, oan gia.

Được nhiều bà con khéo thuận, hòa mục, được nhiều người ưa thích, không làm khổ não nhau. Phàm lời nói ra được tất cả tin chắc chắn.

Được vô lượng của báu đều tụ tập lại.

Được tất cả sự xưng tán của phương này và phương khác, ở tất cả chỗ đi qua không sợ sệt.

Được người khác xưng danh tốt, khen ngợi trí tuệ.

Lại được sắc lực thọ mạng, lời nói biện tài tương ứng. Đối với người thân, người chẳng phải thân, lòng không phân biệt, chẳng phát sinh ý não hại. Sau khi mạng chung được sinh lên Cõi Trời.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa trộm cắp thu hoạch được mười pháp y chỉ như vậy mà đem căn lành đó đến với các Phật pháp, tự có thể chứng biết thì sẽ được Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa tà dâm được bốn pháp thiện trí tuệ.

Những gì là bốn?

Đó là: Hàng phục các căn. Lìa khỏi tán loạn. Được tất cả thế gian xưng tán. Lại được người đi theo nhiều không lường.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la lìa khỏi tà dâm thu được bốn pháp thiện trí tuệ như vậy. Nhờ căn lành này sẽ được Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác, lại còn chứng được tướng âm tàng ẩn mật của bâc đại trượng phu.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa vọng ngữ thu được tám thứ pháp thiện của trên Trời và nhân gian.

Những gì là tám?

Đó là:

Được miệng luôn thanh tịnh như mùi thơm hoa sen xanh. Lại được tất cả chánh kiến của thế gian.

Được tất cả sự yêu thích của trên Trời và nhân gian.

Được thân, miệng, ý thanh tịnh giáo hóa tất cả hữu tình khiến cho chúng trụ ở hạnh ba nghiệp thanh tịnh.

Được thanh tịnh rồi đều vui mừng.

Được lời nói chân thật nhất định thành tín.

Được biện tài hơn người, luận biện ra lời nói đều có phương tiện. Ở trên Trời và nhân gian lìa khỏi các tội lỗi.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa vọng ngữ thu được tám thứ pháp thiện của trên Trời và nhân gian, thiện căn đó thu được nghiệp miệng thanh tịnh thành thật chính hạnh thì sẽ được Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa ỷ ngữ sẽ được ba thứ pháp một hướng.

Những gì là ba thứ?

Đó là: Được biết pháp thì một hướng yêu thích. Được một hướng chân thật. Lại phát sinh trí tuệ được một hướng làm thầy Trời, người. Tất cả trên Trời và nhân gian đều tin ưa.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa ỷ ngữ được ba thứ pháp nhất hướng như vậy. Đem thiện căn này hồi hướng bồ đề thì được tất cả các Đức Như Lai thọ ký, sẽ chứng Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa ác khẩu thu được tám thứ thanh tịnh của lỗi miệng mà được tám thứ thiện pháp.

Những gì là tám?

Đó là:

Lời nói thật.

Lời nói yêu mến.

Lời nói nương theo nghĩa.

Lời nói nhu nhuyến.

Lời nói lìa khỏi thủ giữ.

Lời nói nhiều người yêu thích.

Lời nói thiện.

Lời nói có nghĩa lợi.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa ác khẩu thu được tám thứ nghiệp miệng thanh tịnh như vậy. Đem thiện căn này hồi hướng bồ đề thì đương lai sẽ chứng được Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác, lại còn được Phạm Âm thanh tịnh tối thượng.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa lưỡng thiệt sẽ được năm thứ kiên cố.

Những gì là năm?

Đó là:

Được thân kiên cố thì sẽ được xa lìa tất cả nạn sợ hãi.

Được quyến thuộc kiên cố thì chẳng bị sự tham lam của người khác.

Được niềm tin kiên cố thì thu được quả báo của tín nghiệp.

Được pháp kiên cố thì thu được quả chứng bền chắc.

Được bạn lành kiên cố thì thường được lời nói yêu mến nhiếp thọ.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa lưỡng thiệt thu được năm thứ kiên cố như vậy. Đem thiện căn đó hồi hướng bồ đề thì sẽ chứng Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác, khiến cho tất cả ngoại đạo Ma Vương v.v... đều chẳng thể phá hoại vị sĩ phu đó được.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa tham độc thu được tám thứ pháp thiện.

Những gì là tám?

Đó là:

Được tiêu trừ lòng tham.

Được chẳng phát sinh lòng sát sinh.

Được chẳng phát sinh lòng ganh ghét.

Được ưa sinh lòng của dòng họ Thánh, được Thánh Nhân tôn trọng.

Được lòng từ, do nghiệp lành làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.

Được thân đoan chính.

Được nhiều người tôn trọng.

Được sinh vào Phạm Thế.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa tham độc thu được tám thứ thiện pháp như vậy. Đem thiện pháp này hồi hướng tâm bồ đề chẳng thoái chuyển thì sẽ chứng Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa sân độc sẽ được năm thứ thắng nguyện viên mãn.

Những gì là năm?

Tu thân miệng, ý chẳng thoái chuyển, các căn chẳng loạn, sẽ được viên mãn tất cả thì sự giàu có rộng lớn.

Được oan gia theo hàng phục thì được viên mãn tất cả phước đức rộng lớn.

Được thọ sự cúng dường tối thượng của người Trời thì được viên mãn công đức rộng lớn.

Đối với sự thọ dụng tối thượng thì sở dục trong lòng đều được viên mãn.

Như vì giàu sang mà phát trăm ngàn thắng nguyện tối thượng thì được viên mãn đúng như nguyện.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa sân độc thu được năm thứ viên mãn như vậy. Đem thiện căn này hồi hướng bồ đề thì chứng được Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác được sự tôn kính của ba cõi.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa tà kiến thu được mười thứ pháp công đức.

Những gì là mười?

Đó là:

Được lòng mình an lành và bạn lành đồng hành tin sâu nhân quả.

Được chẳng vì thân mạng tạo tác tội nghiệp.

Chẳng bao lâu thu được địa vị Hiền Thánh.

Được chẳng mê lầm thiện pháp, tu hạnh Trời người.

Chẳng rơi vào bàng sinh và Cõi Diệm Ma.

Tu hành Đạo Thánh được phước tối thượng.

Được lìa khỏi tất cả tà pháp.

Được lìa khỏi thân kiến.

Được thấy tính của tất cả tội đều rỗng không.

Được chánh hạnh của nhân gian và trên Trời chẳng khiếm khuyết.

Này Chúa Rồng! Bậc sĩ phu Bổ đặc già la xa lìa tà kiến thu được mười thứ công đức như vậy. Đem thiện căn này hồi hướng bồ đề thì mau chóng có thể chứng rõ tất cả Phật Pháp, sẽ được Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác.

Này Chúa Rồng! Lại nữa, quan sát đến hành động vi tế của mười pháp bất thiện thì phần nhiều bị đọa vào đường địa ngục, ngã quỷ, súc sinh.

Này Chúa Rồng! Quan sát chúng sinh đó, nếu họ lại sát sinh thì sẽ bị đọa vào cõi địa ngục, súc sinh, Diệm Ma v.v... Sau khi được sinh lên nhân gian, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là mạng sống ngắn ngủi, hai là khổ não.

Nếu họ lại trộm cắp thì sẽ bị đọa vào cõi địa ngục, súc sinh, Diệm Ma v.v... Sau khi được sinh lên nhân gian, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là tự ở chỗ bần tiện nghèo hèn, hai là chẳng được của báu người khác.

Nếu họ lại tà nhiễm thì sẽ bị đọa vào cõi địa ngục, súc sinh và Diệm Ma v.v... Sau khi sinh lên nhân gian, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là ngu si, hai là vợ chẳng trinh chính.

Nếu họ lại vọng ngữ thì sẽ đọa vào địa ngục, súc sinh, và cõi Diệm Ma v.v... Sau khi sinh lên nhân gian, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là lời nói chẳng thành thật, hai là người chẳng tín phụng.

Nếu họ lại ỷ ngữ thì sẽ bị đọa vào địa ngục, súc sinh và cõi Diệm Ma v.v... Sau khi sinh lên nhân gian, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là chẳng chân chính hai là lời nói không định.

Nếu họ lại ác khẩu thì sẽ đọa vào địa ngục, súc sinh và cõi Diệm Ma. Sau khi sinh lên nhân gian, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là lời nói nhiều đấu tranh, hai là người đời chẳng tôn trọng.

Nếu họ lại lưỡng thiệt thì sẽ đọa vào địa ngục, súc sinh và cõi Diệm Ma. Sau khi sinh lên làm người, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là được loại bà con hèn hạ, hai là cảm nhận cảnh bà con chia lìa.

Nếu họ lại nhiều tham thì sẽ rơi vào địa ngục, súc sinh và cõi Diệm Ma. Sau khi sinh lên làm người, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là chẳng thể làm lợi ích cho người khác, hai là thường bị người khác xâm hại.

Nếu họ lại nhiều sân thì sẽ rơi vào địa ngục, súc sinh và cõi Diệm Ma. Sau khi sinh lên cõi người, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là lòng thường chẳng vui, hai là nhiều việc chẳng vừa ý.

Nếu họ lại tà kiến thì sẽ rơi vào địa ngục, súc sinh và cõi Diệm Ma. Sau khi sinh lên cõi người, do dư nghiệp nên bị hai thứ quả báo, một là tà kiến, hai là giải đãi.

Này Chúa Rồng! Nếu có người làm mười pháp bất thiện như vậy thì nhất định thu hoạch những quả báo như vậy. Họ lại còn bị vô biên những khổ uẩn lớn.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa sát sinh, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì thường được giàu to và vô lượng phước, được lìa khỏi nỗi sợ hãi của tất cả sự xâm đoạt kẻ khác.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa trộm cắp, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được giàu to và vô lượng phước, mà đối với tất cả lòng không tiếc lận thì sẽ chứng được thâm trí và lời nói pháp nghĩa vô thượng của các Đức Phật.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa tà nhiễm, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý, thu được vô lượng phước, cảm hóa quyến thuộc tốt, cha mẹ, vợ con đều không ác kiến.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa vọng ngữ, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý, thu được phước không lường, sẽ cảm hóa lời nói sở hữu, tất cả đều khéo léo nhu nhuyến, hễ khởi lên ý nguyện chân thành thì bền vững chẳng lùi.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa ỷ ngữ, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý, thu hoạch phước không lường, lời nói chân thật, người nghe tín thọ. Phàm có lời nói ra thì đoạn dứt mọi nghi ngờ.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa ác khẩu, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý thu hoạch phước không lường, lời nói có thể thủ lấy, người nghe không chối bỏ, ở trong các chúng không có lỗi với họ.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa lưỡng thiệt, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý, thu hoạch phước không lường. Đối với các quyến thuộc, lòng trụ ở bình đẳng, yêu thương họ như mình, không có ly tán.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa tham độc, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý, thu hoạch phước không lường, được thân đoan chính, các căn đầy đủ, người nhìn thấy đều yêu thích, lòng không chán bỏ.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa sân độc, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý, thu hoạch phước không lường, được sự không khởi lên lòng cừu hận, oán thù, nghe pháp yếu của Phật có thể sinh lòng tín.

Này Chúa Rồng! Nếu Bồ Tát lại xa lìa tà kiến, tu đạo Bồ Tát thi hành bố thí thì được đại phú quý, thu hoạch phước không lường, đối với Tam Bảo, đủ chánh kiến, thường gần với Phật, được nghe Diệu pháp, cúng dường chúng tăng. Thường không giải đãi, thoái lui, giáo hóa chúng sinh khiến cho họ phát tâm bồ đề.

Này Chúa Rồng! Nếu có thể tu mười nghiệp thiện này, làm đạo Bồ Tát, đầu tiên lấy bố thí trang nghiêm thì quả báo viên mãn, được đại phú quý.

Nếu dùng trì giới mà trang nghiêm thì quả báo viên mãn, được tất cả Phật pháp, thỏa nguyện đầy đủ.

Nếu dùng nhẫn nhục trang nghiêm thì quả báo viên mãn, được ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Phật bồ đề, lại còn được Phạm âm đầy đủ.

Nếu dùng tinh tấn trang nghiêm thì quả báo viên mãn, sẽ có thể hàng phục thiên ma, ngoại đạo, dùng pháp của Chư Phật mà cứu độ họ.

Nếu dùng thiền định trang nghiêm thì quả báo viên mãn, sẽ được chánh niệm thanh tịnh, pháp hạnh đầy đủ.

Nếu dùng trí tuệ trang nghiêm thì quả báo viên mãn, sẽ được vĩnh viễn đoạn trừ tất cả tà kiến.

Nếu dùng đại từ trang nghiêm thì quả báo viên mãn có thể khiến cho tất cả chúng sinh hàng phục được tất cả phiền não vi tế.

Nếu dùng đại bi trang nghiêm thì quả báo viên mãn, sẽ được lòng của tất cả chúng sinh, họ chẳng chán bỏ.

Nếu dùng đại hỷ trang nghiêm thì quả báo viên mãn, sẽ được nhất tâm không tán loạn.

Nếu dùng đại xả trang nghiêm thì quả báo viên mãn sẽ được sự diệt trừ hết phiền não vi tế.

Này Chúa Rồng! Cho đến dùng Bốn nhiếp pháp trang nghiêm khi quả báo viên mãn sẽ được tất cả chúng sinh thuận theo sự dẫn đường giáo hóa.

Nếu dùng bốn niệm xứ trang nghiêm thì đối với thân thọ tâm pháp đều có thể giải rõ hết.

Nếu dùng bốn chánh đoạn trang nghiêm thì có thể khiến cho tất cả pháp bất thiện đều đoạn diệt hết, được viên mãn tất cả thiện pháp.

Nếu dùng bốn thần túc trang nghiêm thì có thể được thân tâm đều thu hoạch ích lợi nhẹ nhàng.

Nếu dùng năm căn trang nghiêm thì sẽ được tín, tấn chẳng thoái, lòng không mê hoặc, rõ các nghiệp nhân, diệt vĩnh viễn phiền não.

Nếu dùng năm lực trang nghiêm thì sẽ được chẳng ngu, chẳng si và vĩnh viễn đoạn được tội lỗi bần cùng.

Nếu dùng bảy giác chi trang nghiêm thì sẽ được giác ngộ tất cả pháp như thật.

Nếu dùng tám chánh đạo trang nghiêm thì sẽ có thể chứng được chánh trí.

Nếu dùng Xa Ma Tha trang nghiêm thì sẽ được đoạn dứt tất cả phiền não.

Nếu dùng Vĩ Bát Xá nẵng trang nghiêm thì sẽ được liễu ngộ trí tuệ của tất cả pháp.

Nếu dùng chánh đạo trang nghiêm thì sẽ đối với tất cả phương tiện hữu vi và vô vi đều có thể rõ biết.

Này Chúa Rồng! Ta nay lược nói về mười pháp thiện có trang nghiêm, đến cả với mười lực, bốn trí và mười tám pháp bất cộng.... cho đến tất cả pháp phần của Như Lai đều được viên mãn.

Này Chúa Rồng! Cho đến giải nói rộng lớn việc trang nghiêm mười nghiệp đạo thiện này là sẽ khiến cho các ông tu học.

Này Chúa Rồng! Ví như Đại Địa có thể ban cho cõi người chỗ an trụ của tất cả Quốc Thành, tụ lạc cho đến rừng cây và thảo dược v.v...

Lại nữa, các nghiệp đều có chủng tử hạt giống. Hạt giống đã nhờ bốn đại mà thành, giống như gieo trồng lúa, từ lúc sơ sinh nảy mầm, thành thân cho đến khi thành thục chín đều nương vào đất.

Này Chúa Rồng! Mười nghiệp đạo thiện này có thể làm chỗ an trụ thắng diệu cho tất cả loài hữu tình trên Trời và nhân gian, có thể khiến cho tất cả hữu vi và vô vi được quả báo trí tuệ.

Tất cả Thanh Văn và Bích Chi Phật cho đến Bồ Tát Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác lấy đó mà an trụ. Nó cũng lại là chỗ an trụ căn bản của tất cả Phật Pháp.

Này Chúa Rồng! Lời nói này của Ta, tất cả các ông phải dùng chính tâm mà phát sinh tín giải.

Lúc bấy giờ, Vua Rồng Ta Già La cùng các Đại Bồ Tát, tất cả Thanh Văn và Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà v.v... ở tại đại hội, tất cả đại chúng, nghe lời nói của Đức Phật, hoan hỷ phụng hành.

***

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

LƯỢC GIẢI KINH SÁM HỒNG DANH PHẬT














Lược Giải Thích Tên Của 89 Đức Phật Trong Hồng Danh Bảo Sám



LƯỢC GIẢI THÍCH TÊN CỦA 89 ĐỨC PHẬT TRONG HỒNG DANH BẢO SÁM

Hán Văn: Trích trong Đại Sám Hối Văn Lược Giải của Sa Môn THƯ NGỌC

Việt dịch: HUYỀN THANH

1_ Nam mô Phổ Quang Phật (Samanta-prabha Buddha)

Nam Mô (Namo) là Quy mệnh xưng lễ

Phật (Buddha) là một trong mười Hiệu

Phổ Quang (Samanta-prabha) là tên riêng của Đức Phật, đều có xưng, cho nên phần sau đều dựa theo điều này.

Nói Phổ Quang: Ấy là Hóa Thân trăm ức, ánh sáng chiếu soi Đại Thiên

2_ Nam mô Phổ Minh Phật (Samanta-prabhāsa Buddha)

Phổ Minh (Samantābhāsa): ấy là tướng tốt đẹp của Báo Thân tướng tốt đẹp phóng vô biên ánh sáng, sáng tỏ như mặt trời sáng rực.

3_ Nam mô Phổ Tịnh Phật (Samanta-śuddha Buddha)

Phổ Tịnh (Samanta-śuddha): Ấy là một Chân Pháp Thân giống như hư không, xưa nay trong sạch.

4_ Nam mô Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật (Tāmala-patra-candanagandha Buddha)

Đa Ma La Bạt (Tāmala-patra) là lìa dơ (ly cấu), tên gọi của núi Ngưu Đầu

Chiên Đàn (Candana) là ban cho thuốc

Hương (Gandha) hay trừ nhóm bệnh phong nhiệt, dùng ví dụ cho hương thơm màu nhiệm thuộc mọi Đức của Như Lai, xông ướp khắp tất cả. Chúng sinh biết được sẽ lìa dơ bẩn được trong sạch, cho nên gọi là Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương (Tāmala-patra-candana-gandha).

