Hiển thị các bài đăng có nhãn Niệm Chú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Niệm Chú. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2023

Mền Quang Minh khi liệm người lâm chung





Mền Quang Minh


Giới Thiệu về “Mền Quang Minh” hay “Mền Giải Thoát” theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng


** Sáu Pháp Giải Thoát của Đức Liên Hoa Sanh:

“Tử Thư Tây Tạng” là giáo lý được rất nhiều người biết đến, bắt nguồn từ những lời truyền giảng của Đức Liên Hoa Sanh (Guru Padmasambhava) vào thế kỷ thứ 8. Đây là những giáo lý hướng dẫn về cõi trung giới “Bardo” sau khi cái chết xảy đến, thường được gọi là Thân trung Ấm. Trong Phật Giáo Tây Tạng, “Tử Thư Tây Tạng” được biết đến như là phương tiện thiện xảo để giúp chúng ta đạt được giải thoát qua cái nghe, nghĩa là giải thoát qua việc lắng nghe trong giai đoạn Trung Ấm (liberation through hearing in the Bardo).

Theo các giảng dạy về “Bardo,” có tất cả là 6 giai đoạn “Bardo” – là các giai đoạn chuyển tiếp, bắt đầu từ khi chúng ta chào đời cho đến khi tái sinh trở lại, gồm có: (1) Giai đoạn trung giới của sự chào đời (Kye Ne Bardo), (2) của giấc mộng (Milam Bardo), (3) của thiền định (Samten Bardo), (4) của quá trình tan rã đưa đến của cái chết (Chikai Bardo), (5) của kinh nghiệm trải qua sau khi chết (Chonyi Bardo), và (6) của sự tái sinh trở lại (Sipai Bardo).

Riêng trong trường hợp để chuẩn bị cho cái chết và sau khi chết thì theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng, người quá cố thường được chư tăng tụng đọc cho nghe toàn bộ giáo lý của “Tử Thư” trong suốt 49 ngày để nhắc nhở họ về cái chết, về chu kỳ tan rã của ngũ đại (đất, nước, gió, lửa và khí), về những diễn biến trong cõi trung giới sau khi thân và tâm đã tách lìa, giúp người chết tìm ra nẻo thoát. Đây chính là giải thoát qua việc lắng nghe.


Nhưng giải thoát qua việc lắng nghe là cũng chỉ một trong Sáu Pháp Giải Thoát mà đức Liên Hoa Sanh đã giảng dạy, gồm có:

1. Giải thoát qua cái nghe (liberation through hearing)
2. Giải thoát qua cái mặc (liberation through wearing) (*)
3. Giải thoát qua cái thấy (liberation through seeing)
4. Giải thoát qua sự hồi nhớ (liberation through remembering)
5. Giải thoát qua vị nếm (liberation through tasting)
6. Giải thoát qua sự chạm xúc (liberation through touching)

(*) Ở đây ám chỉ áo mặc, hoặc phủ, hoặc đắp trên thân, mà cũng có thể là pháp bảo mà ta có thể đeo trên người.


** Ý nghĩa của “Giải Thoát Qua [Áo] Mặc:”

Theo ý nghĩa như trên, người Tây Tạng gọi “Mền Quang Minh” mà chúng ta thường dùng để đắp cho người đã qua đời là Tag-drol, nghĩa là “giải thoát qua cái mặc” (liberation through wearing). “Mền Giải Thoát” (hay “Áo Giải Thoát”) ở đây được kiến tạo dựa trên sự kết hợp của các câu chú nguyện, các biểu tượng và đồ hình. Trên thực tế, đây, là sự thiết lập của một mạn đà la tâm linh.

Người Việt có thói quen gọi những chiếc “mền” đắp cho người quá cố là “Mền Quang Minh,” đó là vì ta muốn nhắc đến trạng thái tịnh quang chói sáng và trong suốt (Clear Light) của Chân Tâm khi đạt được giải thoát. Ta mong muốn người chết sẽ đạt được đến trạng thái này sau khi lìa đời, cho nên gọi bằng “Mền Giải Thoát” hay “Áo Giải Thoát” cũng mang cùng một ý nghĩa như gọi “Mền Quang Minh.” Cũng có những nơi, người Việt gọi “Mền Quang Minh” là “Áo Đà la ni.”

** Đắp “Mền Giải Thoát” tạo được ba loại công đức và lợi lạc như sau:

1. Giúp bảo vệ người chết khỏi những chướng ngại hoặc những tai hại do các vong linh hiểm ác hoặc quỷ thần gây ra.
2. Trong tương lai, có thể giải thoát khỏi luân hồi và khổ não.
3. Trong cõi trung giới “Bardo,” có thể trực nhận được Tuệ Giác Nguyên Sơ, hoặc tái sinh vào cõi Tịnh Độ của đức A Di Đà, sau sẽ đắc được Phật quả.