5_ Nam mô Chiên Đàn Quang Phật (Candana-prabha Buddha)

Chiên Đàn Quang (Candana-prabha). Kinh Lăng Nghiêm nói là “Tự được Tâm khai mở như người nhiễm dính hương, nên thân có mùi thơm”. Do con mắt Tâm được mở sáng, nên gọi là Chiên Đàn Quang.

6_ Nam mô Ma Ni Tràng Phật (Maṇi-paṭāka Buddha: Ma Ni Phan)

Ma Ni Tràng (Maṇi-paṭāka). Tràng (Paṭāka: cây phan, cây phướng) là dáng mạo cao hiển của Công Đức, ấy là Như Lai lợi sinh. Nơi nơi nhìn thấy cây phướng Pháp to lớn, như viên ngọc Ma Ni tùy theo phương hiện màu sắc, tồi phục quân Ma, phá các hắc ám. Phàm người nhìn thấy, không có ai chẳng quy kính, cho nên gọi là Ma Ni Tràng.

7_ Nam mô Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật (Pramudita-garbha-maṇiratna-kuṭa Buddha)

Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích (Pramudita-garbha-maṇi-ratna-kuṭa). Pháp Hỷ (Pramudita) không cùng tận của Như Lai gọi là Tạng (Garbha). Chúng sinh biết được sẽ lìa khổ được vui, giống như viên ngọc báu Như Ý lợi ích không cùng tận, cho nên gọi là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích.

8_ Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Lạc Kiến Thượng Đại Tinh Tiến Phật (Sarva-loka-priya-darśanottara-mahā-vīrya Buddha)

Nhất Thiết Thế Gian (Pramudita-garbha-maṇi-ratna-kuṭa) mới là Từ phổ cập

Lạc Kiến (Priya-darśana) là ý mừng vui ưa thích

Thượng Đại Tinh Tiến (Uttara-mahā-vīrya) là kén chọn Hành chẳng phải là Quyền Tiểu, ấy là: Trong Nhân của Như Lai, phát Tâm tối thượng, tu Hạnh rộng lớn, tinh tiến không dời đổi, cho nên đối với Quả còn cảm được Thân mà tất cả chúng sinh đã yêu thích, hay khiến cho người thấy nghe, đều phát Bồ Đề.

Câu bên trên gọi là Giác Tha, là Công vậy. Câu bên dưới hiển Tự Giác, là Đức Công thành Đức Mãn cho nên gọi là Thượng Đại Tinh Tiến. Điều này quy ước Nhân Quả đồng tròn trịa, hiển Đức làm tên hiệu.

9_ Nam mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật (Maṇi-dhvaja-pradīpa Buddha:Mani Tràng Thắng Đăng)

Ma Ni Tràng Đăng Quang (Maṇi-dhvaja-pradīpa: Ma Ni Tràng Thắng Đăng) là dùng Thật Trí chứng Lý, ví như cây phướng ngọc Ma Ni. Quyền Trí soi điều thiết yếu (quyền trí giám cơ) ví như ánh đèn soi chiếu khắp, Quyền Thật song song rực rỡ, cho nên gọi là Ma Ni Tràng Đăng Quang

10_ Nam mô Tuệ Cự Chiếu Phật (Jñānāloka Buddha)

Tuệ Cự Chiếu (Jñānāloka) là dùng lửa của ba Tuệ Văn, Tư, Tu chiếu phá ba Hoặc Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh như đèn sáng thì dứt hết ám tối, Tuệ dấy lên thì trừ bỏ Hoặc, cho nên gọi là Tuệ Cự Chiếu

Hai Đức Như Lai này biểu hiện cho Pháp Dụ.

11_ Nam mô Hải Đức Quang Minh Phật (Sāgara-guṇa-prabha Buddha)

Hải Đức Quang Minh (Sāgara-guṇa-prabha). Quang Minh (Prabha) biểu thị cho Trí Đức (Jñāna-gu,na), là Trí Đức không cùng tận của Như Lai, dùng ví dụ như biển cả (Sāgara), cho nên nói là Hải Đức Quang Minh.

12_ Nam mô Kim Cương Lao Cường Phổ Tán Kim Quang Phật (Vajradhṛtiabhikīrṇa-suvarṇa-prabha Buddha)

Kim Cương Lao Cường Phổ Tán Kim Quang (Vajradhṛti-abhikīrṇa-suvarṇaprabha

Kim Cương (Vajra) có tính rất bền chắc sắc bén, chẳng bị vật gây hoại mà hay tồi hoại được tất cả vật, ví dụ cho Đức Phật chẳng bị phiền não phá hoại mà hay phá hoại tất cả phiền não, cho nên gọi là Kim Cương Lao Cường (Vajradhṛti).

Thể của vàng cực sáng chẳng bị vật soi chiếu mà hay chiếu soi tất cả vật, ví dụ cho Đức Phật chẳng bị Vô Minh che mờ mà hay chiếu phá Vô Minh, cho nên gọi là Phổ Tán Kim Quang (Abhikīrṇa-suvarṇa-prabha)

13_ Nam mô Đại Cường Tinh Tiến Thông Mãnh Phật (Mahā-vīryavat Buddha)

Đại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh (Mahā-vīryavat). Chẳng tạp thì nói là Tinh, chẳng lùi thì nói là Tiến, chẳng khiếp nhược thì nói là Dũng, chẳng sợ hãi thì nói là Mãnh. Ấy là Đức Thế Tôn từ vô lượng kiếp đến nay, đối với các Pháp tốt lành (Thiện Pháp) chẳng tạp, chẳng lùi, cho nên xưng là Đại. Đối với các đường ác thì chẳng sợ chẳng khiếp nhược, cho nên xưng là Cường. Do Đại Cường cho nên chẳng ngừng ngừng chẳng nghỉ, chặt đứt được ba Chướng, chứng Tam Bồ Đề (Saṃbodhi) cho nên gọi là Đại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh

14_ Nam mô Đại Bi Quang Phật (Mahā-kāruṇi-prabha Buddha)

Đại Bi Quang (Mahā-kāruṇi-prabha): Ấy là dọc thì cùng tận, ngang thì tràn khắp nên nói là Đại (Mahā), tức Đức của Pháp Thân. Vận Tâm nhổ bứt khổ nên nói là Bi (Kāruṇi), tức Đức của Giải Thoát. Lặng lẽ soi chiếu chẳng hai nên nói là Quang (Prabha) tức là Đức của Bát Nhã. Ba Đức viên dung nên gọi là Đại Bi Quang.

15_ Nam mô Từ Lực Vương Phật (Maitri-bala-rāja Buddha)

Từ Lực Vương (Maitri-bala-rāja). Lực (Bala) là thắng, Vương (Rāja) là qua lại (vãng) nghĩa là Đức Phật nhớ chúng sinh. Từ (Maitri) là không thể thắng (vô năng thắng) hay khiến cho Người, Trời đều cùng về đến, cho nên gọi là Từ Lực Vương.

16_ Nam mô Từ Tạng Phật (Maitri-garbha Buddha)

Từ Tạng (Maitri-garbha) ấy là Nhất Cực Từ Tâm (Tâm Từ là con đường dẫn đến sự chân thật cùng cực) nhiếp quy vạn điều tốt lành, Pháp Giới đều dung chứa, sinh ra không cùng tận, cho nên nói là Từ Tạng.

17_Nam mô Chiên Đàn Quật Trang Nghiêm Thắng Phật (Candanagahābhibhū Buddha)

Chiên Đàn Quật Trang Nghiêm Thắng (Candana-gahābhibhū) là nơi mà mùi thơm màu nhiệm đã thành, nghĩa là tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông của Như Lai đều tuôn ra mùi thơm màu nhiệm giống như Chiên Đàn (Candana) xông ướp khắp tất cả.

Dùng cái hang Pháp Diệu Bảo Trang Nghiêm này thời tối thắng không có gì sánh được, cho nên gọi là Chiên Đàn Quật Trang Nghiêm.

18_ Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật (Bhadra-subha-sīrṣa Buddha)

Hiền Thiện Thủ (Bhadra-subha-sīrṣa: cái đầu hiền thiện). Như Lai Đạo cao Đức trọng, cho nên xưng là Hiền (Bhadra). Đột nhiên ra khỏi chín cõi, cho nên xưng là

Thiện (Subha:an vui, hạnh phúc). Là Trời trong Trời, Thánh trong Thánh cho nên gọi là Hiền Thiện Thủ

19_ Nam mô Thiện Ý Phật (Sumati Buddha)

Thiện Ý (Sumati) là Đức Như Lai yêu thương giúp đỡ nhớ tất cả chúng sinh giống như con đỏ, từ sinh đến sinh, tiếp dẫn không có mệt mỏi, cho nên gọi là Thiện Ý.

20_ Nam mô Quảng Trang Nghiêm Vương Phật (Vaipulya-bhūṣaṇa-rāja Buddha)

Quảng Trang Nghiêm Vương (Vaipulya-bhūṣaṇa-rāja) là Sắc tướng của Đức Như Lai do vạn Đức trang nghiêm cho nên xưng là Quảng (Vaipulya). Từ vô lượng kiếp đến nay, tự tại an nhiên chẳng bị vật chuyển, cho nên xưng là Quảng Trang Nghiêm Vương.

21_ Nam mô Kim Cương Hoa Phật (Suvarṇa-kusuma-prabha Buddha: Kim Hoa Quang)

Kim Hoa Quang (Suvarṇa-kusuma-prabha) là Tâm Giới (Śīla) phát Hạnh (Caryā) ví như bông hoa vàng ròng (Suvarṇa-kusuma: Kim Hoa). Lìa Dục trong sạch ví như ánh sáng vàng ròng (Suvarṇa-prabha:Kim Quang). Vàng (Suvarṇa) biểu thị cho Pháp Thân (Dharma-kāya), Hoa (Kusuma) biểu thị cho Giải Thoát (Mokṣa), Quang

(Prabha:ánh sáng) biểu thị cho Bát Nhã (Prajña). Lý của ba Đức tròn trịa cho nên gọi là Kim Hoa Quang. Điều này hiển bày ánh sáng trong sạch, vô biên tướng tốt của Đức Như Lai đều do Trì Giới mà được thành tựu trang nghiêm. Cho nên Luật (Vinaya) nói rằng: “Chư Phật chứng Bồ Đề, Độc Giác thân tâm trong sạch cùng với A La Hán đều do Luật Hạnh (thực hành Luật) mà thành”

22_ Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật (Ratna-chatra Prākāśeśvara-bala-rāja Buddha)

Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương (Ratna-chatra Prākāśeśvara-balarāja).

Dùng niềm tin làm sự thật, bảy phần Bồ Đề làm cái lọng chiếu sáng hư không khiến cho các chúng sinh được lợi lạc lớn, tự tại vô ngại, cho nên gọi là Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương

23_ Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật (Ākāśa-ratna-puṣpa-prabha Buddha)

Hư Không Bảo Hoa Quang (Ākāśa-ratna-puṣpa-prabha). Pháp Thân không có tướng giống như hư không, cho nên xưng là Bảo (Ratna: vật báu). Hoa của Tâm phát ánh lửa chiếu Chân Pháp Giới cho nên gọi là Hư Không Bảo Hoa Quang

24_ Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật (Vaiḍurya-vyūha-rāja Buddha)

Lưu Ly Trang Nghiêm Vương (Vaiḍurya-vyūha-rāja). Tiến Phạn Lưu Ly (Vaiḍurya) là loại báu có màu xanh, là vật tối thắng trong bảy báu. Thân Phật trong sạch nên nói là Lưu Ly. Trong ngoài chiếu sáng nên nói là Trang Nghiêm (Vyūha).

Chặng bị quân Ma gây che chướng cho nên gọi là Lưu Ly Trang Nghiêm Vương

25_ Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật (Samantodaya-rūpa-kāya-prabha Buddha)

Phổ Hiện Sắc Thân Quang (Samantodaya-rūpa-kāya-prabha). Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Thân Phật tràn đầy ở Pháp Giới, hiện khắp hào quang tròn trịa trước mặt tất cả quần sinh, chiếu khắp mười phương, hiện bày mọi loại việc đã thực hành, cho nên gọi là Phổ Hiện Sắc Thân Quang

26_ Nam mô Bất Động Trí Quang Phật (Acala-jñāna-prabha Buddha)

Bất Động Trí Quang (Acala-jñāna-prabha). Trí Bất Động (Acala-jñāna) tức là Thể của Trí căn bản, nghĩa là Pháp Thân của Bản Phật như như chẳng động. Quang (Prabha) tức Trí sai biệt, là dụng, nghĩa là từ Thể dấy lên Dụng như mặt trăn in bóng trên ngàn con sông, cho nên gọi là Bất Động Trí Quang

27_ Nam mô Giáng Phục Chư Ma Vương Phật (Sarva-māra-rāja-pramardana Buddha)

Giáng Phục Chúng Ma Vương (Sarva-māra-rāja-pramardana) là Đức Như Lai dùng sức Tuệ Vô Lậu giáng phục các Ma Ba Tuần chịu nhận sự hóa độ nơi Pháp tự tại, cho nên gọi là Giáng Phục Chúng Ma Vương

28_ Nam mô Tài Quang Minh Phật (Dhana-prabhāsa Buddha)

Tài Quang Minh (Dhana-prabhāsa) là dùng Trí Tuệ vô ngại chiếu thấu các Pháp, phá các phiền não, lợi ích chúng sinh, cho nên gọi là Tài Quang Minh

29_ Nam mô Trí Tuệ Thắng Phật (Jñānāgra Buddha)

Trí Tuệ Thắng (Jñānāgra). Thắng (Agra) là sức mạnh, nghĩa là dùng sức của Nhất Thiết Trí phá Kiến Tư Hoặc. Dùng sức của Đạo Chủng Trí phá Vô Minh Hoặc. Ba Hoặc đã trừ thì Giác Thể thường chiếu, công mạnh mẽ nơi ấy, cho nên gọi là Trí Tuệ Thắng

30_ Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật (Maitreya-deva-prabha Buddha: Di Lặc Thiên Quang)

Di Lặc Tiên Quang (Maitreya-deva-prabha:Di Lặc Thiên Quang). Di Lặc (Maitreya), đây nói là Từ Thị, là họ. Tiên (Deva:Thiên) là Giác nghĩa là từ lúc phát Tâm Bồ Đề trở đi, chưa từng nhập vào Tục cho nên dùng làm họ. Tiên Quang (Devaprabha: Thiên Quang) là ánh sáng trong sạch lìa dơ bẩn. Đức Phật là Đại Từ Kim Tiên dùng ánh sáng của Trí trong sạch không có dơ bẩn chiếu khắp các cõi (chư hữu) lìa khổ được vui, cho nên gọi là Di Lặc Tiên Quang

31_ Nam mô Thế Tịnh Quang Phật (Loka-śuddha-pratibhāsa Buddha)

Thế Tịnh Quang (Loka-śuddha-pratibhāsa) là Đức Như Lai hiện ra ở đời, dùng các Đạo Pháp giáo hóa chúng sinh, thân tâm trong sạch, lìa hẳn sự đen tối cho nên gọi là Thế Tịnh Quang

32_ Nam mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương Phật (Suyogacandra-ghoṣa-jñānāgra-rāja Buddha)

Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương (Suyoga-candra-ghoṣa-jñānāgrarāja) là Trí chiếu soi như mặt trăng, hiểu biết Nhã Âm màu nhiệm.

Kinh nói rằng: “Mặt trăng trong mát của Bồ Tát thường dạo Tất Cánh Không (cái Không rốt ráo) là Thiện Tịch Nguyệt Âm (Suyoga-candra-ghoṣa:âm thanh của mặt trăng khéo vắng lặng)”

Lại nói rằng: “Tâm của chúng sinh như nước trong, ảnh Bồ Đề hiện trong đó là Diệu Tôn Trí Vương (jñānāgra-rāja) vậy”

Câu bên trên là ví dụ, câu bên dưới là Pháp. Nghĩa là dùng ánh sáng Trí Quyền Thật hiểu biết Pháp tự tại, như hình ảnh của mặt trăng, tiếng dội lại của âm thanh, tất cả song vong song chiếu (cả hai cùng quên, cả hai cùng chiếu) cho nên gọi là Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương

33_ Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật (Nāgagotrodara-rāja Buddha)

Long Chủng Thượng Tôn Vương (Nāgagotrodara-rāja). Nói Long Chủng (loài Rồng) là hàng rất ư tôn thượng của Thế Gian, nghe Phật Âm giao cảm mà phát Tâm tin, quy đầu nơi Phật mà được tự tại, cho nên gọi là Long Chủng Thượng Tôn Vương

34_ Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật (Candra-sūrya-prabha Buddha)

Nhật Nguyệt Quang (Candra-sūrya-prabha) là dùng Trí căn bản chứng Lý, dùng Trí Hậu Đắc chặt đức Hoặc, Tình quên Lý hiển, đất Tâm bừng sáng, ánh sáng đồng với mặt trời, mặt trăng cho nên gọi là Nhật Nguyệt Quang

35_ Nam mô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật (Candra-sūrya-maṇi-prabha Buddha)

Nhật Nguyệt Châu Quang (Candra-sūrya-maṇi-prabha) là Đức Như Lai dùng ánh sáng của ba Giác Trí chiếu phá Hoặc Nghiệp vô minh, chẳng hiểu biết của tất cả chúng sinh cho nên gọi là Nhật Nguyệt Châu Quang

36_ Nam mô Tuệ Tràng Thắng Vương Phật (Jñāna-dhvajābhibhū-rāja Buddha)

Tuệ Tràng Thắng Vương (Jñāna-dhvajābhibhū-rāja) là Đức Như Lai dựng phướng phan Đại Trí Tuệ giáng phục quân Ma, công lực thù thắng cho nên gọi là Tuệ Tràng Thắng Vương

37_ Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật (Siṃha-nādeśvara-bala-rāja Buddha)

Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương (Siṃha-nādeśvara-bala-rāja). Sư Tử (Siṃha) là vua trong loài thú, phát ra tiếng gầm rống (Nāda) khiến trăm loài thù ẩn nấp. Pháp Âm của Đức Như Lai rung động đồng với sư tử. Trí Tuệ, Uy Đức, Lực Thắng như vua cho nên nói là Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương

Người xưa nói: “Đức Phật phát ra tiếng rống của sư tử thì Ma Ngoại chắp tay, bốn Chúng nghe thấy liền được Đại Vô Úy vậy”

38_ Nam mô Diệu Âm Thắng Phật (Mañjusvarābhibhū Buddha)

Diệu Âm Thắng (Mañjusvarābhibhū) là Đức Như Lai nói Pháp chẳng động âm thanh, hình sắc mà vòng khắp mười phương, cho nên nói là Diệu Âm (Mañjusvara).

Chúng sinh nghe thấy tùy theo loại được hiểu biết, cuối cùng thành Chủng Trí cho nên gọi là Diệu Âm Thắng

39_ Nam mô Thường Quang Tràng Phật (Nitya-sṛṣṭa-prabha-dhvaja Buddha)

Thường Quang Tràng (Nitya-sṛṣṭa-prabha-dhvaja) là Đức Như Lai thường dựng cây phướng Đại Quang Minh thảy đều tiêu diệt Vô Minh đen tối, cho nên gọi là Thường Quang Tràng.

40_ Nam mô Quán Thế Đăng Phật (Avalokite-pradīpa Buddha)

Quán Thế Đăng (Avalokite-pradīpa) là Đức Như Lai quán chúng sinh của Thế Giới ấy từ mờ tối đi vào mờ tối, chẳng chịu suy nghĩ soi chiếu ngược lại, thế nên dùng cây đèn Đại Pháp dẫn về nơi chốn báu, cho nên gọi là Quán Thế Đăng

41_ Nam mô Tuệ Uy Đăng Vương Phật (Jñāna-bhīṣma-pradīpa-rāja Buddha)

Tuệ Uy Đăng Vương (Jñāna-bhīṣma-pradīpa Rāja). Dùng Trí căn bản dấy lên Trí Hậu Đắc hiện Đại Pháp Uy cho nên gọi là Tuệ Uy (Jñāna-bhīṣma) giống như vua đèn (đăng vương) truyền ánh sáng không cùng tận, chúng sinh nương theo ánh sáng mà được tự tại, cho nên gọi là Tuệ Uy Đăng Vương

42_ Nam mô Pháp Thắng Vương Phật (Dharma-vijaya-rāja Buddha)

Pháp Thắng Vương (Dharma-vijaya-rāja). Kinh nói rằng: “Ta làm Pháp Vương ở Pháp tự tại” cho nên gọi là Pháp Thắng Vương

43_ Nam mô Tu Di Quang Phật (Sumeru-prabha Buddha)

Tu Di Quang (Sumeru-prabha). Tu Di (Sumeru) đây là núi Diệu Cao, tên gọi của núi vua. Nói là bốn báu tạo thành cho nên xưng là vi diệu, đột nhiên rời khỏi đám núi cho nên xưng là cao, đã cao mà lại diệu nên xưng là Sơn Vương (núi vua) chiếu sáng bốn phương nên gọi là Quang (Prabha) dùng ví dụ cho bốn Trí của Đức Như Lai chuyển thành quả Phật diệu giác, cao hơn Người, Trời…ánh sáng chiếu khắp cho nên gọi là Tu Di Quang

44_ Nam mô Tu Mạn Na Hoa Quang Phật (Sumana-prabha Buddha)

Tu Mạn Na Hoa Quang (Sumana-prabha). Tu Ma Na (Sumana) đây là tên gọi của hoa Xứng Ý màu trắng vàng có mùi thơm lan tỏa xa, dùng ví dụ cho Giới Thiện Hương Quang của Đức Như Lai, không có gì chẳng vừa ý cho nên gọi là Tu Ma Na Hoa Quang

45_ Nam mô Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật (Udumbara Jayottama-rāja Buddha)

Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương (Udumbara- jayottama-rāja). Ưu Đàm Bát La (Udumbara) đây gọi là Linh Thụy (điềm linh thiêng), lại là tên gọi của hoa Thụy Ứng, ba ngàn năm hiện ra một lần, khi hiện ra thì có Kim Luân Vương ra đời, cho nên gọi là thù thắng, dùng ví dụ cho sự hiếm có dịp gặp được Đức Như Lai, cho nên gọi là Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương

Kinh nói rằng: “Chư Phật ra đời, khoảng cách rất xa, thật là khó gặp ví như hoa Ưu Đàm thường chỉ hiện một lần vậy”

46_ Nam mô Đại Tuệ Lực Vương Phật (Mahā-mati-bala-rāja Buddha)

Đại Tuệ Lực Vương (Mahā-mati-bala-rāja) hiển sức của Phi Quyền tiểu Trí Tuệ, nghĩa là Đức Như Lai Pháp Vương dùng sức của Đại Trí Tuệ dẫn đường cho chúng sinh đến thẳng bờ bên kia của Niết Bàn, cho nên gọi là Đại Tuệ Lực Vương.

47_ Nam mô A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật (Akṣobhya-pramudita-prabha Buddha)

A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang (Akṣobhya-pramudita-prabha). A Súc Tỳ (Akṣobhya) đây nói là Bất Động, tên gọi của Đức Phật như như chẳng động, cõi nước hiệu là Hoan Hỷ (Pramudita) người Trời vui vẻ yêu mến. Quang (Prabha) là hai Báo Y Báo, Chính Báo đều phóng ánh sáng, chẳng lay động thường vắng lặng chiếu khắp mười phương, tất cả Người, Trời không có ai chẳng vui vẻ, cho nên gọi là A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang.

48_ Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật (Amitasvara-rāja Buddha)

Vô Lượng Âm Thanh Vương (Amitasvara-rāja) là Đức Như Lai dùng âm thanh không có cùng tận, nói Diệu Pháp không có cùng tận, tự tại vô ngại cho nên gọi là Vô Lượng Âm Thanh

49_ Nam mô Tài Quang Phật (Dhanāloka Buddha)

Tài Quang (Dhanāloka). Tài (Dhana) là biện tài. Quang (Āloka) là ánh sáng Trí.

Nghĩa là Đức Như Lai đầy đủ vô lượng biện tài, ánh sáng của Trí Tuệ lợi khắp cho tất cả, cho nên gọi là Tài Quang

50_ Nam mô Kim Hải Quang Phật (Suvarṇa-sāgara-prabha Buddha)

Kim Hải Quang (Suvarṇa-sāgara-prabha) là thân Phật lớn như biển cả, ánh sáng vàng ròng tỏa màu đỏ tía chiếu sáng vô cùng, dùng ví dụ cho Hải Ấn Tam Muội, biểu thị cho Pháp thù thắng. Cho nên Lăng Nghiêm nói rằng: “Như Ta ấn ngón tay thì Hải Ấn phát ra ánh sáng” cho nên gọi là Kim Hải Quang

51_ Nam mô Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật (Sāgara-vāridharabuddhi-vikṛditābhijñā-rāja Buddha:Hải Vân Giác Tuệ Thần Biến Vương)

Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương (Sāgara-vāridhara-buddhi-vikṛditābhijñārāja:

Hải Vân Giác Tuệ Thần Biến Vương) là Tuệ chân thật như ngọn núi (?mây), Tuệ phương tiện như biển cả nên gọi là Sơn Hải Tuệ (Sāgara-vāridhara-buddhi). Tự Tại Thông Vương (Vikṛditābhijñā-rāja:Thần Biến Vương). Tục Đế nói là Tự Tại, Chân Đế nói là Thông (thần thông, thần biến), Trung Đạo Đế nói là Vương. Dùng ba loại Đại Trí Tuệ này hội nhập Lý của ba Đế cho nên gọi là Tự Tại Thông Vương

52_ Nam mô Đại Thông Quang Phật (Mahābhijña-prabha Buddha)

Đại Thông Quang (Mahābhijña-prabha). Thể của Giác nói là Đại (Mahā:to lớn) là Đức của Pháp Thân. Dụng của Giác nói là Thông (Abhijña) là Đức của Giải Thoát.

Tướng của Giác nói là Quang (Prabha:ánh sáng) là Đức của Bát Nhã. Ba Đức viên dung chẳng thể nghĩ bàn cho nên gọi là Đại Thông Quang

53_ Nam mô Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật (Sarva dharma-ketupūrṇa-rāja Buddha)

Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương (Sarva dharma-ketu-pūrṇa-rāja) là năm Giáo, ba Thừa gọi là sự dựng bày (tiêu thị) của tất cả Pháp (Sarva dharma). Người, Trời nói là Tràng (Ketu: cây phướng). Vòng khắp Pháp Giới gọi là Mãn (Pūrṇa:tràn đầy). Pháp Pháp tự tại nói là Vương (rāja: vua). Dùng tất cả Pháp: dọc thì cùng tận, ngang thì viên dung không có ngăn ngại…cho nên gọi là Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương.

54_ Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật (Śākya-muṇi Buddha)

Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi). Thích Ca (Śākya) là Năng Nhân, là Tính (họ), từ Từ Bi lợi vật đã lập nên tên gọi. Mâu Ni (Muṇi) là Tịch Mặc, là Chữ. Y theo Trí Tuệ biết rõ Lý nên có hiệu là Năng Nhân cho nên chẳng trụ ở Niết Bàn. Do Tịch Mặc cho nên chẳng trụ ở sinh tử. Bi Trí kèm vận, Chân Tục song dung cho nên gọi là Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật này theo Tính (họ) với Chữ mà hợp xưng

55_ Nam mô Kim Cương Bất Hoại Phật (Vajra-pramardi Buddha)

Kim Cương Bất Hoại (Vajra-pramardi:Kim Cương năng đoạn)

Tịnh Danh nói là: “Thân của Như Lai, Thể của Kim Cương, vật chẳng thể hoại, các ác đã bị chặt đứt, mọi Thiện tập hội khắp thời bệnh gì, phiền não gì ? !..cho nên gọi là Kim Cương Bất Hoại

56_ Nam mô Bảo Quang Phật (Ratnārcis Buddha)

Bảo Quang (Ratnārcis). Lăng Nghiêm nói rằng: “Từ trong Nhục Kế phun ra ánh sáng trăm báu, trong ánh sáng hiện ra Đức Phật tuyên nói Thần Chú”, cho nên gọi là Bảo Quang

57_ Nam mô Long Tôn Vương Phật (Nāgeśvara-rāja Buddha)

Long Tôn Vương (Nāgeśvara-rāja: Long Tự Tại Vương) là bậc tối tôn trong loài Rồng, cho nên xưng là vua (vương), dùng ví dụ Như Lai Pháp Vương là Tôn trong chúng Thánh, nên gọi là Long Tôn Vương

58_ Nam mô Tinh Tiến Quân Phật (Vīrasena Buddha)

Tinh Tiến Quân (Vīrasena) là bậc Thế Quân dũng mãnh tinh tiến, hay đẩy lui Oán Địch. Đức Như Lai là vị Tướng của Đại Pháp, giáng phục quân Ma, cho nên gọi là Tinh Tiến Quân

59_ Nam mô Tinh Tiến Hỷ Phật (Vīra-nandin Buddha)

Tinh Tiến Hỷ (Vīra-nandin) là tinh tiến tu tập báu của Đạo. Do tinh tiến cho nên chuyên Tâm hướng về Đạo, được sự vui thích của Pháp, viên thành Phật Quả, nên gọi là Tinh Tiến Hỷ

60_ Nam mô Bảo Hỏa Phật (Ratnāgni Buddha)

Bảo Hỏa (Ratnāgni) hiển lửa chẳng phải thuộc Thế Gian, có bốn nghĩa:

1_Nghĩa thiêu đốt dùng ví dụ cho sự thiêu đốt phiền não

2_ Nghĩa chiếu soi rốt ráo dùng ví dụ cho ánh sáng của Đức Phật chiếu soi khắp cả

3_ Nghĩa nướng ướp dùng ví dụ cho sự xông ướp bên trong Chân Như

4_ Nghĩa thành thục dùng ví dụ cho thành thục căn lành

Đủ 4 nghĩa này cho nên gọi là Bảo Hỏa. Như Lăng Nghiêm nói rằng: “Trong Như Lai Tạng, lửa chân thật của Tính Không, trong sạch vốn đang như thế. Vòng khắp Pháp Giới, tùy theo Tâm của chúng sinh, ứng theo chỗ biết lượng là vậy”. Đây ví dụ cho thân Như Như Phật

61_ Nam mô Bảo Nguyệt Quang Phật (Ratna-candra-prabha Buddha)

Bảo Nguyệt Quang (Ratna-candra-prabha). Bảo (Ratna) là Thể dùng biểu thị cho Pháp Thân. Nguyệt (Candra) là Tướng dùng biểu thị cho Giải Thoát. Quang (Prabha) là Dụng, dùng biểu thị cho Bát Nhã. Hiển Thể Tướng Dụng cho nên gọi là Bảo Nguyệt Quang. Điều này ví dụ cho thân Công Đức Phật của Như Lai.

62_ Nam mô Hiện Vô Ngu Phật (Amogha-darśi Buddha)

Hiện Vô Ngu (Amogha-darśi:Bất Không Kiến) là ánh sáng Trí một lần phát ra thì Si Chướng bị tiêu tan hoàn toàn, cho nên gọi là Hiện Vô Ngu. Như Kinh Viên Giác nói: “Trí Tuệ, ngu si thông là Bát Nhã”. Đây ví dụ cho thân Trí Tuệ Phật của Như Lai

63_ Nam mô Bảo Nguyệt Phật (Ratna-candra Buddha)

Bảo Nguyệt (Ratna-candra). Bảo (Ratna) nghĩa là cứu giúp khổ đau. Nguyệt (Candra) nghĩa là trong mát. Ấy là dùng báu trong mát cứu giúp khắp chúng sinh, trừ diệt khổ nóng bức, cho nên gọi là Bảo Nguyệt. Đây ví dụ cho thân Ứng Hóa Phật của Như Lai.

64_ Nam mô Vô Cấu Phật (Nirmala Buddha)

Vô Cấu (Amala, hay Nirmala) là Tự Tính của Như Lai trong sạch, vốn không có nhiễm dơ cho nên gọi là Vô Cấu.

Như Pháp Giới Luận nói: “Tự Tính trong sạch không có nhiễm dính, cho nên gọi là Như Lai”

65_ Nam mô Ly Cấu Phật (Vimala Buddha)

Ly Cấu (Vimala) là Giác Thể của Như Lai từ vô lượng kiếp đến nay, lìa hẳng bụi dơ phiền não, cho nên gọi là Ly Cấu.

Như Pháp Giới Luận nói: “Cõi chúng sinh chẳng trong sạch, Bồ Tát trong sạch trong sự nhiễm, bậc tối cực thanh tịnh được nói là Như Lai. Trước kia là Tại Triền Như Lai Tạng (Tâm Tự Tính thanh tịnh của Như Lai Tạng ẩn tàng trong phiền não trói buộc) là Bản Giác Tính Tịnh. Sau này là Xuất Triền Như Lai Tạng (Tâm Tự Tính thanh tịnh của Như Lai Tạng vuợt khỏi sự trói buộc, hiển hiện Pháp Thân) là Viên Giác Cứu Tịnh

66_ Nam mô Dũng Thí Phật (Sūradatta Buddha)

Dũng Thí (Sūradatta) là dùng ba loại Tài Thí, Pháp Thí, Vô Úy Thí ban cho chúng sinh không có giải thoát, cho nên gọi là Dũng Thí

67_ Nam mô Thanh Tịnh Phật (Brahma Buddha)

Thanh Tịnh (Brahma) là Tự Tính của Đức Nhu Lai vốn thanh tịnh, lìa các bụi nhiễm, trong ngoài trong suốt, không có tối tăm chẳng có đuốc soi, cho nên gọi là Thanh Tịnh

68_ Nam mô Thanh Tịnh Thí Phật (Brahmadatta Buddha)

Thanh Tịnh Thí (Brahmadatta) là dùng Chính trợ giúp Đạo Pháp, giáo hóa chúng sinh, Thể của ba Luân trống rỗng, chẳng dính Năng Sở, cho nên gọi là Thanh Tịnh Thí

69_ Nam mô Sa Lưu Na Phật (Varuṇa Buddha)

Sa Lưu Na (Varuṇa) Đây nói là nước Cam Lộ nghĩa là Cam Lộ có công năng cải tử hoàn sinh, Phật Pháp có Đức chuyển Phàm thành Thánh. Có công năng này, cho nên gọi là Sa Lưu Na

70_ Nam mô Thủy Thiên Phật (Varuṇa-deva Buddha)

Thủy Thiên (Varuṇa-deva) là dùng nước Thiên Lý của Tính nuôi dưỡng mầm Tâm, tu tập Quán Hạnh thành quả Chính Giác, cho nên gọi là Thủy Thiên.

71_ Nam mô Kiên Đức Phật (Bhadra-śrī Buddha)

Kiên Đức (Bhadra-śrī:Hiền Đức) là dùng Pháp của Giới không chảy rỉ (vô lậu giới) tu nhiếp Tâm ấy, như ôm giữ cái phao nổi (vật dụng giúp cho người khỏi bị chết chìm), giữ gìn bền chắc chẳng bị phá hoại. Dùng Đức làm rạng danh, cho nên gọi là Kiên Đức

72_ Nam mô Chiên Đàn Công Đức Phật (Candana-śrī Buddha)

Chiên Đàn Công Đức (Candana-śrī) là có ích nơi việc nên nói là Công. Cứu độ tất cả nên nói là Đức. Nghĩa là Đức Như Lai nói Pháp chẳng thể nghĩ bàn. Chúng sinh nghe thấy như được Chiên Đàn (Candana), bệnh liền trừ khỏi. Đủ Lực Dụng này cho nên nói là Chiên Đàn Công Đức

73_ Nam mô Vô Lượng Cúc Quang Phật (Ananta-ujjvalana Buddha)

Vô Lượng Cúc Quang (Ananta-ujjvalana). Cúc là tụm lại. Nghĩa là Diệu Tướng của Đức Như Lai tụm lại phát ra ánh sáng trùng trùng không tận, cho nên gọi là vô Lượng Cúc Quang

74_ Nam mô Quang Đức Phật (Prabhasa-śrī Buddha)

Quang Đức (Prabhasa-śrī) là Từ Quang soi chiếu khắp, lợi ích hữu tình, Ân Đức không tận cho nên gọi là Quang Đức

75_ Nam mô Vô Ưu Đức Phật (Aśoka-śrī Buddha)

Vô Ưu Đức (Aśoka-śrī) là Đức Như Lai chứng Đại Niết Bàn (Mahā-nirvāṇa), lìa hẳn các Lậu (Āsrava: tên khác của phiền não) không có ưu não. Đủ Công Đức này cho nên gọi là Vô Ưu Đức

76_ Nam mô Na La Diên Phật (Nārāyaṇa Buddha)

Na La Diên (Nārāyaṇa) Đây nói là bền chắc, nghĩa là thân Phật bền chắc giống như Kim Cương không gì có thể làm cho tan hoại, cho nên gọi là Na La Diên

77_ Nam mô Công Đức Hoa Phật (Kusuma-śrī Buddha)

Công Đức Hoa (Kusuma-śrī) là Đức Như Lai công thành Diệu Trí, ngộ thấu Chân Thường, Hoa của nhân vạn Hạnh trang nghiêm quả Đức cho nên gọi là Công Đức Hoa

78_ Nam mô Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông Phật (Padma-jyotirvikṛditābhijñā Buddha)

Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông (Padma-jyotir-vikṛditābhijñā). Liên Hoa Quang (Padma-jyotir) biểu thị cho Phật Trí là ánh sáng tuy chiếu xa nhưng vốn chẳng dời đổi, dùng ví dụ cho Đức Như Lai du hóa mười phương, chẳng lìa Hoa Quang Tam Muội đều dùng Thần Thông biến hiện, cho nên gọi là Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông

79_ Nam mô Tài Công Đức Phật (Dhana-śrī Buddha)

Tài Công Đức (Padma-jyotir-vikṛditābhijñā) là Đức Như Lai dùng Công Đức Pháp Tài cứu giúp khắp chúng sinh chứng Đại Bồ Đề cho nên gọi là Tài Công Đức

80_ Nam mô Đức Niệm Phật (Smṛti-śrī Buddha)

Đức Niệm (Smṛti-śrī). Đức (Śrī) là gốc của thành Phật, Tâm của niệm lợi sinh.