Tuy các giải thích về “Mền Giải Thoát” có nói về lợi lạc của việc “bảo vệ” người chết như trên, nhưng theo Garchen Rinpoche, ta nên hiểu rằng, “bảo vệ” ở đây không chỉ chú trọng vào việc bảo vệ thân xác của người đã qua đời theo nghĩa thế tục, mà chủ yếu là bảo vệ cho tâm của người chết không bị tán loạn, giúp cho họ giữ được sự sáng suốt, một mực hướng về mục đích cứu cánh là đạt đến giải thoát. Ở đây, giải thoát qua [áo] mặc, qua việc phủ đắp chiếc “Mền Quang Minh,” một phương tiện thiện xảo giúp cho người chết có thể chú tâm, không sao lãng, giữ vững ước nguyện muốn sinh vào cõi Phật, đạt được giải thoát.

Đại sư Garchen Rinpoche cũng giải thích thêm như sau:

“Mền Giải Thoát” là một phương pháp vô cùng thiện xảo của chư Phật để hoá độ chúng sinh. Khi mang trên người tấm “Mền Giải Thoát” thì người chết cũng có thể tịnh hoá được rất nhiều chướng ngại hoặc các che chướng. Trong thân xác thô kệch chưa được tịnh hoá của ta có tiềm ẩn hạt mầm của 100 Vị Hộ Phật An Bình và Hung Nộ (Tạng ngữ: Shitrula; Shi: An Bình, Tru: Hung Nộ; La: Hộ Phật). Thật sự, các Vị Hộ Phật An Bình và Hung Nộ xuất hiện trong “Bardo” là những biểu lộ của hợp thể các ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và ngũ đại (đất, nước, gió, lửa, khí) trong mỗi một cá nhân. Vào lúc lià đời, sau khi ngũ đại tan rã thì những thể tính bản nhiên của ngũ uẩn sẽ được bộc lộ qua sự xuất hiện của các linh ảnh, màu sắc, ánh sáng của các vị Hộ Phật. Các vị Hộ Phật đều chứa đựng tuệ giác viên mãn của Năm Vị Thiền Na Phật hay Ngũ Trí Phật. Khi ta khoác trên người tấm “Mền Giải Thoát” hay “Áo Giải Thoát” thì những hạt mầm trong thân xác sẽ nhận được năng lực gia trì và năng lực chuyển hoá. Thân ta sẽ chuyển thành thân Phật. Những tư tưởng bất tịnh của xác phàm sẽ chuyển thành tâm tịnh khiết và trí tuệ của các vị Phật.

Tulku Jimge Rinpoche có nhắc thêm rằng, theo các hướng dẫn của đức Liên Hoa Sanh và theo truyền thống tu tập Chuyển Di Thần Thức “Phowa,” trên thân chúng ta có 9 khiếu (9 cửa thoát) là nơi mà thần thức sẽ thoát ra ngoài. Do đó, đắp “Mền Giải Thoát” cũng có tác dụng che kín 8 cửa thoát nơi mà ta không muốn thần thức thoát ra ngoài, và chỉ chừa lại một cửa thoát duy nhất, cửa thứ 9, đó là cửa Phạm Thiên. Tựu chung, 8 khiếu (8 cửa thoát) (**) mà ta muốn che lại gồm có: (1) phía trên đầu (từ đường chân tóc đo lên bằng bề ngang của bốn ngón tay chập lại); (2) mắt, (3) tai, (4) mũi, (5) miệng, (6) rốn, (7) hậu môn, và (8) bộ phận sinh dục, ngoại trừ cửa thoát cao nhất trên đỉnh đầu – (9) cửa Phạm Thiên - là nên để hở. Nếu thần thức thoát ra từ cửa Phạm Thiên, người chết sẽ được tái sinh vào cõi Tịnh Độ hoặc đạt được giải thoát.

Đại hiền giả Naropa đã từng dạy rằng, “Có 8 cửa thoát là 8 cánh cổng đưa đến luân hồi, và chỉ duy nhất một cánh cổng (cửa Phạm Thiên) là con đường dẫn đến Đại Thủ Ấn (Mahamudra).”

(**) Lama Lodo, xuyên qua những giáo lý khẩu truyền của Kalu Rinpoche, đã trình bày trong “Giáo Lý Bardo: Chết và Tái Sinh Như Thế Nào” (Bardo Teachings: The Way of Death and Rebirth) về 8 cửa thoát của thần thức như sau: Nếu thần thức thoát ra (1) từ phía trên đầu (từ đường chân tóc đo lên bằng bề ngang của bốn ngón tay chập lại), sẽ tái sinh vào cõi Trời thuộc Vô Sắc giới; (2) từ mắt (kể cả mắt thứ ba), sẽ tái sinh vào cõi Trời thuộc Sắc giới; (3) từ tai, sẽ tái sinh làm A-tu-la; (4) từ mũi, sẽ tái sinh làm người hoặc làm yaksa (Dạ xoa); (5) từ miệng, sẽ tái sinh làm ngạ quỷ; (6) từ rốn, sẽ tái sinh làm chư Thiên trong cõi Dục giới; (7) từ hậu môn, sẽ tái sinh vào địa ngục; (8) từ bộ phận sinh dục, sẽ tái sinh làm súc sinh. Theo Lati Rinpochay và Jeffrey Hopkins trong “Chết, Trung Ấm và Tái Sinh Theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng”(Death, Intermediate State and Rebirth in Tibetan Buddhism) thì cách phân loại 8 cửa thoát và nơi đầu thai có một số khác biệt; ngoài ra, trong tài liệu này, vị trí ở mắt thứ ba được xem là một cửa thoát riêng biệt, trong khi cửa thoát trên đầu (từ đường chân tóc đo lên bằng bề ngang của bốn ngón tay chập lại) không được nhắc đến. Trong một số tài liệu khác, cách trình bày về các cửa thoát cũng có một vài điểm dị biệt.



** Giải thích về các giáo lý, câu minh chú, mạn đà la và hình ảnh in trên “Mền Giải Thoát:”

1. Giáo lý Dzogchen- Đại Viên Mãn: “Bốn Giáo Pháp Vĩ Đại” [của đức Long-chenpa] thuộc hệ giảng Longchen Nyingtik (hình thu nhỏ của các trang sách về giáo lý Đại Viên Mãn viết bằng Tạng văn).

2. Biểu hiện cho Tâm viên mãn của đấng Đạo Sư (đây chính là oai lực hoá độ của Đạo Sư) (hai mạn đà la hình tròn nằm ở bên trái và phải của đức Kim Cang Tát Đỏa).

3. Đức Kim Cang Tát Đoả (Phạn: Vajrasattva/ Tạng: Dorje Sem-pa): vị Phật chủ trong mạn đà la - sắc tướng của ngài là hiện thân cho tinh túy của 100 vị Phật; oai lực của ngài là tịnh hoá được nghiệp chướng của những ai mặc hoặc đắp hình ngài trên thân, giúp cho họ đạt được giải thoát trong những giai đoạn khác nhau của cõi trung giới “Bardo” (hình đức Kim Cang Tát Đỏa ở giữa).

4. Tinh Túy của Giáo Lý Đại Viên Mãn Dzogpa-Chenpo (mạn đà la hình tròn, lớn, nằm ở giữa).

5. Một Trăm Vị Hộ Phật An Bình và Hung Nộ trong “Bardo” [theo hướng dẫn] của ngài Karma Lingpa (mạn đà la hình vuông, lớn, nằm ở cuối).

6. Chùy Kim Cang và Kim Cang lục tự minh chú (chú giải thoát 6 âm của đức Kim Cang) (hình viền chung quanh).

“Mền Giải Thoát” đã được rút tỉa ra từ tinh tuý của Kinh điển và Mật điển. Trong Mật điển có nói rằng, bất cứ ai có đủ phước duyên để nghe được, nhìn được, chạm được hoặc khoác được vào người tấm “Áo Giải Thoát” thì sẽ có thể được giải thoát xuyên qua Thân trung Ấm, hoặc tái sinh vào cõi Tịnh Độ. Ngoài ra, ngay cả loài súc sinh nếu có đủ phước duyên để đeo được giáo lý của “giải thoát qua cái mặc” quanh cổ (***) thì cũng có thể sẽ được sinh vào các cõi cao hoặc được giải thoát trong các giai đoạn chuyển tiếp. Loài súc sinh còn được như vậy, huống chi là loài người, lợi lạc thật khó nghĩ bàn. Ngay cả những kẻ đã tạo ác nghiệp khi còn sống và những kẻ đã qua đời mà không hề có được bất cứ ai trì chú hay cầu nguyện hồi hướng cho, thì họ cũng vẫn có thể được tái sinh và cõi Tịnh Độ, và sau đó đạt được giải thoát.

(***) Những giáo lý, câu minh chú, biểu tượng, hình ảnh in trên “Mền Giải Thoát” cũng có khi được thu nhỏ lại và được in thành một tập sách tí hon, có thể đeo quanh cổ hay đeo trước ngực, cho cả người lẫn thú vật khi còn sống.



** Cách thức sử dụng “Mền Giải Thoát:”

1. Trong giờ phút lâm chung, nếu không có đủ thời giờ để thay quần áo hay tẩm liệm cho người sắp qua đời, hãy dùng “Mền Giải Thoát” để đắp lên trên toàn thân. Trong trường hợp người chết ra đi vì tai nạn, nếu “Mền Giải Thoát” có chạm phải máu trên thân cũng không có gì phải lo ngại.

2. Khi chúng ta cầu nguyện cho người quá cố, hãy đắp “Mền Giải Thoát” lên toàn thân của người quá cố. Nếu cần thay quần áo hay làm lễ tẩm liệm cho người quá cố thì có thể tạm thời dời “Mền Giải Thoát’ qua một bên. Sau đó thì đắp lên trở lại.

3. Cũng có thể đắp trên nắp quan tài sau khi đã đậy nắp quan tài. Khi cần mở nắp quan tài ra thì tạm thời dời “Mền Giải Thoát” qua một bên, sau đó có thể đắp lên trở lại.