Dùng Đức cho nên bên trên hoằng dương Phật Đạo, bên dưới hóa độ chúng sinh. Hai Lợi đồng tròn cho nên gọi là Đức Niệm

81_ Nam mô Thiện Danh Xưng Công Đức Phật (Suparikirtita-nāmadheya-śrī Buddha)

Thiện Danh Xưng Công Đức (Suparikirtita-nāmadheya-śrī). Thiện là khen ngợi sự tốt đẹp. Nghĩa là Đức Như Lai đã tu Công Đức lợi sinh, khen ngợi chẳng thể cùng tận, thấy Tướng nghe Tên đều thấm ngấm lợi lạc, cho nên gọi là Thiện Danh Xưng Công Đức

82_ Nam mô Hồng Diệm Đế Tràng Vương Phật (Indra-ketu-dhavaja-rāja Buddha)

Hồng Diệm Đế Tràng Vương (Indra-ketu-dhavaja-rāja). Hồng Diệm tức là ánh sáng của cây phướng (ketu) ngọc màu đỏ trong cung Thiên Đế (Indra) cho nên nói là Hồng Diệm. Cây phướng này chỉ được sở hữu trong cung Thiên Đế, cho nên xưng là Vương (rāja) dùng ví dụ cho lửa ánh sáng vàng tía của thân tướng Như Lai. Đại Thiên quốc thổ chỉ có Đức Phật là tối tôn cho nên gọi là Hồng Diệm Đề Tràng Vương

83_ Nam mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật (Vikrānta-gamin-śrī Buddha:Du Bộ Công Đức)

Thiện Du Bộ Công Đức (Vikrānta-gamin-śrī) là Đức Như Lai bước đi giống như con voi chúa, chẳng phải như loại người khác nhẹ nâng vọng động. Phàm nơi thi hành đều hay cảm phát tất cả chúng sinh phát Tâm Bồ Đề, tăng trưởng Công Đức, cho nên gọi là Thiện Du Bộ

Lại đủ ba loại Ý Sinh Thân. Thiện Du Bộ là Chủng Loại Ý Thân, Công là Tam Muội Ý Thân, Đức là Giác Pháp Ý Thân …rõ ràng như Kinh Lăng Già nói

84_ Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật (Vijitasaṃgrama Buddha)

Đấu Chiến Thắng (Vijitasaṃgrama) là Đức Phật cùng mũi tên Trí, cây cung Thiền, cây kiếm Quang Minh Tuệ cùng đấu với Uẩn Ma, Phiền Não Ma. Sức chiến đấu của các Thiên Ma, Ngoại Đạo chẳng bằng nên thảy đều chịu nhận sự hóa độ, cho nên gọi là Đấu Chiến Thắng

85_ Nam mô Thiện Du Bộ Phật (Suvikrānta Buddha)

Thiện Du Bộ (Suvikrānta) là Đức Như Lai dùng sức Thần Túc vòng khắp mười phương, du hành tự tại, cảm hóa các cõi cho nên gọi là Thiện Du Bộ.

86_ Nam mô Chu Táp Trang Nghiêm Công Đức Phật (Samantāvabhāsa-vyūhaśrī Buddha)

Chu Táp Trang Nghiêm Công Đức (Samantāvabhāsa-vyūha-śrī) là mười phương ba mé sinh Phật y theo Chính đều dùng Công Đức, Pháp Hành tịnh diệu trang nghiêm chẳng phải là loại Thế Gian, vật Hữu Vi so sánh được, cho nên gọi là Chu Táp Trang Nghiêm Công Đức

87_ Nam mô Bảo Hoa Du Bộ Phật (Ratna-padma-vikramin Buddha)

Bảo Hoa Du Bộ (Ratna-padma-vikramin) có hai ý

Một là chất đầy mọi hoa màu nhiệm cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, tức xong một bữa ăn liền quay trở về nước của mình, ăn cơm đi Kinh Hành

Hai là dưới bàn chân của Đức Như Lai có tướng bánh xe ngàn căm, phàm nơi du hành có hoa báu nâng đỡ bàn chân.

Cho nên gọi là Bảo Hoa Du Bộ

88_ Nam mô Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Sa La Thọ Vương Phật (Ratna padmasupratiṣṭhita-śālendra-rāja Buddha)

Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Sa La Thọ Vương (Ratna-padma-supratiṣṭhitaśālendra-rāja). Bảo Liên (Ratna-padma) là hoa thanh tịnh không dơ bẩn. Thiện Trụ (Suoratiṣṭhita) đây nói là tối thắng, cũng nói là bền chắc. Đã thắng mà còn bền chắc cho nên gọi là Thọ Vương. Nghĩa là Đức Như Lai ở dưới cây này, an trụ thân tâm, khởi Trí chặt đứt Hoặc (phiền não), Tâm như hoa sen báu lìa hẳn các dơ bẩn, giống như cây vua tối thắng bền chắc, cho nên gọi là Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Sa La Thọ Vương

89_ Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật (Namo Dharma-dhātugarbha-kāya- Amitābha-buddha)

Pháp Giới Tạng Thân (Dharma-dhātu-garbha-kāya) có hai ý

Một là Nhân là tên gọi của Tỳ Kheo Pháp Tạng (Dharmakāra-bhikṣu), Quả là thành Báo của Pháp Giới Tạng Thân

Hai là như Quán Kinh nói: “Chư Phật Như Lai là Pháp Giới Thân (Dharmakāya) nhập vào trong Tâm Tưởng của tất cả chúng sinh. Nay Di Đà (Amitābha) cũng là Pháp Giới Thân ở trong khắp cõi nước nhiều như hạt bụi nhỏ thuộc hư không Pháp Giới của mười phương”

A Di Đà. Phiên dịch này có hai ý: Một là Vô Lượng Thọ (Amitāyus) là Đức Phật ấy có thọ mệnh vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp. Hai là Vô Lượng Quang (Amitābha) là Đức Phật có ánh sáng chiếu soi cõi nước mười phương không có chướng ngại. Song Lý Thật, Thân Tướng, Công Đức Y Báo, Chính Báo đều có vô lượng cho nên xưng là A Di Đà. Đây cũng đơn điệu thuận theo Pháp nói Tưởng như Kinh của các Tịnh Thổ.

_Kinh Bảo Tích nói rằng: “Tất cả chúng sinh, nếu có tội năm Nghịch, mười ác mà vạn kiếp chẳng thông Sám Hối thì nên đỉnh lễ 35 Đức Phật, chí Tâm Sám Hối ắt tất cả tội chướng liền đều trừ diệt”

Song, sau 35 Đức Phật này gia thêm Đức Phật Di Đà thì có bốn Ý:

1_ Tên của Đức Phật Di Đà, một lần xưng lễ thời hay diệt tội nặng sinh tử trong 84 ức kiếp. Đều siêu thoát được năm Nghịch, ba đường.

2_ Di Đà là đấng Hóa Chủ tuy ở tại Tây Phương, nhưng phát Nguyện đi đến cứu độ chúng sinh của Thế Giới Sa Bà (Sāha-loka), tiếp dẫn mười niệm, sinh về chín Phẩm.

3_ Từ khi thành Phật đến nay đã mười kiếp, hiện tại nói Pháp độ khắp các chúng sinh ở mười phương

4_ Đức Thích Ca Như Lai cùng với chư Phật mười phương đều khen ngợi Đức Phật A Di Đà.

Có bốn Ý này cho nên gia thêm vậy.

_ Lại có hai nghĩa:

1_ Danh Hiệu của chư Phật không có nhất định. Hoặc y theo Tính lập như Thích Ca, Di Lặc.

Hoặc tự xưng như Vô Cấu, Ly Cấu

Hoặc Y Báo, hoặc Chính Báo như Chiên Đàn Quật, A Súc Tỳ

Hoặc ví dụ, hoặc Pháp như: Sơn Hải Tuệ, Kim Hải Quang

Nhân Quả như Di Đà, Công Đức như Dũng Thí

Tên gọi tuy đều khác nhau nhưng Nghĩa thì trợ nhau thông suốt. Cho nên Pháp Uyển nói rằng: “Như Thích Ca phiên dịch là Năng Nhân, lại khởi có một Đức Phật chẳng phải là Năng Nhân. A Di Đà nói là Vô Lượng Thọ thì khởi có một Đức Phật chẳng phải là Trường Thọ….chỉ dùng hợp Cơ bày Hóa, tùy theo đời mà dựng lập

2_Danh Hiệu của chư Phật đồng thông với một.

Hoa Nghiêm nói: “Các Như Lai mười phương đồng chung một Pháp Thân, một Tâm, một Trí Tuệ, sức vô úy cũng thế”

Lăng Già nói: “Tất cả chư Phật có bốn loại đều ngang bằng

Một là tên chữ ngang bằng như mười Hiệu của Phật

Hai là Ngữ ngang bằng: 64 loại ngôn ngữ của Phạn Âm

Ba là Thân ngang bằng: Pháp với Sắc Thân

Bốn là Pháp ngang bằng: Phẩm Chính Trợ Đạo

Dựa theo nghĩa của hai Kinh này, ắt Danh Đức của 89 Đức Phật, một nhiều dung thông khắp cả, đó đây giao nhiếp, đề cử một Phật liền thông tất cả Phật, giải thích một nghĩa liền hiển vô lượng nghĩa, có tăng giảm nào mà chẳng viên dung chăng?!…

Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2021

KINH ĐẠI BẢO TÍCH




KINH ĐẠI BẢO TÍCH : BỘ 9 TẬP




LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ

Trong khế kinh, Đức Phật nói: "Chỉ vì đại sự nhơn duyên duy nhất mà Đức Phật xuất hiện thế gian, đó là muốn mọi người, mọi chúng sanh đều thành Phật đồng như Đức Phật".

Lời Đức Phật thật đơn giản, mà ý nghĩa lại tột cùng sâu rộng. Trong lời đó có nghĩa cứu cánh bình đẳng. Phật và chúng sanh không có sai khác. Còn có nghĩa là hiện tại mỗi chúng sanh đều có đủ tánh đức đồng như Phật. Cũng có nghĩa là nếu chúng sanh có lòng tin thanh tịnh, y giáo phụng hành thì quyết sẽ thành Phật, như trong đại thừa, kinh thường có câu, chính Đức Phật dạy: "Các người là Phật sẽ thành, còn chư Phật là Phật đã thành."

Vì thấy rõ tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật nên Đức Phật ra đời, dùng thân khẩu truyền cho đời những phương cách, nhập pháp môn làm điều kiện cụ thể để bước lên đường Phật, để rồi đến quả Phật. Những phương pháp cụ thể đó gọi là Phật pháp.

Vì các chúng sanh căn không đồng nhau, tánh không đồng nhau, ý thích cùng sự mong muốn, vân vân... cũng không đồng nhau, nên Đức Phật phải theo cơ mà dạy rất nhiều pháp môn, nhiều nên phải dùng từ "Vô lượng pháp môn”. Dầu là vô lượng nhưng nếu mỗi chúng sanh y theo một pháp môn, đúng với căn tánh thích muốn của chính mình rồi, quyết tâm hiểu rõ hành trì thật đúng, thật bền, thật sâu, thì nhất định đạt thành đạo quả.

Như trên nói mọi chúng sanh đều có đủ đức tính đồng như Phật chỉ vì điên đảo vọng tưởng hư vọng phân biệt, dục tham phiền não che chướng nên những tánh đức trong sáng sẵn có ấy không hiện thật. Tất cả pháp môn của Đức Phật dạy, những phương pháp mà Đức Phật, lúc hành đạo, đã thật hành, đã hiểu rõ, đã kinh nghiệm và do đó đã đạt kết quả cứu cánh, nay đem truyền dạy lại cho mọi người, đều nhằm vào việc phải trừ những đảo tưởng phân biệt, dục tham phiền não, để cho tánh đức sẵn có phát hiện tác dụng. Vì đó là sẵn có nên Đức Phật tự nói. "Ta không có một chút pháp gì để thành vô thượng bồ đề cả”. Phật pháp là phương tiện đưa người vào đạo, liều thuốc chữa trị bịnh hư vọng phiền não, là cách thức rửa lau những đảo tưởng như lau bụi trên mặt gương, mà tuyệt đối không có chút gì là có, là được, vì đạo là tánh đức sẵn đủ vậy.

Phật pháp vô lượng môn cô đọng lại trong ba môn vô lậu: Giới, Định và Huệ. Vô lậu giới để phòng ngừa, để ngăn đảo vọng. Vô lậu định để chận đứng, để đối trị "đảo vọng". Vô lậu huệ dứt sạch đảo vọng. Và tùy theo giai đoạn mà đảo vọng từng phần được dứt trừ, thì tánh đức sẵn có của hành giả cũng từng phần thể hiện, đó là các bực Hiền, các bực Thánh, các bực Bồ Tát. Cho đến lúc tất cả đảo vọng sạch trọn vẹn, thì tánh đức thể hiện trọn vẹn, đó là quả Phật, là thành Phật.

Trong bộ Kinh Đại Bảo Tích nầy, nội dung không ngoài những điều đã nêu ở trên, dầu là rất nhiều, rất rộng.

Trong thập niên năm mươi, tôi được đọc tụng bộ Kinh nầy từ bản phương sách của Bắc bộ Việt Nam ta, bản Hán văn, tôi đã có hoài bão phiên dịch ra Việt văn để được thông dụng theo thời đại. Mãi đến năm 1979 mới hoàn thành bộ Việt văn, và đến nay ngót mười năm mới có đủ duyên để được đem ra ấn hành lần đầu tiên. Mong rằng sự ấn loát và lưu hành đều tốt đẹp như ý muốn.

Cầu nguyện tất cả mọi người, mọi thí chủ, hoặc thiện chí hoặc công sức hoặc tịnh tài, đều tròn đầy phước lạc.

Viết tại chùa Vạn Đức, Thủ Đức
Mùa An Cư, ngày 12-7-1987
Phật Lịch 2531

Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh



KINH ĐẠI BẢO TÍCH

Hán dịch: Nhiều tác giả
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh

Mục Lục Chi Tiết

Lời nói đầu của dịch giả

Tập 1

01 Pháp Hội Tam Tự Luật Nghi
02 Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm
03 Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ
04 Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử
05 Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai

Tập 2

06 Pháp Hội Bất Động Như Lai
07 Pháp Hội Mặc Giáp Trang Nghiêm
08 Pháp Hội Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt
09 Pháp Hội Đại Thừa Thập Pháp
10 Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn
11 Pháp Hội Xuất Hiện Quang Minh

Tập 3

12. Pháp Hội Bồ Tát Tạng

12.01 Phẩm Khai Hóa Trưởng Giả
12.02 Phẩm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký
12.03 Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát
12.04 Phẩm Như Lai Bất Nghị Tánh
12.05 Phẩm Tứ Vô Lượng
12.06 Phẩm Đàn Na Ba La Mật
12.07 Phẩm Thi La Ba La Mật
12.08 Phẩm Sằn Đề Ba La Mật
12.09 Phẩm Tỳ Lê Gia Ba La Mật
12.10 Phẩm Tỉnh Lự Ba La Mật
12.11 Phẩm Bát Nhã Ba La Mật
12.12 Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký

Tập 4

13 Pháp Hội Phật Thuyết Nhơn Xử Thai
14 Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng
15 Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký

16. Pháp Hội Bồ Tát Kiến Thiệt

16.01 Phẩm Tự
16.02 Phẩm Tịnh Phạn Vương Đến Phật
16.03 Phẩm A Tu La Vương Thọ Ký
16.04 Phẩm Bổn Sự
16.05 Phẩm Ca Lâu La Vương Thọ Ký
16.06 Phẩm Long Nữ Thọ Ký
16.07 Phẩm Long Vương Thọ Ký
16.08 Phẩm Cưu Bàn Trà Thọ Ký
16.09 Phẩm Càn Thát Bà Thọ Ký
16.10 Phẩm Dạ Xoa Thọ Ký
16.11 Phẩm Khẩn Na La Vương Thọ Ký
16.12 Phẩm Hư Không Hành Thiên Thọ Ký
16.13 Phẩm Tứ Thiên Vương Thọ Ký
16.14 Phẩm Tam Thập Tam Thiên Thọ Ký
16.15 Phẩm Dạ Ma Thiên Thọ Ký
16.16 Phẩm Đâu Suất Đà Thiên Thọ Ký
16.17 Phẩm Hóa Lạc Thiên Thọ Ký
16.18 Phẩm Tha Hoá Tự Tại Thiên Thọ Ký
16.19 Phẩm Chư Phạm Thiên Thọ Ký
16.20 Phẩm Quang Âm Thiên Thọ Ký
16.21 Phẩm Biến Tịnh Thiên Thọ Ký
16.22 Phẩm Quảng Quả Thiên Thọ Ký
16.23 Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Tán Kệ
16.24 Phẩm Giá-La-Ca-Ba-Lợi-Bà-La-Xà-Ca Ngoại Đạo
16.25 Phẩm Lục Giới Sai Biệt
16.26 Phẩm Tứ Chuyển Luân Vương