4. Theo Lamchen Gyalpo Rinpoche, khi bắt đầu cử hành lễ hoả thiêu, hãy dời “Mền Giải Thoát” để qua một bên. Khi lễ hoả thiêu đã hoàn tất, dùng “Mền Giải Thoát” để gói tro lại. Sau đó, có thể để tất cả vào trong hủ đựng tro. Khi dùng “Mền Giải Thoát” để gói tro lại, hãy cẩn thận, đừng để hình ảnh của vị Phật [Kim Cang] nằm úp xuống dưới. Nếu hủ đựng tro quá nhỏ thì có thể gấp “Mền Giải Thoát” lại thật nhỏ và để vào phía trên tro bên trong hủ đựng tro, hoặc dùng “Mền Giải Thoát” để gói hủ đựng tro lại.

5. Theo Garchen Rinpoche thì khi làm lễ hoả thiêu, có thể giữ nguyên “Mền Giải Thoát” trên xác người quá cố và thiêu chung tất cả một lúc. Đây cũng là truyền thống thường được làm trước đây bên Tây Tạng khi cử hành lễ hỏa thiêu.

6. Nếu chôn cất (thay vì hoả thiêu), có thể giữ nguyên “Mền Giải Thoát” trên xác người quá cố (hoặc trên nắp quan tài) và chôn chung với quan tài.


** Cách thức sử dụng cát mạn đà la để giúp người hấp hối hay quá cố:

Ngoài ra, xin nói thêm về cách thức sử dụng cát mạn đà la để giúp người hấp hối hay đã qua đời.

1. Trong trường hợp có những bệnh nhân đang nằm trong bệnh viện vào giờ phút cận tử, hãy để một ít cát mạn đà la trong túi áo của bệnh nhân, hoặc đặt cát vào một túi vải nhỏ đeo vào trên ngực của bệnh nhân, để tránh không cho các vong linh đang lãng vãng trong bệnh viện đến được gần thân xác của người hấp hối.

2. Có thể đặt một ít cát mạn đà la trên đỉnh đầu của người hấp hối, cũng như trên đỉnh đầu của người quá cố.

3. Trước khi tẩm liệm, rắc một ít cát mạn đà trên xác người quá cố. Sau khi tẩm liệm, rắc một ít cát mạn đà la lên trên toàn thân. Sau khi hỏa thiêu, đặt tro vào bên trong hủ đựng tro và rắc một ít cát mạn đà vào bên trên hủ đựng tro.

4. Nếu chôn cất thay vì hoả thiêu thì sau khi đậy nắp quan tài, rắc một ít cát mạn đà la trên nắp quan tài (ở vị trí đặt đầu của người qua cố). Cũng có thể để một chút hồ keo lên chỗ đó rồi rắc một ít cát lên trên hồ keo để cát có thể dính được trên nắp quan tài.

5. Sau khi chôn cất, rắc một ít cát mạn đà la lên trên phần mộ (ở vị trí đặt đầu của người quá cố).

6. Sau thời gian 3, 7 hoặc 10 năm, nếu phải cải táng theo tục lệ Á đông thì có thể rắc một ít cát mạn đà la lên trên xương sọ.

_______________________________

Những tấm “Mền Giải Thoát” theo mẫu thiết kế trên đây đã được thiết kế và ấn tống dựa trên những hướng dẫn của đại sư Drikung Nangchenpa Gyalpo Rinpoche cùng với chư vị Lạt Ma khác.

Tài liệu giới thiệu về “Mền Quang Minh” hay “Mền Giải Thoát” bằng Việt ngữ được Tâm Bảo Đàn biên soạn dựa trên những lời giải thích nguyên thủy bằng Hoa ngữ (do Steven Tung và Theresa Stevenson dịch qua Anh ngữ), cùng với những lời chỉ dạy trực tiếp của đại sư Garchen Rinpoche (do Ina Bieler dịch qua Anh ngữ), Tulku Jigme Rinpoche, Khenpo Tsultrim và Gapé Lama. Mọi sai sót là của người soạn Việt ngữ. (2/2010)

Quý đạo hữu muốn thỉnh “Mền Giải Thoát,” xin liên lạc điện thư Viet Nalanda Foundation vietnalanda@ymail.com hoặc điện thoại 949-923-0039 (website: http://www.vietnalanda.org). Tại Việt Nam, xin liên lạc Huyền Đoàn: huyen2307@yahoo.com hoặc điện thoại 0906868721.

Tại Hoa Kỳ, giá thỉnh mền là $40 USD. Mọi đóng góp có thể được gửi về địa chỉ: Viet Nalanda Foundation, 8201 Westminster Blvd. Suite #200, Westminster, CA 92683. Tất cả tịnh tài đóng góp sẽ được dùng để hỗ trợ chư tăng ni và cư sĩ người Việt được Đề Án Zangpo bảo trợ tu học Phật Pháp và Tạng ngữ tại các trung tâm Phật Giáo Tây Tạng tại Ấn Độ và Nepal. Trang nhà Zangpo Project: http://www. vietnalanda.org/dhe-an/zangpo

Nguyện xin hồi hướng công đức đến toàn thể pháp giới chúng sinh, nhất là các chúng sinh đang trải qua các kinh nghiệm chuyển tiếp đầy hoang mang và sợ hãi sau khi lìa đời; nguyện cho họ có được lòng từ bi và luôn sáng suốt để mau chóng nhận ra được ánh sáng giải thoát trong “Bar-do.”