Tập 5

17 Pháp Hội Phú Lâu Na
18 Pháp Hội Hộ Quốc Bồ Tát
19 Pháp Hội Úc Già Trưởng Lão
20 Pháp Hội Vô Tận Phục Tạng
21 Pháp Hội Thọ Ký Ảo Sư Bạt Đà La
22 Pháp Hội Đại Thần Biến
23 Pháp Hội Ma Ha Ca Diếp
24 Pháp Hội Ưu Ba Ly
25 Pháp Hội Phát Thắng Chí Nguyện

Tập 6

26 Pháp Hội Thiện Tý Bồ Tát
27 Pháp Hội Thiện Thuận Bồ Tát
28 Pháp Hội Dũng Mãnh Thọ Trưởng Giả
29 Pháp Hội Ưu Đà Diên Vương
30 Pháp Hội Diệu Huệ Đồng Nữ
31 Pháp Hội Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di
32 Pháp Hội Vô Úy Đức Bồ Tát
33 Pháp Hội Vô Cấu Thí Bồ Tát Ứng Biện
34 Pháp Hội Công Đức Bữu Hoa Phu Bồ Tát
35 Pháp Hội Thiện Đức Thiên Tử

36. Pháp Hội Thiện Trụ Ý Thiên Tử

36.01 Phẩm Duyên Khởi
36.02 Phẩm Khai Thiệt Nghĩa
36.03 Phẩm Văn Thù Thần Biến
36.04 Phẩm Phá Ma
36.05 Phẩm Bồ Tát Thân Hành
36.06 Phẩm Phá Bồ Tát Tướng
36.07 Phẩm Phá Nhị Thừa Tướng
36.08 Phẩm Phá Phàm Phu Tướng
36.09 Phẩm Thần Thông Chứng Thuyết
36.10 Phẩm Xưng Tán Phó Pháp

37 Pháp Hội A Xà Thế Vương Tử
38 Pháp Hội Đại Thừa Phương Tiện
39 Pháp Hội Hiền Hộ Trưởng Giả
40 Pháp Hội Tịnh Tính Đồng Nữ

Tập 7

41 Pháp Hội Di Lặc Bồ Tát Vấn Bát Pháp
42 Pháp Hội Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn
43 Pháp Hội Phổ Minh Bồ Tát
44. Pháp Hội Bửu Lương Tụ

44.01 Phẩm Sa Môn
44.02 Phẩm Tỳ Kheo
44.03 Phẩm Chiên Đà La Sa Môn
44.04 Phẩm Doanh Sự Tỳ Kheo
44.05 Phẩm A Lan Nhã Tỳ Kheo
44.06 Phẩm Tỳ Kheo Khất Thực
44.07 Phẩm Phất Tảo Y Tỳ Kheo

45 Pháp Hội Vô Tận Huệ Bồ Tát
46 Pháp Hội Văn Thù Thuyết Bát Nhã
47 Pháp Hội Bửu Kế Bồ Tát
48 Pháp Hội Thăng Man Phu Nhân
49 Pháp Hội Quảng Bác Tiên Nhân
50 Pháp Hội Nhập Phật Cảnh Giới Trí Quang Minh Trang Nghiêm
51 Pháp Hội Tự Tại Vương Bồ Tát

Tập 8

52 Pháp Hội Bửu Nữ
53 Pháp Hội Bất Thuấn Bồ Tát
54 Pháp Hội Hải Huệ Bồ Tát
55 Pháp Hội Hư Không Tạng Bồ Tát
56 Pháp Hội Vô Ngôn Bồ Tát

Tập 9

57 Pháp Hội Bất Khả Thuyết Bồ Tát
58 Pháp Hội Bửu Tràng
59 Pháp Hội Hư Không Mục
60 Pháp Hội Nhựt Mật Bồ Tát
61 Pháp Hội Vô Tận Ý Bồ Tát
62 Pháp Hội Quán Vô Lượng Thọ Phật

Lời nói sau cùng của dịch giả








Kinh Đại Bảo Tích

Bộ từ điển: Chú Thích Phật Học - Pháp Thí Hội

● (Mahā-Ratnakūta-Sūtra hay Bảo Tích) gồm có 49 hội, 120 quyển.Thật ra là bộ tổng tập các kinh liên quan đến những phương pháp tu hành, thọ ký, thành Phật của các Bồ Tát, do ngài Bồ Đề Lưu Chí đời Đường và nhiều vị khác dịch. Theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục, bộ kinh Đại Bảo Tích gồm có hai phần, một phần gọi là “tân dịch” (gồm 26 hội, 39 quyển) là do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào đời Đường; còn phần kia gọi là “cựu dịch” (gồm 23 hội, 81 quyển), do nhiều vị dịch sư khác đã dịch từ trước trong các đời Ngụy, Tấn, Nam-Bắc-triều v.v… Như vậy, bộ kinh này là một tập hợp của 49 kinh; tuy nhiên, về hình thức, hai phần tân và cựu dịch ấy không phải đã được sắp xếp riêng biệt, mà các hội ấy xen kẽ nhau. Cũng theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục, nguyên bản Phạn văn của toàn bộ kinh Đại Bảo Tích gồm 49 hội (tức 49 kinh) đã được pháp sư Huyền Trang mang về từ Ấn-độ. Tháng Giêng năm Trinh-quán thứ 19 (năm 645 TL), ngài đã từ Ấn-độ về đến Trường-an, được vua Đường Thái-tông mời cư trú tại chùa Hoằng-phúc. Tại đây ngài đã lập đạo tràng phiên dịch đầu tiên. Tháng Năm năm ấy thì công việc dịch kinh bắt đầu, và bộ kinh đầu tiên đã được ngài Huyền Trang dịch chính là kinh Đại Bồ Tát Tạng (tức hội 12 của bộ kinh Đại Bảo Tích này), gồm có 20 quyển. Rồi 19 năm sau (năm 663), ở chùa Ngọc-hoa (vốn là cung Ngọchoa), sau khi phiên dịch hoàn tất bộ kinh Đại Bát Nhã, chư tăng đã thành khẩn xin ngài dịch tiếp bộ kinh Đại Bảo Tích; vì thương xót tâm thành của đại chúng, ngài đã mở bộ kinh nguyên bản Phạn văn ra, nhưng lúc đó đã sức cùng lực kiệt, ngài chỉ gắng gượng dịch được một ít, rồi thì buông bút, không thể tiếp tục công việc được nữa. Ngài đành cho đem bộ kinh cất lại vào kho, từ đó dứt tuyệt việc cầm bút, chỉ chuyên việc tu trì, cho đến ngày viên tịch.

Năm 706, ngài Bồ Đề Lưu Chí (người Nam Ấn-độ, đến Trung-quốc từ năm 693 đời nữ hoàng Võ Tắc Thiên, được mời ở chùa Phật-thọ-kí tại Đông đô Lạc-dương để tùng sự dịch kinh) theo vua Đường Trungtông (705-710) từ Đông-đô (Lạc-dương) trở về Tây-đô (Trường-an), cư trú tại chùa Sùng-phúc. Tại đây, nhà vua đã thỉnh cầu ngài tiếp tục công việc bỏ dở của pháp sư Huyền Trang, phiên dịch bộ kinh Đại Bảo Tích. Vâng mệnh vua, ngài Bồ Đề Lưu Chí cho đem bộ kinh nguyên bản Phạn văn từ chùa Ngọc-hoa sang chùa Sùng-phúc. Theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục, trước khi ngài Huyền Trang mang toàn bộ nguyên bản Phạn văn của bộ kinh Đại Bảo Tích từ Ấn-độ đem về, thì ở Trung-quốc đã có các bản kinh lẻ tẻ (thuộc bộ kinh ấy) được truyền nhập và đã được dịch rải rác qua các thời đại Hậu-Hán, Tam-quốc, Tấn, Nam-Bắc-triều v.v… Bởi vậy, công việc đầu tiên là ngài cho sưu tập các bản kinh đã dịch ấy (cựu dịch), lựa riêng ra các bản “đơn dịch” (chỉ có một bản dịch cho một nguyên bản) rồi xem xét, đánh giá, sau đó chọn lấy các bản dịch hoàn hảo để làm thành một phần của bộ kinh Đại Bửu Tích, ví dụ: Hội 4, Tịnh Cư Thiên Tử, ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây-Tấn dịch; Hội 8, Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt, ngài Mạn Đà La Tiên đời Lương dịch; Hội 17, Phú Lâu Na, ngài Cưu Ma La Thập đời Hậu-Tần dịch; v.v…, loại này gồm có 8 hội (tức các hội 4, 8, 14, 17, 23, 26, 41, và 44).

Thứ đến ngài xem xét, đánh giá các bản “trùng dịch” (nhiều bản dịch khác nhau của cùng một nguyên bản) trong nhóm cựu dịch, chọn lấy bản hoàn hảo nhất của mỗi hội để làm thành một phần khác của bộ kinh Đại Bảo Tích, ví dụ: Hội 3, Mật Tích Kim Cương Lực Sĩ, do ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây-Tấn dịch, được chọn (sau đó, ngài Pháp Hộ đời Bắc-Tống cũng dịch kinh này với tên “Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa Kinh”, nhưng không được chọn); Hội 9, Đại Thừa Thập Pháp, do ngài Phật Đà Phiến Đa đời Bắc-Ngụy dịch, được chọn (sau đó, ngài Tăng Già Bà La đời Lương cũng dịch kinh này với tên “Đại Thừa Thập Pháp Kinh”, nhưng không được chọn); Hội 38, Đại Thừa Phương Tiện, do ngài Trúc Nan Đề đời Đông-Tấn dịch, được chọn (trước đó, ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây-Tấn đã dịch kinh này với tên “Tuệ Thượng ồ Tát Vấn Đại Thiện Quyền Kinh”, và sau đó, ngài Thi Hộ đời Bắc-Tống cũng dịch kinh này với tên “Đại Phương Quảng Thiện Xảo Phương Tiện Kinh”, đều không được chọn); v.v…, loại này gồm có 15 hội (tức các hội 3, 9, 12, 15, 16, 18, 19, 32, 33, 36, 38, 39, 43, 46, và 47). Cả hai loại trên gồm có 23 hội, làm thành phần “cựu dịch” của bộ kinh Đại Bảo Tích.

Kế tiếp, cũng từ trong số các bản kinh đã dịch cũ ấy, bản nào thấy không hài lòng thì chính ngài dịch mới lại, ví dụ: Hội 1, Tam Luật Nghi, trước đây ngài Đàm Vô Sấm đời Bắc-Lương đã dịch với tên “Đại Phương Quảng Tam Giới Kinh”, nay ngài dịch mới lại; Hội 5, Vô Lượng Thọ Như Lai, trước đây ngài Chi Lâu Ca Sấm đời Hậu-Hán đã dịch với tên “Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh”, rồi ngài Khương Tăng Khải đời Tào- Ngụy cũng đã dịch với tên “Vô Lượng Thọ Kinh”, đồng thời ngài Chi Khiêm ở đời Ngô cũng dịch với tên “A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo Kinh”, tiếp đó ngài Pháp Hiền đời Bắc-Tống cũng lại dịch với tên “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh”, nay ngài dịch mới lại; Hội 42, Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn, trước kia ngài An Thế Cao đời Hậu-Hán đã dịch với tên “Đại Thừa Phương Quảng Yếu Tuệ Kinh”, tiếp đó ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây-Tấn cũng đã dịch với tên “Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Bản Nguyện Kinh”, nay ngài dịch mới lại; v.v…. loại này gồm có 18 hội (tức các Hội 1, 5, 6, 10, 13, 21, 24, 25, 27, 28, 29, 30, 35, 37, 42, 45, 48, và 49). Thực ra, 18 hội này cũng thuộc về loại “trùng dịch”, nhưng vì do chính ngài dịch lại, hơn nữa, để phân biệt với nhóm “cựu dịch” trên kia, những hội này đã được xếp chung vào nhóm “tân dịch” (tức là do chính ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch).

Sau hết, 8 hội còn lại (tức các hội 2, 7, 11, 20, 22, 31, 34, và 40) là do ngài mới dịch lần đầu tiên. Cả hai loại sau (do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch lại và mới dịch lần đầu) gồm có 23 hội, làm thành phần “tân dịch” của bộ kinh Đại Bảo Tích.

Công việc này đã được khởi sự từ năm 706 (đời vua Trung-tông), đến năm 713 (đời vua Huyền-tông) thì hoàn mãn. Từ sau khi dịch xong bộ kinh Đại Bảo Tích này, ngài Bồ Đề Lưu Chí cũng chấm dứt sự nghiệp phiên dịch của mình, chuyên tập thiền quán, sớm tối trì tụng, kinh hành, trưởng dưỡng bồ đề tâm; cho đến năm 727 thì ngài viên tịch, thế thọ 156 tuổi.

Bộ kinh Đại Bảo Tích được thu vào Tạng Đại Chánh, quyển 11, mang số 310; có ghi rõ tên vị dịch sư của từng kinh (hội), như: Hội 1, Tam Luật Nghi (quyển 1-3), Bồ Đề Lưu Chí đời Đường dịch; Hội 4, Tịnh Cư Thiên Tử (tức Bồ Tát Thuyết Mộng Kinh, 2 quyển, 15-16), Trúc Pháp Hộ đời Tây-Tấn dịch; Hội 12, Bồ Tát Tạng (tức Đại Bồ Tát Tạng Kinh, 20 quyển, 35-54), Huyền Trang đời Đường dịch; Hội 19, Úc Già Trưởng Giả (tức Úc Già Trưởng Giả Sở Vấn Kinh, quyển 82), Khương Tăng Khải đời Tào-Ngụy dịch; v.v…

Về nội dung, kinh Đại Bảo Tích chứa đựng đủ các pháp môn chủ yếu của giáo pháp đại thừa, phạm vi thật là rộng rãi. Kinh gồm 49 hội, mà mỗi hội là một bộ kinh, với một chủ đề riêng. Ví dụ: Hội 3, Mật Tích Kim Cương Lực Sĩ (tức Mật Tích Kim Cương Lực Sĩ Kinh, ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây-Tấn dịch), xiển dương giáo nghĩa Mật giáo; Hội 5, Vô Lượng Thọ Như Lai (ngài Bồ Đề Lưu Chí đời Đường dịch), tuyên thuyết về tín ngưỡng Di Đà Tịnh Độ; Hội 46, Văn Thù Thuyết Bát Nhã (tức Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh, ngài Mạn Đà La Tiên đời Lương dịch), nêu lên tư tưởng bát nhã tánh không; v.v… Mặt khác, cả 49 hội đó cũng thuộc nhiều bộ loại khác nhau, như: Hội 1 (Tam Luật Nghi) và Hội 23 (Ma Ha Ca Diếp) thuộc về Luật bộ; Hội 14 (Phật Thuyết Nhập Thai Tạng) thuộc Tiểu Thừa bộ; Hội 46 (Văn Thù Thuyết Bát Nhã) thuộc Bát Nhã bộ; Hội 47 (Bảo Kết Bồ Tát) thuộc Đại Tập bộ; v.v… Bởi vậy, nếu xét về toàn thể thì kinh Đại Bảo Tích không có một nội dung nhất quán.

Bộ kinh này đã được hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch ra Việt văn với tên “Kinh Đại Bảo Tích”, gồm có 9 tập, in lần đầu tiên từ năm 1987, đến năm 1989 thì xong; và in lần thứ nhì từ năm 1993, đến năm 1999 thì xong. Đặc biệt, bản dịch Việt ngữ này, ngoài 49 hội của bộ kinh Đại Bảo Tích Hán văn, hòa thượng dịch giả còn sưu tầm trong Đại Tạng để dịch thêm 13 hội nữa, thành ra, bộ kinh Đại Bảo Tích, bản Việt dịch của hòa thượng Thích Trí Tịnh có đến 62 hội. Về điều này, chính hòa thượng dịch giả đã cho biết: “Nội dung bộ Đại Bửu Tích Hán văn đến pháp hội Quảng Bác Tiên Nhơn là hết, nhưng hết với nửa chừng. Trong bộ Việt văn nầy, tôi sưu tầm trong Đại tạng, bổ sung phần cuối trọn vẹn cho pháp hội nầy. Và cũng từ Đại tạng tôi dịch thêm pháp hội Diệu Cát Tường Bồ Tát. Tiếp theo đó, nếu các pháp hữu thấy pháp hội nào có câu đức Phật ngự tại giữa khoảng cõi Dục và cõi Sắc trong Đại Bửu Phường Đình thì đó chính là kinh Đại Tập. Cũng từ trong Đại Tạng, tôi phiên dịch thêm pháp hội Vô Tận Ý Bồ Tát nối sau bộ kinh Đại Tập Hán văn đã lưu hành và để kết thúc toàn bộ kinh Đại Bửu Tích Việt văn, tôi đặt pháp hội Quán Vô Lượng Thọ Phật.” (Kinh Đại Bảo Tích, tập 9, Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch, bản in năm 1999, trang 809.)

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2021

Tuyển tập các bài tán tụng





Tuyển tập các bài tán tụng

Chương 1: Tẩy Uế

Chương 2: Cúng Dường

Chương 3: Tán Nhật

Chương 4: Tán Bồ-tát

Chương 5: Tán Cúng Tổ

Chương 6: Cúng Giác Linh

Chương 7: Tán Thần, Thánh

Chương 8: Cúng Hương Linh



CHƯƠNG MỘT: TẨY UẾ
Dương Chi

Dương chi tịnh thủy,

Biến sái tam thiên.

Tánh không bát đức lợi nhơn thiên.

Pháp giới quảng tăng diên,

Diêt tội tiêu khiên.

Hỏa diệm hóa hồng liên.

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát.
Tào Khê Thủy

Tào khê thủy, nhứt phái hướng Đông lưu,

Quan Âm bình nội trừ tai cửu.

Đề hồ quán đảnh địch trần cấu,

Dương chi sái xứ nhuận tiêu khô.

Yết hầu trung cam lộ, tự hữu quỳnh tương thấu,

Yết hầu trung cam lộ, tự hữu quỳnh tương thấu.

Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát.
Nhứt Sái

Nhứt sái Đông phương linh ly cấu,

Nhị sái bát nạn cập tam đồ

Tam sái tứ chúng dự nhơn thiên

Tứ sái đàn tràng tất thanh tịnh

Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát.
Bồ Tát

Bồ Tát liễu đầu cam lộ thủy,

Năng linh nhứt đích biến thập phương.

Tinh chiên cấu uế tận quyên trừ,

Phổ sái pháp diên thường thanh tịnh.

Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát.
Bình Trung

Bình Trung Cam Lồ Như Lai trí,

Yếu khứ trần lao bất tịnh thân.

Ngã kim khất thủ Chúng trung tôn,

Phổ sái pháp diên thường thanh tịnh.

Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát.
Nhứt Đích Thanh Lương

Nhứt đích thanh lương hàm tế nguyệt

Thập phương vũ lệ tẩm ba đào.

Kim tướng nhất trích sái đàn tràng

Cấu uế tinh chuyên tất thanh tịnh.

Nam mô Cam Lô Vương Bồ Tát.

CHƯƠNG HAI: CÚNG DƯỜNG
Tán Lư Hương

Lư hương sạ nhiệt,

Pháp giới mông huân.

Chư Phật Hải Hội tất diêu văn,

Tùy xứ kiết/kết tường vân.

Thành ý phương ân,

Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát
Chiên Đàn

Chiên đàn hải ngạn,

Lư nhiệt danh hương.

Da Du tử mẫu lưỡng vô ương,

Hỏa nội đắc thanh lương.

Chí tâm kim tương

Nhứt chú biến thập phương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát.
Diêu Thiên

Diêu thiên nguộc (ngọc) lộ,

Giác hải kim ba

Đại thiên sa giới sái phân đà

Tam muội địch trần sa (trầm kha)

Thiểu thủy thành (thần) đa

Nhứt đích tịnh sơn hà

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát.
Tâm Nhiên

Tâm nhiên ngũ phận,

Phổ chiếu thập phương.

Hương yên đồng tử ngộ chơn thường,

Tỷ quán thiệt nan lương.

Thoại ái tường quang.

Kham hiến Pháp Trung Vương.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.
Hương Tài

Hương tài nhiệt, lư phần bảo đảnh trung,

Chiên đàn trầm nhũ chơn kham cúng,

Hương yên liểu nhiểu liên hoa động.

Chư Phật Bồ Tát hạ thiên cung,

Thiên thai sơn La hán.

Lai thọ nhơn gian cúng,

Thiên thai sơn La Hán

Lai thọ nhơn gian cúng

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.
La Liệt

La liệt hương hoa kiến bảo đàn,

Trùng trùng Phật cảnh nhứt hào đoan.

Tâm dung diệu lý hư không tiểu,

Đạo khế chơn như pháp giới khoan.

Tướng hảo từ bi thu nguyệt mãn,

Hóa thân đằng vận (xứ) mộ vân phồn. (phiền)

Hương yên đôi lý chiêm ứng hiện,

Vạn tượng sum (sâm) la hải ấn hàm.
Giới Định

Giới định chơn hương,

Phần khởi xung thiên thượng.

Tín chủ (Đệ tử) kiền thành,

Nhiệt tại kim lô phóng,

Khoảnh khắc phân vân.

Tức biến mãn thập phương,

Tích nhựt Da Du.

Miễn nạn tiêu tai chướng

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát
Trầm Nhũ/nhụ

Trầm nhũ/nhũ chiên đàn giá mạc luân,

Kim lô (Hương yên) tài nhiệt phún tường vân.

Nhân huân (Nhơn ôn) biến triệt tam thiên giới,

Vi thoại vi tường đạt Thế Tôn.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát.
Hương Phần

Hương phần tại thượng phương,

Tại ngoại kim lô phóng.

Nội hữu liêu nhiểu thanh yên

Da Du dương

Phụng hiến Điều Ngự tiền.

Như Lai Phật Đà Da Lưỡng Túc Tôn

Hoa quải tại tịnh bình

Đằng đằng tự diện khai

Nội hữu đa đa hinh hương

Diệu âm dương

Phụng hiến Điều Ngự tiền

Như Lai Đạt Ma Da ly dục tôn

Đăng trí huệ huy hoàng

Đăng quang phổ chiếu nhiên

Nội hữu sắc sắc tánh không

Diệm huệ địa

Phụng hiến Điều Ngự tiền

Như Lai Tăng Dà Da chúng trung tôn

Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát.
Hương Vân

Hương vân nhi bố

Thánh đức chiêu chương

Bồ đề tâm quãng mạc năng lường

Xúc xứ phóng hào quang

Vi thoại vi tường

Ngưỡng khởi Pháp Trung Vương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát.
Bảo Đảnh

Bảo đảnh nhiệt danh hương,

Phổ biến thập phương.

Kiền thành phụng hiến Pháp Trung Vương,

Đoan vị chúc quốc dân vạn an.

Địa cửu thiên trường. (2 lần)

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát.
Bảo Đảnh 2

Bảo đảnh nhiệt danh hương

Phổ biến thập phương.

Kiền thành phụng hiến Pháp Trung Vương,

Đoan vị thế giới chúc hòa bình.

Địa cửu thiên trường. (2 lần)

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát.
Cơ Tải

Cơ tải minh đồ,

Trạm tịch thăng trầm chi lộ.

Vị minh bách niên giai lão,

Hiếu niệm bàng hoàng,

Sơn hà chi ân vị báo.
Nhơn Duyên

Nhơn duyên tự tánh sở xuất sanh,

Sở hữu chưởng chưởng vi diệu

Hoa hương đăng đồ quả nhạo (nhạc)

Phụng hiến Thượng Sư Tam Bảo Tôn.

Duy nguyện từ bi ai nạp thọ.

Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Giới Hương

Giới hương, Định hương, dữ Huệ hương,

Giải thoát, giải thoát, tri kiến hương.

Quang minh vân đài biến pháp giới

Cúng dường Thập phương Vô Thượng Tôn.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.

(Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát)
Đăng Hoa

Vu kim chúng thướng sổ đăng hoa,

Phất phất hương phù mãn Phật gia.

Chiếu hướng huy hoàng quang nhật nguyệt,

Nhiên lai xán lạn diệu sơn hà,

Thần điều ngọc chúc kim ngân đổ.

Thế ngưỡng ninh thiên thảo mộc hoa,

Đệ nhất giang sơn chân hảo cảng.

Vu kim chúng thướng sổ đăng hoa.
Hương Phù

Hương phù tại thượng phương,

Thụy ái kim lư phóng.

Nội hữu liêu nhiễu thanh yên.

Già Khư Vương phụng hiến điệu Phật tiền.

Như Lai Phật Đà Gia Lưỡng Túc Tôn.
Hoa Quả

Hoa quả tại tịnh bình,

Đằng đằng tứ diện khai.

Nội hữu đóa đóa lưng hương,

Diệu Âm Vương phụng hiến điện Phật tiền.

Như Lai Đạt Ma Gia Ly Dục Tôn.
Trí Đăng

Đăng trí tuệ huy hoàng,

Đằng quang phổ chiếu quang.

Nội hữu sắc sắc tính không,

Diễm Tuệ Địa phụng hiến điệu Phật tiền

Như Lai Tăng Già Gia Chúng Tăng Tôn.
Thiên Trù

Thiên trù cúng,

Tô đà tối hậu lai.

Cơ xang ma mạch sung bì đại,

Tiên nhơn hữu hiến trai thực thoại.

Song song mục nữ hiến huơng mê,

Tứ Thiên Vương phụng (bổng) bát.

Diêu Vọng Linh Sơn bái,

Tứ Thiên Vương phụng bát

Diêu Vọng Linh Sơn bái.

Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Ngã Kim

Ngã kim phụng hiến cam lồ vị,

Lưỡng đẳng Tu Di vô quá thượng.

Sắc hương mỹ vị biến hư không

Duy nguyện từ bi ai nạp thọ.

Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Thuyền Duyệt

Thuyền duyệt tô đà,

Tạo xuất thiên trù cúng

Thành đạo đương sơ

Mục nữ tiền lai tống

Lão mẫu tặng tương

Thác tại kim bàng phụng

Hiến thướng Như Lai

Hiền Thánh vô biên chúng

Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Thiên Trù Năng Trừ

Thiên trù năng trừ cơ

Thiên trù tứ vị tu

Bát cái thế gian chuyển

Minh chiếu quang thược thước

Thiên nữ hiến thiên y

Phổ cúng dường Như Lai tọa

Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ Tát.







CHƯƠNG BA: TÁN PHẬT
Đại Từ Di Đà

Đại từ Di Đà Phật,

Đại bi Bồ Tát Tăng.

Tiếp dẫn chúng sanh,

Thượng phẩm thượng sanh.

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung

Cửu phẩm Liên Hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh.

Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.

Nam mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát.
Thiên Bách

Thiên bách ức hóa thân,

Trung thiên giáo chủ,

Thích Ca Phật.

Vô ngã tướng

Vô nhơn tướng

Vô chúng sanh tướng

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Di Lặc Phật

Long Hoa tam hội nguyện,

Tưởng y y thất.

Di Lặc Phật,

Tam Đại Thừa,

Tam Trung Thừa,

Tam tối thượng thừa.

Nam mô Đương Lai Di Lặc Phật.
Di Đà

A Di Đà Phật Vô thượng Y Vương

Nguy nguy kim tướng phóng hào quang.

Khổ hải tác châu hàng

Cửu phẩm liên bang,

Đồng nguyện vãng Tây phương

Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát.
Bát Thập Bát Phật

Bát thập bát Phật,

Thích Ca Mâu Ni,

Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri

Thập hiệu giai cụ túc

Trượng Phật oai lực

Thoát khổ sanh Đao Lợi

Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát.
Tứ Bát Đoan Nghiêm

Tứ bát đoan nghiêm vi diệu tướng,

Tăng kỳ quã mản kiếp tu lai.

Diện như mãn nguyệt mục như liên,

Thiên thượng nhơn gian hàm củng thủ.
Phật Diện

Phật diện do như tịnh mãn nguyệt,

Diệc như thiên nhựt phóng quang minh,

Viên quang phổ chiếu ư thập phương.

Hỷ xả từ bi giai cụ túc.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật Thân

Phật thân hoàng diệu (thanh tịnh) tợ lưu ly

Phật diện do như mãn nguyệt huy

Phật tại thế gian thường cứu khổ

Phật tâm vô xứ bất từ bi.

Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.
Thiên Thượng

Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,

Thập phương thế giới diệc vô tỷ.

Thế gian sở hữu ngã tận kiến.

Nhứt thiết vô hữu như Phật giã.
Phật Từ

Phật từ quảng đại,

Cảm ứng vô sai.

Tịch quang tam muội biến hà sa,

Nguyện bất ly Già da,

Giáng phước trai gia.

Kim địa dõng liên ba.
Khể Thủ Qui Y

Khể thủ qui y Phật,

Tam giới vô lai khứ.

Tam thừa quả,

Ngũ vị tu.

Tam viên mãn Phật tam thập nhị tướng.

Tử ma kim dung,

Bát thập chủng hảo tùng hình.

Thế gian vô,

Nguy nguy vạn đức Phật Đà Gia.
Phật Qui Linh Thứu

Phật Qui Linh Thứu,

Pháp nhập Long cung.

Thinh văn La Hán chuyển sơn trung.

Liệt vị thượng huyền cung.

Thắng sự Châu (Chu) Long,

Tứ phước vĩnh vô lao.

Nam mô Đằng Vân Lộ.
Đạo Tràng

Đạo tràng hoàn mãn tạ Như Lai,

Chư Phật qui không tọa bửu đài.

Bồ Tát Bích Chi qui Đẩu Suất,

Thanh Văn La Hán chuyển Thiên Thai.
Phúng Kinh

Phúng kinh công đức thù thắng hạnh,

Vô biên thắng phước giai hồi hướng.

Phổ nguyện trầm nịch chư hữu tình,

Tốc vãng Vô Lượng Quang Phật sát.
Tây Phương

Tây phương giáo chủ,

Tịnh độ Năng nhơn.

Tứ thập bát nguyện độ quần sanh.

Phát nguyện thệ hoằng thâm.

Thượng phẩm thượng sanh

Đồng nguyện bảo liên thành.
Lạc Bang

Lạc bang giáo chủ,

Tiếp dẫn Di Đà.

Tứ thập bát nguyện độ Ta Bà.

Cửu phẩm dõng kim ba

Bảo võng giao la.

Chúng sanh xuất ái hà.
Liên Trì

Liên trì hải hội Phật

Tây phương giáo chủ Di Đà Phật.

An dưỡng quốc Cực Lạc giới

Di Đà Hải hội.

Nam mô Tây Phương Di Đà Phật.
Tử Kim

Tử kim nghiêm tướng diệu nan lương,

Vĩnh kiếp thường cư Cực Lạc Bang.

Nhứt đích dương chi tiêu nhiệt não,

Bát công đức thủy ẩm thanh lương.
Phật Thùy

Phật thùy kim thủ phóng hào quang.

Tiếp dẫn vãng Tây phương,

Phật thùy kim thủ phóng hào quang

Đồng nguyện vãng Tây phương.
Xá Lợi

Xá lợi lai thời tức Phật lai,

Tường quang phổ chiếu nhuận trần ai.

Vô duyên bất xả mê đồ khổ.

Thí mãn nhơn gian bảo pháp tài.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Lạp Nguyệt

Lạp nguyệt bát nhựt,

Giác đế dương linh,

Bồ đề tràng nội đạo sơ thành.

Dạ bán đổ minh tinh,

Phổ cứu mê tình,

U ám tất quang minh.

Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Lục Niên

Lục niên khổ hạnh Thích Ca Tôn,

Ca Diếp hân hoan diệu lý chơn.

( Ca Diếp A Nan Vạn Lý Chơn)

Tùng thử Linh Sơn đăng bỉ ngạn,

Nhứt chi ngũ diệp lợi nhơn thiên.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

(Nam mô Độ Nhơn Sư Bồ Tát)
Ngưỡng Nguyện

Ngưỡng nguyện Bổn Sư Vô Lượng Thọ,

Quan Âm Thế Chí Thánh Hiền Tăng

Đồng triển oai quang phủ chiếu lâm,

Cộng tứ minh gia giai đắc cứu.
Đại Từ Bi

Đại từ bi phụ,

Vô Thượng Y vương,

Vị lâm bệnh pháp tánh chơn thường.

Thọ mạng thật nan lường.

Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Không Hoa

Không hoa tùy vũ lộng,

Huyễn ế nhậm triền miên.

Bát nhã phong lai tảo,

Cô nguyệt hiện đương thiên.
Tọa Bồ Đề

Tọa Bồ Đề tòa,

Đại phá ma quân.

Nhứt đổ minh tinh đạo thành,

Giáng pháp lâm.

Tam Thừa chúng đẳng qui tâm,

Vô sanh dĩ chứng

Hiện tiền chúng đẳng qui tâm.

Vô sanh tốc chứng.
Cửu Long

Cửu long phún thủy,

Mộc dục kim thân,

Thiên thượng thiên hạ độc vi tôn,

Thất bộ bảo liên sanh.

Oai đức quang minh,

Pháp giới vĩnh triêm ân.

Nam mô Cát Tường Hội Bồ Tát.
Tứ Hoằng

Tứ hoằng phổ bị,

Vạn đức công viên.

Cao siêu thập địa viết tam hiền,

Quá hải nghịch lưu truyền

Bi nguyện di kiên.

Tiếp vật lợi nhơn thiên.
Tam Bảo

Khể thủ qui y huỳnh kim tử ma thân,

Nguy nguy trượng lục tướng,

Tam giới bảo năng nhơn,

Phật Đà Da,

Tam giới bảo năng nhơn.

Thanh tịnh pháp thân Phật,

Viên mãn bảo thân Phật,

Thiên bách ức hóa thân,

Thích Ca Mâu Ni Phật,

Thập phương Tam thế nhứt thiết Phật.

Qui y thường trụ Phật Đà Da.

Khể thủ qui y hà sa kinh tạng khai,

Ngũ thiên tứ thập bát quyển,

Quyển hựu Như Lai,

Đạt Ma Da quyển,

Quyển hựu Như Lai.

Đông Phương A Súc Phật,

Nam Phương Bảo Tướng Phật,

Tây Phương Di Đà Phật,

Bắc Phương Thành Tựu Phật,

Trung Ương Tỳ Lô Giá Na Phật.

Qui y thường trụ Đạt Ma Da.

Khể thủ qui y thường điểm vô tận đẳng,

Viên đảnh phương bảo tướng,

Chiêm lễ phước điền tăng,

Tăng già da, chiêm lễ phước điền tăng.

Văn Thù Đại Bồ Tát,

Phổ Hiền Vương Bồ Tát,

Quan Thế Âm Bồ Tát,

Đại Thế Chí Bồ Tát,

Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Qui y thường trụ Tăng Già Da.

Nam mô Cam Lộ Vương Bồ Tát.
Tam Bảo

Khể thủ qui y Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo Từ Tôn,

Cấp cô trưởng giả Xá kỳ viên

Bố mãn kim tiền.

Thiện tài đồng tử ngũ thập tam tham.

Siêu sanh tử, độ linh tảo vãng Tây phương,

Nhược nhơn qui y Phật, Pháp, Tăng

Tam Bảo bất đọa tam đồ.
Lễ Thỉnh (An Vị)

Lễ thỉnh Thượng Sư Tam Bảo Tôn,

Bồ Tát oai linh Kim Cang thần.

Liệt vị Thanh (Thinh)Văn Chư La Hán,

Đồng phó pháp diên giai kiền cúng.
Quán Bỉ (Vía Di Đà)

Quán bỉ Di Đà cực lạc giới,

Quảng đại khoan bình chúng bảo thành.

Tứ thập bát nguyện trang nghiêm khởi,

Siêu chư Phật sát tối vi tinh,

Phổ khuyến qui Tây đồng bỉ hội.

Hằng sa tam muội tự nhiên thành.

Bổn Sư A Di Đà Phật.
Lạc Bang

Lạc bang giáo chủ,

Y chánh trang nghiêm,

Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh

Thượng phẩm thượng sanh,

Đồng phú bảo liên thành.

Nam mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát.
Pháp Thân (Vía Di Lặc)

Pháp thân thị hiện,

Lâu các trùng khai.

Long hoa tam hội vận từ bi,

Quảng độ xuất trần ai,

Khể thủ liên đài.

Bổ xứ tại đương lai.

Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.
Dược Sư

Dược Sư hải hội,

Lưu ly tướng quang,

Bát đại Bồ Tát giáng cát tường,

Thất Phật quảng tuyên dương

Nhựt nguyệt oai quang,

Công đức thật nan lường.

Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
Chuẩn Đề (Vía Chuẩn Đề)

Khể thủ qui y Tô Tất Đế,

Đầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi.

Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề,

Duy nguyện từ bi thùy gia hộ (ai nhiếp thọ).

Nam mô Chuẩn Đề Vương Bồ Tát.
Tướng Hảo (Vía Chuẩn Đề)

Tướng hảo từ bi thu nguyệt mãn,

Hóa thân đằng vân mộ vân phiền (phồn).

Hương yên đôi ly chiêm ứng hiện,

Vạn tượng đằng huy diệu chúc lư.
Phật Nhiếp

Phật nhiếp kim liên hạ Thứu Phong,

Pháp khai Bảo tạng ly Long Cung.

Tăng tùng nội uyển biệt thuyền định

Tam Bảo lâm đàn pháp hội đồng.

Nam mô Khai Bảo Tạng Bồ Tát.

(Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo)
Phật Nhiếp

Phật nhiếp kim liên hạ Thứu Phong,

Thiện Tài tham lễ giác thành đông.

Liên hoa tạng giới phi vô lộ,

Đâu suất đà thiên biệt hữu cung.

Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.
Thích Ca

Bồ Tát hạ vân trung,

Giáng sanh Tịnh Phạn Vương cung.

Ma Da hữu hiếp miễn kim đồng,

Thiền nhạc tấu trường không.

Mục cố tứ phương chu thất bộ.

Chỉ thiên chỉ địa tôn hùng.

Cửu long phún (thổ) thủy mộc từ dung.

Vạn pháp đắc chánh tông. (trùng vĩ)
Dục Phật

Diệu tâm trực chỉ,

Nghĩa học phu dương.

Mộc xoa bảo chứng khế chơn thường,

Xã kết bạch liên hương

Giáo thiết đa phương,

Nhứt lộ lập thanh lương.

Nam mô Viên Giác Địa Bồ Tát.
Nhứt Bát

Nhứt bát thiên gia phạn,

Cô thân vạn lý du.

Chỉ vị sanh tử sự,

Giáo hóa độ xuân thu.
Ngũ Phương

Đông phương A-Súc-Phật,

Nam phương Bảo Tướng Phật,

Tây phương Di Đà Phật,

Bắc phương Thành Tựu Phật,

Trung Ương Tỳ Lô Giá Na Phật.
Thánh Đức Tùng Không

Thánh đức tùng không lai giáng hạ,

Chư Phật Bồ Tát hiện lai lâm.

Bảo tràng sa giá mãn trần hoàn,

Cảm hà oai linh an bảo tọa.

Đăng Bảo Tọa Bồ Tát.
Hoàn Kinh

Hồi hướng lương duyên tam thế Phật,

Văn Thù Phổ Hiền, Quán Tự Tại.

Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
Tống Thánh

Phật Qui Linh Thứu,

Xuất nhập Long cung.

Thinh văn La Hán chuyển sơn trung.

Liệt vị hoàn kinh,

Thắng sự Châu Long.

Tứ phước vĩnh vô cùng.

Nam mô Đằng Vân Lộ Bồ Tát.
Lễ Thích Tôn

Xướng:

Tán lễ thích tôn,

Vô thượng năng nhơn,

Tăng kỳ cửu viễn tu chơn,

Đẩu suất giáng trần,

Trường từ bửu vị Kim luân.

Cử tán:

Tọa bồ đề tòa,

Đại phá ma quân,

Nhất đổ minh tinh đạo thành.

Giáng pháp lâm

Tam thừa chúng đẳng qui tâm,

Vô sanh dĩ chứng

Hiện tiền chúng đẳng qui tâm,

Vô sanh tốc chứng

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Khể Thủ

Khể thủ khể thủ qui y Phật,

Phật tại kỳ cô viên.

Kỳ cô viên thuyết pháp

Thuyết pháp lợi nhơn thiên.

Nam mô Chân Như Phật Già Gia.

Khể thủ khể thủ qui y Pháp,

Pháp bảo Ly Long cung

Long cung thu nguyệt hiện,

Nguyệt hiện xuất luân minh.

Nam mô Pháp Bảo Đạt Ma Gia.

Khể thủ khể thủ qui y Tăng,

Tăng tâm tự thủy thanh,

Thủy thanh khai bảo tạng.

Bảo tạng tụng lương hàm.

Nam mô Phúc Điền Tăng Già Gia.

Tự qui y Phật,

Đương nguyện chúng sanh

Thể giải đại đạo

Phát vô thượng tâm

Tự qui y Pháp,

Đương nguyện chúng sanh

Thâm nhập kinh tạng

Trí huệ như hải

Tư qui y Tăng,

Đương nguyện chúng sanh

Nhứt thiết vô ngại

Hòa Nam Thánh Chúng.
Khể Thủ Tây Phương

Khể thủ Tây Phương An Lạc Quốc,

Tiếp dẫn chúng sanh Đại Đạo Sư.

Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh,

Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.

Nam mô Liên Trì Hãi Hội Phật Bồ Tát.

(Nam mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát)







CHƯƠNG BỐN: TÁN BỒ TÁT
Quan Âm Linh Cảm

Quan Âm Linh Cảm phú đạo tràng,

Trừ tam tai, miễn bát nạn,

Hộ quốc nhơn vương giáng cát tường,

Hộ quốc nhơn vương giáng cát tường,

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Địa Tạng

Địa Tạng Thập Vương khởi ai lân,

Yết/Kiết án tiêu danh nạp thiện duyên.

Hương linh tu trượng Như Lai giáo.

Nguyện bằng Phật/pháp lực phán sanh thiên

(vãng Tây phương).

Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

(Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát)
Quan Âm Bồ Tát

Quan Âm Bồ Tát đại thần thông.

Thủ chấp dương chi quá hải đông.

Quan Âm năng cứu thế gian khổ,

Nguyện độ hương hồn vãng thiên cung.
Vi Đà Thiên Tướng

Vi Đà Thiên Tướng diệu đường đường,

Thân phi kim giác hiển oai quang.

Khai hóa tam châu hưng mật dụng,

Tồi tà phụ chánh hộ đạo tràng.

Nam mô Phổ Nhân Hoàng Bồ Tát.
Phổ Đà

Phổ Đà Lạc Gia thường nhập định,

Tùy duyên phú cảm mỵ bất châu,

Tầm thanh cứu khổ độ quần mê

Thị tắc danh vi Quán Tự Tại.
Hải Chấn

Hải chấn triều âm thuyết Phổ môn,

Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn.

Dương Chi nhứt đích chơn cam lồ,

Tan tác sơn hà đại địa xuân.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Thiện Tài Đồng Tử

Thiện Tài đồng tử,

Ngũ thập tam tham,

Siêu sanh tử độ vong (cô, hương) hồn,

Tảo vãng Tây phương

Nhược nhơn quy y

Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo

Bất đọa tam đồ.

Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát (3 lần)
Thần Thông

Thần thông du hý,

Hóa đạo vô duyên.

Từ bi phổ tế bạt thân uyên,

Giác để quảng hoằng truyền

Diệu dụng chiêu nhiên

Đốn chứng tể kim tiên
Quang Minh

Quang minh chính đại,

Cảm ứng đạo giao.

Thần tư minh phước nghiệp băng tiêu,

Phật nhựt vĩnh chiêu chiêu,

Lợi ích phong nhiêu,

Tán thán quả cao siêu.
Thập Nhị Dược Xoa

Thập nhị Dược Xoa,

Trợ Phật tuyên hoằng.

Ngũ sắc thể lủ kết kỳ danh.

Tùng nguyện tất viên thành

Oan nghiệp băng thanh

Phước thọ võng khương ninh.
Quan Âm

Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù,

Thanh tịnh trang nghiêm lụy kiếp tu,

Thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng,

Khổ hải thường tác độ nhơn châu.

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Bồ Tát Văn Thù (Vía Văn Thù)

Tích cư ngũ đảnh,

Thân pha thanh sư,

Từ vân phổ phú pháp vũ thi.

Diệu diễn tỳ gia ly,

Thất thập chi sư,

Phổ hóa đáo kim thời.

Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Sát Trần (Vía Phổ Hiền)

Sát trần tâm niệm khả sổ tri,

Đại hải thủy trung khả ẩm tận.

Hư không khả lượng phong khả kế,

Vô năng thuyết tận Phật Công Đức.
Phổ Hiền

Phổ Hiền hạnh nguyện,

Phước tu vô biên,

Như thị trí huệ hiệu Phổ Hiền,

Nhứt thiết tất giai viên,

Vạn đức trang nghiêm,

Lợi ích biến nhơn thiên.
Thủ Trì (Vía Quan Âm)

Thủ trì dương chi,

Đảnh đới Nhu Lai,

Già phu liên tọa bảo liên đài,

Cứu khổ thậm bi ai,

Nhứt niệm năng hồi,

Vô lượng từ môn khai.

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Địa Tạng (Vía Địa Tạng)

Địa tạng Đại Sĩ thệ nguyện hoằng thâm,

Minh châu chiêu phá thoát vi thành.

Kim tích chấn u minh,

Lễ tượng xưng danh,

Sa giới bố dương xưng.

Nam mô Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Trí Huệ

Trí huệ hoằng thâm đại biện tài,

Đoạn cư ba thượng tuyệt trần ai.

Tường quang thước phá thiên sanh bệnh,

Cam lồ năng trừ vạn kiếp tai,

Túy liễu phất khai kim thế giới,

Hồng liên dõng xuất ngọc (nguộc) lâu đài,

Ngã kim khể thủ phần hương tán,

Nguyện hướng nhơn gian ứng hiện lai.

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Chưởng Ốc

Chưởng ốc minh châu quang bất muội,

Thủ trì kim tích nạp thiện duyên.

Tam đồ ngục nội bố tứ vân,

Ngũ thú ba trung trình cao trạo.

Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát,

Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát,

Đại Sĩ Diện Nhiên Vương Bồ Tát.
Ốc Tiêu

Lễ thỉnh Ốc Tiêu Diện Nhiên Vương,

Quan Âm Bồ Tát hiện chơn hình,

Thống lãnh cửu u linh vạn loại.

Phó hội đàn tràng đắc sanh thiên.

Nam mô Diện Nhiên Vương Bồ Tát.
Diện Nhiên

Diện Nhiên Đại Sĩ,

Bồ Tát hóa thân,

Ốc Tiêu Sơn hạ hiện chơn hình,

Kình phá Thiết Vi thành,

Đới lãnh cô hồn,

Bảo mãn tận siêu thăng

Nam mô Diện Nhiên Vương Bồ Tát.
Quan Âm Đại Sĩ

Quan Âm Đại Sĩ,

Phổ hiệu viên thông.

Thập nhị đại nguyện thệ hoằng thâm,

Khổ hải tầm thanh,

Vô sát bất hiện thân.

Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.
Quan Âm

Quan Âm Đại Sĩ đức tướng nguy nguy

Thiên thủ thiên nhãn độ quần mê

Nguyện hải tiêu nạn an

Pháp giới phổ quang nguyên.
Thập Nhị Dược Xoa

Thập nhị Dược Xoa Đại Tướng,

Trợ Phật tuyên hoằng,

Ngũ sắc tuyệt số kết trì danh,

Tùy nguyện tất viên thành.

Oan nghiệp băng thanh.

Phước thọ vĩnh khương ninh.

Nam mô Dược Sư Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Thượng Như Sơn Điện

Thượng như sơn điện,

Túc cảm hà sa,

Thanh tuyền nhứt ước ấn tiêu sa.

Bố dĩ hậu … lân,

Mê thuật vi ám

Ba vạn cổ tuyền ân.
Tây Trúc

Tây trúc cửu lũng,

Hữu bí kỳ tuyền.

Khuyết danh tam muội nghịch oan khiên.

Ca khởi chơn nguyện,

Thanh tịnh thông huyền.

Kỳ pháp quảng lưu chuyên.
Giám Trai

Giám trai sứ giả,

Hỏa bộ oai thành,

Điều hòa bách vị tiếu duy linh

Tai họa vĩnh vô xâm.

Hộ mạng từ thân.

Thanh chúng vĩnh an ninh.
Niêm Hoa

Niêm hoa ngộ chỉ,

Tổ đạo sơ hưng.

Miên diên tử thất diễn chơn thừa,

Lục đạo vĩnh truyền đăng.

Dịch diệp trượng thừa

Chánh pháp vĩnh ninh

Hộ nhơn sư Bồ Tát.
Tử Trúc

Tử trúc lâm trung Quan Tự Tại,

Thân cư gian thượng Phổ Đà phong.

Túc đạp hồng liên thiên diệp nộn,

Thủ trì dương liễu nhất chi xuân.
Đông Tây

Đông Tây Nam Bắc Tứ bộ châu,

Bá thiên sát độ diệt nan thù.

Tu di ảnh thượng an cung điện

Đại địa sơn hà thoát khổ thu (thú).

Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tối Thắng

Tối thắng trang nghiêm Tự Tại Vương,

Như Lai giao diễn thị chơn thừa,

Kích kim chiếu phá kinh hoàng khố

Diệm khẩu lôi oanh thị Diện Nhiên.

Nam mô Diện Nhiên Vương Bồ Tát.







CHƯƠNG NĂM: TÁN CÚNG TỔ
Sư dung

Sư dung kim ích mạo,

Huệ mạng ký hằng xương.

Nhứt phái Tào Khê thủy,

Thiên thu đạo mạch trường.
Thanh Tịnh

Thanh tịnh bảo diêu trì,

Đản địch hôn mê.

Dưong chi sái xứ nhuận tiêu khô,

Năng dự chúng sanh tiêu nhiệt não

Bất đọa nê lê.

Nam mô Thanh Tịnh Địa Bồ Tát.
Thuyền Thất

Thuyền thất đăng thâu diệm,

Kinh song nguyệt ảnh lung.

Nhứt triêu hề chích lý,

Thiên tải mích vô tung. (trùng vĩ)
Kim Tích (Loại: Cúng Tổ)

Kim tích thuyền trượng thất,

Ngọc ấm tuyệt thuyền đường,

Cuồng nhi tao khổ dược.

Lão phụ biệt tha tuyền. (trùng vĩ)
Không Hoa

Không hoa phi nhãn thượng

Huyễn ế trụ mục tiền.

Bát nhã phong tảo tận,

Lưu cô nguyệt đương thiên. (trùng vĩ)
Kiến Văn

Kiến văn như huyển ế,

Tam giới nhược không ba,

Văn phục ế căn trừ

Trần tiêu giác viên tịnh.

CHƯƠNG SÁU: CÚNG GIÁC LINH
Giới Thân

Giới thân sơn vị trọng,

Pháp nhủ hải phi thâm.

Bạch bố triền viên đảnh,

Truy truy viễn thốn thầm.
Tiêu Diêu

Tiêu diêu chơn thế giới,

Khoái lạc bảo liên trung

Hiệp chưởng Thế Tôn tiền,

Như Lai chơn thọ ký.
Thuyền Đường

Thuyền đường thanh tịch tịch,

Pháp tọa ảnh liêu liêu.

Tứ chúng ta hà thị

Thê thê phách dục tiêu.
Hàn Yên

Hàn yên mê trượng thất,

Lãnh nguyệt chiếu thuyền song.

Huyễn chất tiêu gian mộng

Chơn thân tuế hậu tòng. (trùng vĩ)
Tứ Đại

Tứ đại giang tâm nguyệt,

Tam thân cảnh diện hoa.

Huề lai chơn đích tử,

Trường giá bạch ngưu xa. (Trùng vĩ)
Điện Cáo Giác Linh

Chơn thể tùy duyên xứ,

Nguyên minh hốt tơ tàng.

Nga nhiên vân quyện tận,

Lưu nhứt đạo hàng quang. (Trùng vĩ)
Thuyền Thất

Thuyền thất đăng quang lãnh,

Kinh song nguyệt ảnh không.

Nhứt triêu hề chích lý

Thiên tải mích vô tung. (Trùng vĩ)
U Minh

U Minh Giáo Chủ đức nan cùng,

Ứng hiện chư hình xứ xứ thông.

Đại đạo tam đồ triêm diệu hóa,

Tứ sanh thập loại mộc ân đồng.

Nam mô Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Tâm Nhiên

Tâm nhiên ngũ phận,

Giới định huệ hương.

Giãi thoát tri kiến điệu nan lường,

Tịnh độ khỉ căn nguyên.

Nhiệt biến tam thiên,

Phụng hiến Giác linh tiền.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.
Trầm Nhũ

Trầm nhủ chiên đàn giá mạc luân,

Kim lô tài nhiệt phún tường vân.

Nhân huân biến triệt tam thiên giới

Duy trượng chơn hương dĩ giáng thần.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.
Trượng Thất

Trượng thất không lưu nguyệt,

Thiền phòng bán tỏa yên.

Bổn lai chơn diện mục?

Hồ họa xuất thiên nhiên. (Trùng vĩ)
Bát Trung

Bát trung lương tích phạn,

Bôi lý Triệu Châu trà.

Liểu dĩ kiểu thuyền duyệt,

Thành kỳ mặc hữu gia. (Trùng vĩ)
Chơn Như

Chơn như bất biến thả tùy duyên,

Ế họa trần tiêu nhứt tánh viên.

Cử túc dĩ siêu tam giới ngoại,

Hoàn lai hựu thượng độ sanh thuyền.
Thiên Nhiên

Thiên nhiên nhứt trản triệu châu trà,

Thạch đỉnh phanh lai vị khả tri.

Xuyết trước phương tri tiêu tức xứ,

Hinh hương mãn khẩu phụng đoàn hoa.
Niết Bàn

Niết bàn nhứt khứ vạn duyên hưu

Cao quãi cân bình dĩ triệt đầu.

Chích lý Tây Qui quan man khỗn,

Nhứt hoa tạ hậu cảnh nán lưu.
Giác Linh

Giác linh tảo góa bạch ngưu xa,

Bảo sở tuệ đăng mặc sa đà,

Tam thỉnh giác linh đăng bảo tọa

Cửu liên trì thượng tọa lâu hoa.
Sắc Không

Sắc không không sắc bổn cố nhiên,

Sanh tử na năng một bạn biên.

Phiên thân đạp trước bồ đề lộ,

Cử bộ tiện đăng Bát nhã thuyền.







CHƯƠNG BẢY: TÁN THÁNH, THẦN
Ngưỡng Bằng

Ngưỡng bằng phù sứ dĩ thông tri,

Vân mã đằng không nhứt phiến thời.