(Trên đây là thông tin mới nhất đã được cập nhật vào tháng 7/2018)





Mạn đàm về cái gọi là 'Mền Quang Minh'


Nói đến đám tang thì cái gọi là mền Quang Minh hay Áo lục thù, hải hội phủ lên người quá cố có lẽ trong cộng đồng Phật tử và nhân dân không ai xa lạ, dịch vụ tang lễ họ cũng chuẩn bị rất chu đáo để cung cấp cho gia đình khi có người thân qua đời.


Nhưng ít người hiểu được rằng khi đem “mền Quang Minh” có in những bài chú của Phật giáo ấy đi quấn người chết như thế chẳng được lợi lộc gì, chẳng giúp người quá cố sinh về cõi lành, đôi khi lại tạo thêm nghiệp bất kính với chư Phật, chư Bồ Tát, đặc biệt nếu quan niệm mặc áo này vào để cầu nguyện được vãng sanh lại là một niềm tin rất thiếu trí tuệ. Niềm tin như vậy khác nào bảo người khác cứ thỏa mãn làm các điều ác rồi lúc mất mặc áo này vào sẽ được sanh vào cõi lành ?!

Đã là mật chú của Đức Phật thì phải cung kính tôn thờ mới linh ứng và màu nhiệm. Tuy nhiên nhiều người sử dụng cho việc tẩn liệm như vậy thì người làm phải mắc lấy tội báo.

Năm 1981, Ban Nghi lễ Phật giáo Trung ương GHPGVN, cụ thể là Hoà thượng Kim Cương Tử đã có nói rất rõ là người đệ tử Phật phải tin sâu nhân quả không nên đem danh hiệu Phật, các bài thần chú linh thiêng đem gói xác người chết như bấy lâu nay, một số nơi đã làm.

Bởi vậy Hòa thượng đã kêu gọi Chư tôn đức quý thiện hữu trí thức và Phật tử gần xa hãy “nghiên chân hạch ngụy, hiển chính tồi tà”, nêu cao chánh tín bài trừ những gì không có trong Phật giáo.

Gần đây năm 2011, vị trưởng ban hộ tự chùa Kim Quang gần trú xứ mang về hơn 50 bộ quần áo có in các bài chú màu sắc rực rỡ người viết làm Phật sự tại có nhắc nhở không nên truyền bá những niềm tin thiếu trí tuệ này ở trong Chùa và giải thích lời dạy của Hòa thượng Kim Cương Tử và Phật tử ấy cũng thuận ý không đem ra phát hành nữa.

Ngày thân mẫu người viết mất, cũng có người biếu một bộ sau khi hiểu sự việc người nhà đã đem ra hóa và gần đây cũng có nhiều cụ già mất dù đã mặc vào rồi, được giải thích cặn kẻ, hiểu rõ tự gia đình tang chủ hoan hỷ bỏ ra.

Làm đúng nghi lễ Phật giáo tin sâu nhân quả, làm các công đức phước thiện hồi hướng cho người quá cố mới là điều cần làm để người mất được sinh về cõi lành.

Xin mạo muội đôi lời cảm tác:

Nghi lễ tống táng rõ ràng

Chớ đem màu sắc dối gian người đời

Hiệu Phật thần chú tuyệt vời

Gói xác người chết để nơi quan tài

Này quý Phật tử những ai

Chớ tiếp tay những lối sai lạc đàng

Đã là thần chú lại càng

Đem thờ tôn kính nghiêm trang hết lòng

Theo đạo chớ có cầu mong

Đem ngũ bộ chú bỏ trong quan tài

Thần chú cũng như tòa đài

Hết lòng kính cẩn các ngài hộ cho

Thần chú không phải tự do

Gói xác người chết để lo cho mình

Thần chú để có uy linh

Đem thờ mới phải niềm tin người người

Thần chú muốn cho tốt tươi

Không bước, dẫm đạp để nơi quan tài

Bao người nhắm mắt làm sai

Chẳng chịu nghiên cứu hoài hoài vô minh

Kính mong chư vị hãy tin

Tin sâu nhân quả nhẹ mình ích dân

Đã tin nhân quả mến thân

Màu mè gạt bỏ chẳng cần rối thêm

Rối thêm tạo nghiệp nặng thêm

Xa đường giải thoát bước thềm trầm luân

Này quý Phật tử chánh chân

Chư tôn thiện tín xa gần khắp nơi

Chính kiến giúp cho mọi người

Nhẹ nhàng tống táng hợp thời bình an

Nhất tâm hướng tới lạc bang

Quê hương tịnh độ nghiêm trang nơi nầy

Nhất niệm tam giới đủ đầy

Màu sắc quyết bỏ theo thầy khi xưa.

Nam mô A Di Đà Phật

Tỳ Lô Giá Na Quán Đỉnh Chân Ngôn





Mền Quang Minh : là mền (vải) có in bản chú Tỳ Lô Giá Na Quán Đỉnh Chân Ngôn; Thập Cam Lộ Đà La Ni là Chân Ngôn của A Di Đà Như Lai và Đại Tùy Cầu Đà La Ni. 

Đắp mền quang minh cho người mất, giúp tâm của họ không bị tán loạn và giúp họ giữ được sự sáng suốt, một mực hướng về mục đích cứu cánh là đạt đến giải thoát. 

Công năng của chú này là nhổ sạch tội chướng. Trong Kinh Mật Tạng dạy oai lực của Tỳ Lô Giá Na quán đỉnh chơn ngôn” Nếu các chúng sinh gây tạo đủ các tội: mười ác, năm nghịch, bốn nặng… thân hoại mệnh chung bị rơi vào đường ác. 

Dùng Chân Ngôn này gia trì vào đất cát 108 biến rồi rải lên thây của người đã chết, hoặc rải trên ngôi mộ thì Vong Linh ấy liền được sinh vào cõi lành“. Lại gọi là Thập Cam Lộ Chân Ngôn bao gồm A Di Đà Đại Chú, Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sinh Tịnh Độ Đà La Ni, Vô Lượng Thọ Như Lai Căn Bản Đà La Ni, A Di Đà Đại Đà La Ni, A Di Đà Đại Thần Chú. Do trong Chú có mười câu A mật-lật đa được dịch nghĩa là Cam Lộ nên lại xưng là Thập Cam Lộ Minh Đà La Ni này biểu thị cho Công Đức Nội Chứng của Đức Vô Lượng Thọ Như Lai hay giúp cho người trì tụng: đời này được an ổn, tiêu diệt các tội chướng; sau khi chết được sinh về Thế Giới Cực Lạc. 

Phật nói Kinh Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà La Ni Thần Chú ghi nhận Công Đức của Thần Chú này là: “Đà La Ni này hay ban cho chúng sinh sự an vui tối thắng, chẳng bị tất cả Dạ Xoa, La Sát và các bệnh điên loạn, cùi hủ gây não hại cùng xâm tổn. Nơi cư ngụ luôn luôn được thù thắng, chú trớ yểm đảo chẳng có thể làm hại, tội của nghiệp trước thảy đều tiêu diệt, thời tám nạn ba độc đều không gây tổn hại. Người đó hay thành tất cả việc lành thanh tịnh tối thắng. 
Thường được Chư Thiên Long Vương ủng hộ, Chư Phật, Bồ Tát nghĩ nhớ” Mền Quang Minh thuộc về Mật Tạng. Người muốn sử dụng mền này để đạt kết quả phải có đủ thiện duyên gặp bậc thiện tri thức, thật tu thật chứng. Trì chú vào chiếc mền và đắp cho người lúc lâm chung thì người ấy, được oai thần của chú bảo hộ, giúp thân tâm không bị điên đảo giữ được chánh niệm và không bị đọa vào ba đường ác.


Tỳ Lô Giá Na Quán Đỉnh Chân Ngôn


Bất Không Quyến Thần Biến kinh nói: Nếu các chúng sanh tạo đủ thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, tội số như vi trần, đầy khắp thế giới. Khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào trong đất cát thật sạch cho đủ 108 biến rồi tán rải trên thi hài của vong nhơn hoặc trên mồ mả họ. Vong nhơn kia nếu ở địa ngục, ngạ quỷ, tu la, súc sanh … Nhờ oai lực gia trì của Chơn ngôn, nhờ sức thần thông của chú lực, lúc bấy giờ liền được ánh hào quang của chư Phật rọi vào thân và trừ được các quả báo, xả thân khổ sở, vãng sanh về nước Cực Lạc tây phương Liên hoa hóa sanh, thẳng đến thành Phật không còn bị đọa lạc.

Chơn ngôn: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Đa Dã Hồng.

Ôm, A Mô Ga, Vai Rô Ca Na, Ma Ha Mu Ra, Ma Ni Bát Mê, Gia La, Rát Va Tay Da, Hum .

Úm A mộ già Vĩ lô tả nẵng Ma ha Mẫu nại ra Ma nĩ Bát nạp mạ Nhập phạ lã Bát ra miệt đa dã Hồng.

PHƯƠNG PHÁP TÁN SA

Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.



Tỳ Lô Giá Na Đại Quán Đảnh Quang Chân Ngôn

Trích Kinh Bất Không Quyến Sách

​
Om Amogha Vairocana Maha Mahaudra Mani Padme Jvala Pravarttaya Hum

Trì tụng chú này 108 lần rồi chú nguyện vào trong cát rồi đem rải lên trên thi hài, xương cốt, mồ mả...v..v..thì khiến cho những chúng sinh nào tạo 10 ác, 5 nghịch chết bị đọa vào trong 3 ác đạo đều được giải thoát vãng sanh cõi Cực Lạc Thế Giới của Đức Phật A Di Đà.

Hành giả thường trì tụng Tỳ Lô Giá Na Đại Quán Đảnh Quang Chân Ngôn thì sẽ được thấy Đức Phật A di Đà, mạng chung nhất định được vãng sanh Cõi Cực Lạc..

Om Ah Hum.
Om Vajra Sattva Hum.
Om Mani Padme Hum.
Om Ah Ra Pa Tsa Na Dhi.
Om Mani Vajra Hum, Om Mani Dhari Hum Phat.