Phật quốc thiên cung giai tiến tấu,

Dương gian âm phủ cấp luân di.

Nhứt thành thượng đạt tu cánh đáo.

Ngũ vị đăng trình cấp thảo trì.

Thử dạ mân cần khâm sắc chỉ,

Thần thông biến hóa cấp như phi.
Dục Trượng

Dục trượng ngũ phương khai giác lộ,

Tiên bằng nhất trượng tín tâm hương.

Thốn thành liên ngụ u minh hiển,

Ngưỡng khởi thần cơ giáng cát tường.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.chú,
Dương Dương

Dương dương ư tai thương,

Hoặc lâm tả hữu chi.

Thốn thành tam bôi chước

Tham thấu quỷ thần ky.
Vi Đà

Vi Đà thiên tướng,

Bồ Tát hóa thân.

Ủng hộ Phật Pháp thệ hoằng thâm,

Bảo chử trấn ma quân

Công đức nan luân,

Kỳ thọ phó quần tâm.

Nam mô Phổ Nhãn Bồ Tát.
Già Lam

Già lam chủ giả,

Hiệp tự oai linh.

Khâm thừa Phật sắc cọng thâu thành.

Ũng hộ Pháp Vương thành,

Vi hàn vi bình.

Phạm sát vĩnh an ninh/khương.

Nam mô Hộ Pháp Tạng Bồ Tát.
Nguyên Thần

Phật quang chú chiếu,

Bổn mạng nguyên thần.

Tai tinh thối độ phước tinh lâm,

Cửu diệu bảo trường sinh.

Vận hạn hòa bình

Phước thọ vĩnh khương ninh.
Quang Minh

Quang minh chính đại,

Cảm ứng đạo giao.

Thần tư minh phước nghiệp băng tiêu,

Phật nhựt vĩnh chiêu chiêu.

Lợi ích phong nhiêu,

Tán thán quả cao siêu.
Vũ Lộng

Vũ lộng khổng tước triệu châu trà

Thanh thủy hương tuyền hổ phách ba.

Phân khí ngọc bôi hương phúc úc,

Cúng dường Hiền Thánh (hỷ thiện đa)Thiện Phổ Đa.

Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ Tát.
Khổng Bí

Khổng bí kim thao thập địa tiên,

Phiêu phiêu kỵ hạc thượng kim liên.

Phú vận từ bi lâm pháp hội,

Nguyện kỳ thần thức giáng trai diên.

Vân lai tập Bồ Tát.
Kim Liên

Kim liên phi thượng đáo thiên đình,

Phổ ứng từ quang dung hiễn hiện quang.

Bạch hạc phi thiên trình biểu dẫn,

Dương gian trai kỉnh thiết đàn tràng.
Thành Hoàng

Thành Hoàng đương cảnh trấn trung gian,

Trú dạ tuần vô lẫm lẫm hoàng.

Pháp giới chúng sanh vô phân biệt

Thử (nhật, dạ) kim thời lai phú hội

Nam mô Phước Đức Chánh Thần Bồ Tát.
Tứ Sanh

Tứ sanh đa phá trận Lao Mông,

Tam hữu tích khai tâm địa hoàn.

Pháp giới chúng sanh vô bĩ thử,

Nhứt tề diễn bạch thượng ngu sa.

Nam mô Vân Lai Tập Bồ Tát.

CHƯƠNG TÁM: CÚNG HƯƠNG LINH
Quang Lưu

Quang Lưu xứ xứ u minh thất,

Ảnh hóa phân thân tọa đạo tràng,

Nguyện độ hương linh qui bổn quốc.

Cửu liên đài bạn vãng Tây Phương.

Nam mô Tiến Linh Diên (Vãng Sanh) Bồ Tát.
Qui Khứ

Qui khứ lai hề qui khứ lai.

Tây phương Tịnh độ bạch liên khai.

Nhứt trận hương phong xuy hốt đáo,

Hương hồn thừa thử bộ kim giai.

Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát.
Tam Thỉnh

Tam thỉnh vong linh dĩ lai lâm

Thọ thử hương hoa phổ cúng dường.

Y diên thỉnh tọa thính kinh văn,

Diễn kinh văn Bồ Tát Ma Ha Tát.
Tội Tùng

Tội tùng tâm khởi tương tâm sám,

Tâm nhược diệt thời tội diệc vong.

Tội vong tâm diệt lưỡng câu không.

Thị tắc danh vi chơn sám hối.

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát.
Nhứt Điện

Nhứt điện mộng hoàng lương,

Nhơn sanh thế vị thường.

Nhứt triêu thương hải biến.

Như diệp thượng ngưng sương.
Nhị Điện

Nhị điện mộng Nam Kha,

Phù sanh năng kỷ hà.

Hồng nhan tao bạc mệnh.

Thiên tải nhứt tư ta.
Tam Điện

Tam điện mộng Trang Châu,

Điệp tàn chẩm bán thâu.

Cổ kim đa thiểu sự,

Thệ thủy hướng đông lưu.
Sơ Trà Tiến

Sơ tiến danh hương trà

Hương linh qui khứ lai
Tái Trà Tiến

Tái tiến Hòa La phạn

Hương linh qui khứ lai
Chung Trà Tiến

Chung tiến Triệu Châu trà,

Hương linh qui khứ lai.
Trà

Dương tử giang tâm thủy,

Mông sơn đảnh thượng trà.

Hương linh tam ẩm liểu,

Tảo sang pháp vương gia.
Trà 2

Tiêu diêu chơn thế giới

Khoái lạc bảo liên trung,

Hiệp chưởng Thế Tôn tiền.

Như Lai chơn thọ ký.
Trà 3

Vô biên phiền não đoạn,

Vô lượng pháp môn tu.

Thệ nguyện độ chúng sanh,

Tổng nguyện thành Phật đạo.
Lục Tự

Lục tự Di Đà vô biệt niệm,

Bất lao đờn chỉ đáo Tây phương.
Sơn Bất Cao

Sơn bất cao hề hải bất thâm,

Lưu nga cửu tự bách niên tâm.
Sơn Trung

Sơn trung tự hữu thiên niên thọ,

Thế thượng nan lưu bách tuế nhân.
Thủy Hướng

Thủy hướng thủy biên lưu xuất lãnh,

Phong tùng hoa lý quá lai hương.
Phụ Tử

Phụ tử tình thâm chung hữu biệt,

Phu thê nghĩa trọng dả phân ly.

Nhơn tình tợ điểu đồng lâm túc,

Đại hạn lai thời các tự phi.
Vạn Cổ

Vạn cổ bổn căn nhân hữu thọ,

Bách niên kế tự thiệu chưng thường.
Thập Vạn

Thập vạn ức trình đờn chỉ đáo,

Ty hào ngưng nghị cách thiên sơn.
Thiên Cổ

Thiên cổ anh hùng giai tỏa thử,

Bách niên đồng tác nhứt khanh trần.
Thiên Giang

Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,

Vạn lý vô vân vạn lý thiên.
Bành Tổ

Bành Tổ niên cao kim hà tại,

Nhan Hồi thọ yểu diệc qui không.
Thanh Chỉ

Thanh chỉ thượng đầu thư bạch tự,

Bất thê lương xứ dả thê lương.
Càn Khôn

Càn khôn số tận tình nan tận

Giang Hán lưu càn lệ bất càn.
Bạch Ngọc

Bạch ngọc giai tiền văn diệu pháp,

Huỳnh kim điện thượng lễ Như Lai.
Dĩ Thử

Dĩ thử chơn ngôn thân triệu thỉnh,

Hưong linh bất muội diêu văn tri.

Trượng thừa Tam Bảo lực gia trì,

Thử (nhật, dạ) kim thời lai phú hội.
Thu Võ

Thu võ ngô đồng diệp lạc thời,

Dạ thê thê.

Triệu thỉnh Hương linh lai phú hội.
Kim Nhựt (dạ)

Kim nhựt (dạ) đạo tràng pháp diên khai.

Hội diên lai,

Triệu thỉnh Hương linh lai phú hội.
Hoa Nghiêm

Hoa nghiêm bửu điển,

Lâu các môn khai.

Chung tiến Triệu Châu trà,

Hương linh qui khứ lai.
Nam Kha Nhứt Mộng Đoạn

Nam kha nhứt mộng đoạn,

Tây vức cửu liên khai.

Hương linh qui Tịnh độ,

Hiệp chưởng lễ Như Lai.
Sám Văn

Sám văn cử xử tội hoa phi

Giải liểu oan diệt liểu tội.

Tiêu tai tăng phước huệ.

Giải liểu oan diệt liểu tội.

Thoát khổ sanh Đao lợi.
Thất Bảo

Thất bảo dương chi tiêu nhiệt não,

Bát công đức thủy ẩm thanh lương.
Cẩn Y

Cẩn y Tam Thừa giáo

Xưng tụng Thất Như Lai

Hương linh thừa Phật lực

Thác hóa bảo liên đài.
Cẩn Y 2

Cẩn y Tam Thừa Giáo,

Xưng tụng Thất Như Lai.

Hương linh thừa Phật lực,

Thác hóa bảo liên đài.
Sắc Hương

Sắc hương mỹ vị biến linh diên,

Duy nguyện Hương Linh giai bão mãn.

Nam mô Mỹ Hương Trai Bồ Tát.
Dục Trương

Dục trương thần công thông hạ khổn

Tiên thân nhất chú bảo hương truyền.

Nhơn huân (ôn) biến triệt u minh giới,

Thành khổn tham thần giáng tọa tiền.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.
Mạc Đạo (Viễn)

Mạc đạo Tây Phương viễn,

Tây Phương tại mục tiền.

Thủy lưu qui đại hãi,

Nguyệt lạc bất ly thiên.
Mạc Đạo (Cận)

Mạc đạo Tây Phương cận,

Lâm hành thập vạn trình

Di Đà thùy tiếp dẫn,

Vô diệt, diệc vô sanh.
Thuyết Phá

Thuyết phá vô sanh thoại,

Tất định vãng Tây Phương.

Di Đà Cực Lạc quốc,

Thường văn Bát Nhã hương.
Sơn Bất Cao

Sơn bất cao hề hải bất thâm,

Lưu nga cửu tự bách niên tâm.

Tiến linh diên Bồ Tát.
Nhứt Điểu

Nhứt điểu đảng đảng Tây Phương lộ,

Trực kỉnh qui gia mạc vấn tân.
Nhứt Điện

Nhứt điện mộng hoàng lương,

Nhân mạng vô thường.

Thân hình bào ảnh tợ ngưng sương,

Mạng tại ngưng sương nguyên bất cửu trùng.
Nhứt Điện 2

Nhứt điện mộng hoàng lương,

Nhân mạng vô thường.

Thân hình bào ảnh tợ ngưng sương,

Phiên thân lưu mộng đoạn tợ ngưng sương

Nhứt triêu thương hải biến.

Như diệp tợ ngưng sương.
Thọ Cao

Thọ cao phong bất chỉ.

Giản khúc thủy trường lưu.

Duy hữu vô thường lộ.

Chủ nhơn đáo thử lưu.
Hạo Hạo

Hạo hạo hồ chiêu mục,

Uông Uông đức trạch thùy.

Trùng môn tiển phủ thủ.

Vị cố (phụ, mẫu) yết nghi.
Yểu Yểu

Yểu yểu tuyền đài lộ,

Minh minh địa phủ quan,

Thành ngự tam bôi chước,

Tham giáng yết tôn nhan.
Sổ Bài

Sổ bài huyền tửu chước,

Thiên tải tự nhứt triêu.

Giai tiên cung đối thủ,

Tôn linh tự tiêu diêu.
Nam Kha Nhứt Mộng Thục

Nam Kha nhứt mộng thục huỳnh lương,

Kham thán nhân sanh bất cửu trường.

Hữu sanh hữu tử giai hữu định,

Vô bần vô phú diệc vô thường.

Hồn phi phách tán kim hà tại.

Tánh lãng tâm không vọng cố hương,

Kim đối linh đàn thân triệu thỉnh.

Vong linh văn triệu nguyện lai lâm.
Phổ Am

Phổ am thần chú,

Hỏa thủ kim cang.

Cổ Phật xuất thế phóng hào quang.

Ngoại đạo tận tiềm tàng,

Chấn diệt tai ương,

Nguyện phước thọ niên trường,

Nam mô Tiêu Tai Chứng Bồ Tát.
Dục Thoát

Dục thoát tử sanh ái biệt ly,

Ngưỡng tham giáo chủ ngự liên trì,

Hoát nhiên đốn ngộ chơn thường tánh.

Thập vạn ức trình nhất tức quy.

Nam mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát.
Linh Xa

Linh xa tư thời giá,

Vãng u trạch bỉ nguyên.

Sổ bôi trần khiển lễ,

Thiên tải biệt trần hoàn.
Nhứt Khứ

Nhứt khứ vĩnh vô quy,

Thương tâm chánh thử thì,

Dinh dinh khuynh tàn tửu,

Quỳ quỳ giáng thần ky.
Sầu Vân

Sầu vân phong hộ lãnh,

Lãnh nguyệt chiếu dạ đài.

Tọa thượng dinh dinh chước,

Linh tiền mãn bi hoài.
Thất Bảo

Thất bảo dương chi tiêu nhiệt não,

Bát công đức thủy ẩm thanh lương.
Tây Phương

Tây phương giáo chủ mãn bi hoài,

Mẫn vật thăng trầm đại thệ khai.

Thập niên tài xưng đăng bảo tọa,

Nhứt chơn bất muội thượng kim giai

Nam mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát.
Huyên Đường

Huyên đường trung tịch tịch,

Linh tọa thượng thê thê.

Sổ bôi dinh dinh chước,

Thiên tải nhất phân kỳ.
Phụ Hề

Phụ hề tương hà tại,

Tử giả tương hà y.

Vạn lý truyền đài viễn

Nhất triêu thống biệt kỳ.
Sầu Trường

Sầu trường thôi cửu khúc,

Lệ mục sái song hàng

Nhứt đán ta thất hộ

Thiên tải biệt u quan.
Phiêu Phiêu

Phiêu phiêu tế độ thuyền

Từ Tôn quá hãi biên,

Tiếp dẫn hương hồn khổ

Đồng đắc Cực lạc thiên.
Mẫu Niên

Mẫu niên nhứt bách tuế,

Trượng ưu bát thập nhi.

Dục thi ân ái đoạn,

Mạng tận dĩ phân ly.
Mộng Đoạn

Mộng đoạn sơn đầu vân yểu yểu,

Tứ thù hải huợt thủy du du.
Mật Trúc

Mật trúc bất phòng lưu vũ quá,

Sơn cao vô ngại bạch vân phi.
Viễn Quan

Viễn quan sơn hữu sắc,

Cận thính thủy vô thanh.

Xuân khứ hoa trường tại,

Nhơn lai điểu bất kinh.
Dương Tử

Dương Tử giang tâm thủy,

Mông Sơn đảnh thượng trà,

Hương linh tam ẩm liễu,

Tảo sanh pháp vương gia.
Sơ Chước

Sơ chước tào khê thủy,

Tam quỳnh Triệu Châu trà.

Nguyện tiềm hinh pháp vị,

Quy khứ Pháp Vương gia.
Gia Trì

Gia trì chú thực diệu dà đà,

Biến thiểu thành đa giai bảo mãn.

Nam mô Mỹ Hương Trai Bồ Tát.
Tây Phương

Tây phương tịnh độ bạch liên khai,

Hương linh thừa thử bộ kim giai

Nhất niệm hoa khai thân kiến Phật,

Vĩnh vô bát nạn cập tam tai.

Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát.
Nhất Khứ

Nhất khứ vĩnh vô qui,

Thương tâm vô kỷ thời.

Kim triêu trần khiển lễ,

Minh nhật tống linh nhi.
Sám Như Hoàn Trê

Sám như hoàn trê dĩ thủy vi danh,

Chí tâm đảnh lễ tại căn thanh.

Tội diệt phước sanh, huệ nhựt chiếu linh.

Giác hãi tánh viên thanh.
Thành Trung

Thành trung trụy mã,

Chưởng thượng ly châu.

Lự kỳ tiền kiếp chi khiên vưu,

Đãi chí kim sanh như túc trái.
Đình Tiền

Đình tiền hoa tạ,

Chưởng thượng ly châu.

Lự kỳ tiền kiếp chi khiên vưu,

Đãi chí kim sanh như túc trái.

Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
Loan Phòng

Loan phòng ảnh tịch,

Huệ trướng duyên không.

Thất trung bất đổ âm dung,

Đường thượng vô văn tiếu ngữ.
Phao vi

Phao vi nhơn tử,

Cảm hà từ thân,

Sanh thành đức đại dĩ nan thù,

Cúc dục ân thâm như vị báo.
Nhứt Linh

Nhứt linh yếm hóa,

Tứ đại nga phân,

Vân qui tiên đảo vệ yên hàn

Hoa lạc tuyền đài xuân trú tịch.
Ái Hà

Ái hà lãng huợt,

Khổ hải di thâm.

Dục đáo Bồ Đề chi bỉ ngạn,

Tiêu trùng phiền não kiếp trùng lai.

Nhược bất thính pháp văn kinh,

Hà nãi siêu sanh thoát tử.
Án Dạ Hồng 1

Án dạ hồng,

Đại khai phương tiện lộ,

Hương linh nhược qui y,

Qui y năng tiêu diệt.

Tiêu diệt địa ngục khổ.
Án Dạ Hồng 2

Án dạ hồng,

Trừ nhiệt chơn cam lồ,

Hương hồn nhược qui y

Qui y năng tiêu diệt

Tiêu diệt ngạ quỹ khổ.
Án Dạ Hồng 3

Án dạ hồng,

Tổ sư năng tiền phú,

Hương hồn nhược qui y

Qui y năng tiêu diệt

Tiêu diệt bàng sanh khổ.
Tích nhựt

Tích nhựt tại cao đường

Thử thời nhứt chủ hương

Quỳnh bôi cam lộ chước

Linh tọa nguyện tiền phương.
Huyên Đường

Huyên đường trung tịch tịch,

Linh tọa thượng liêu liêu

Bôi trung nồng đạm vị

Đơn khủng biểu phân hào.
Lão Tử

Lão tử song vong vãng khứ lâu

Tùng tư huýnh thoát xuất luân hồi

Tam thiên giới ngoại phiên cân đẩu

Nhẫn độ ly thời tịnh độ khai.



(Huệ Quang Sưu Tầm)