Câu Chú Của Thầy Thích Viên Đức Là Câu Chú Mà Kim Đã Đăng Chỉ Là Thầy Thích Viên Đức dùng Phiên Âm Việt Nam Từ Tiếng Hán Không Chính Xác Bằng Phiên Âm Phạn Thẳng Từ Tiếng Phạn Bởi Vì Tiếng Phạn Không Có Dấu Hỏi Ngã Mà Có Cách Đọc Giống Như Tiếng La Tinh.

Om Amogha Vairocana Maha Mahaudra Mani Padme Jvala Pravarttaya Hum

Đây Là Cách Phiên Âm Của KC Từ Âm Phạn.

Ôm, A Mô Ga, Vai Rô Ca Na, Ma Ha Mu Ra, Ma Ni Bát Mê, Gia La, Rát Va Tay Da, Hum .

Đây Là Bản Phiên Âm Của Thầy Thích Viên Đức Từ Tiếng Hán.

Úm A mộ già Vĩ lô tả nẵng Ma ha Mẫu nại ra Ma nĩ Bát nạp mạ Nhập phạ lã Bát ra miệt đa dã Hồng.

Thí Dụ Tiếng Phạn Không Đọc Là Úm Mà Là Ôm

Ma Ni Chứ Không Phải Ma Nĩ





CHÚ TỲ LÔ GIÁ NA
PHẬT ĐẠI QUÁN ĐẢNH QUANG CHƠN NGÔN



Bất Không Quyến Thần Biến kinh nói: Nếu các chúng sanh tạo đủ thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, tội số như vi trần, đầy khắp thế giới. Khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào trong đất cát thật sạch cho đủ 108 biến rồi tán rải trên thi hài của vong nhơn hoặc trên mồ mả họ. Vong nhơn kia nếu ở địa ngục, ngạ quỷ, tu la, súc sanh … Nhờ oai lực gia trì của Chơn ngôn, nhờ sức thần thông của chú lực, lúc bấy giờ liền được ánh hào quang của chư Phật rọi vào thân và trừ được các quả báo, xả thân khổ sở, vãng sanh về nước Cực Lạc tây phương Liên hoa hóa sanh, thẳng đến thành Phật không còn bị đọa lạc.


Chơn ngôn: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Đa Dã Hồng.



PHƯƠNG PHÁP TÁN SA



Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

MẬT CHÚ






🌺NGŨ BỘ CHÚ :
🌼Ngũ bộ tức là 5 bộ. Trong Phật giáo chia thành 5 bộ tộc chính!
🍀Là Phật Bộ (chư Phật)
🍀Là Liên Hoa Bộ (chư Bồ Tát của dòng liên hoa, hiền hòa : quán tự tại ...)
🍀Là Kim Cang Bộ (chư bồ tát, hộ pháp thuộc dòng dõng mãnh, phẫn nộ kim cang)
🍀Là Bảo Bộ (chư Thiên)
🍀Là Yết Ma Bộ (còn gọi là nghiệp dụng bộ, tức là chư quỷ thần)
🌺5 VỊ PHẬT TƯỢNG TRƯNG CHO NGŨ BỘ
🍀Phật Bộ thì có đức Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) Như Lai hay còn gọi là Đại Nhật Như Lai làm giáo chủ
🍀Liên Hoa Bộ thì có đức A Di Đà (Amitābha) Như lai hay còn gọi là Vô Lượng Thọ Phật làm giáo chủ
🍀Kim Cang Bộ thì có đức A Súc Bệ (Akshobhya) Như Lai làm giáo chủ
🍀Bảo bộ thì có đức Bảo Sanh (Ratnasambhava) Như Lai làm giáo chủ
🍀Yết Ma Bộ (nghiệp dụng bộ) thì có đức Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi) làm giáo chủ
🌺Năm vị Phật này trong mật tông còn gọi là Ngũ Phương Ngũ Phật, Ngũ Trì Như Lai, Ngũ Phương Phật!
🌺NGŨ BỘ THẦN CHÚ
Om Ram
Om Shrim
Om Mani Pedme Hum
Om Cale Cule Cunde Svaha
Om Bhrum
🌼Phiên âm Phạn Việt như sau:
Um Ram hoặc là Um Rôm
Um Si-Răn
Um ma ni pết mê hùm
Um cha lê chu lê chun đê sô ha
Um bơ-Rum
🌼Phiên âm việt như sau:
Án Lam
Án Xỉ Lâm
Án Ma Ni Bát Di Hồng
Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha
Án Bộ Lâm


🌺CHÚ TRÍ TUỆ TỪ BI Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
🌼Trì tụng thần chú để tịnh hóa những sự tối tăm, trí tuệ thấp, sự lãng quên và hiện thực hóa 7 trí tuệ.
Ngài Văn thù sư lợi là hiện thân của trí tuệ vô ngại, của vô lượng Phật đà. Ai trì chú này thì có vô lượng công đức rộng lớn không thể nghĩ bàn. Trí tuệ tăng trưởng, thông minh ....
Câu chú của Ngài Văn Thù Sư Lợi có công năng khiến hành giả tăng trưởng trí tuệ mà thâm nhập tánh không.
Chủng tự ngài là Dhi
Ngài gồm 1 đầu và 2 tay .
Tay trái cầm 1 cuốn kinh bát nhã, tay phải cầm 1 cây kiếm trí tuệ bốc lửa.
Vung gươm sắc bén chém màn vô minh.
Câu chú tiếng phạn :
ༀ་ཨ་ར་པ་ཙ་ན་དྷཱི༔
Oṃ A Ra Pa Tsa Na Dhīḥ
oṃ a ra pa ca na dhīḥ
Ốm, A, Ra, Pa, Cha, Na, Đi

🌼Danh hiệu Văn Thù Sư Lợi:
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

🌼VĂN THÙ BỒ TÁT NGŨ TỰ TÂM CHÚ
- A ra bạt giả na.
🌺Kim Cang Đảnh Kinh Ngũ Tự Chơn ngôn Thắng Tướng nói: Nếu người vừa tụng một biến, như tụng tám vạn bốn ngàn thập nhị Vi Đà tạng kinh. Nếu tụng hai biến Văn Thù, Phổ Hiền liền theo gia bị, Hộ Pháp, Thiện Thần ở trước người đó. Lại nữa, nếu tụng một biến hay trừ tất cả khổ nạn của người tu hành. Nếu tụng hai biến trừ diệt ức kiếp sanh tử trọng tội. Nếu tụng ba biến tạm muội hiện tiền. Nếu tụng bốn biến được tổng trì bất vong. Nếu tụng năm biến mau thành Vô thượng Bồ đề. Nếu người nhứt tâm ở riêng chỗ vắng vẻ, viết năm chữ Phạn làm vòng đàn pháp, y pháp niệm tụng mãn một tháng rồi, Văn Thù Bồ Tát liền hiện thân kia, ở trong hư không diễn nói pháp yếu, khi bấy giờ người tu hành được túc mạng trí, biện tài vô ngại, thần túc tự tại, thắng nguyện thành tựu, phước trí đầy đủ, mau chưóng Như Lai pháp thân. Chỉ có tín tâm thọ trì thì trải qua mười sáu đời quyết định thành Chánh giác.



🌺ĐẠI BẢO QUẢNG BÁT LÂU CÁT, THIỆN TRỤ BÍ MẬT ĐÀ LA NI

🌼Nẵng mồ tát phạ đát tha, nghiệt đa nẫm, Úm vĩ bổ lã nghiệt bệ, mạ nĩ bát ra bệ, đát tha đa nễ nại xả nĩnh, mạ nĩ mạ nĩ, tô bát ra bệ, vĩ mạ lê, ta nghiệt ra, nghiễm tỷ lệ, Hồng hồng nhập phạ lã, nhập phạ lã, một đà vĩ lô chỉ đế, hủng đế dạ địa sắc sỉ, đa nghiệt bệ, ta phạ ha.

🌼Tâm chú: Úm ma nĩ phạ nhựt ra hồng.

🌼Tùy tâm chú: Úm ma nĩ đà lị hồng phấn tra.

🌺TÁN THÂU

Quảng bát thần chú, tối thắng viên dung trượng thừa Phật lực vỉnh lưu thông, phổ hộ Đạo tràng trung, dương thới âm siêu, xướng tụng phước vô cùng.
Nam mô tiêu tai tăng phước thọ Bồ tát, ma ha tát. (3 lần)

🌺Kinh ghi là: “Đà La Ni này có uy đức lớn. Đức Phật do Đà La Ni này mà thành Đạo, do Đà La Ni này mà hàng phục chúng Ma, hay diệt ác chướng, hay thành sáu Độ (6 Ba La Mật)

Quán Tự Tại Bồ Tát cam lồ chơn ngôn




QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT CAM LỒ CHƠN NGÔN

Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Ðà Ra Ni nói: Nếu người tụng chú này, đời quá khứ, hiện tại đã tạo tứ trọng , ngũ nghịch, hủy báng kinh Phương Ðẳng, tội nhứt xiển đề, hết thảy các tội đều được tiêu diệt không còn dư sót, thân tâm nhẹ nhàng, trí huệ minh mẫn. Nếu thân hoặc lời nói thảy hay lợi lạc tất cả hữu tình. Nếu có chúng sanh rộng tạo tất cả các tội Vô gián, nếu được gặp người trì chú này, hình bóng chói vào thân của người kia, thoạt được cùng nói chuyện, hoặc nghe tiếng nói người kia, tội chướng thảy đều tiêu diệt. Nếu muốn lợi ích tất cả hữu tình, mỗi khi trời mưa khởi đại bi tâm, ngửa mặt hướng hư không tụng Chơn ngôn này 21 biến, mỗi giọt mưa kia thấm nhuần tất cả hữu tình, diệt hết tất cả nghiệp trọng tội, đều được lợi lạc.

Chơn ngôn: Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dả, nẵng mồ a lị dã, phạ lồ chỉ đế thấp phạ ra dả, mạo địa tát đát phạ dả, ma hạ tát đát phạ dả, ma ha ca rô nĩ ca dả, đát nễ dã tha. Úm Ðộ Nĩnh Ðộ Nĩnh, Ca Ðộ Nĩnh Ta Phạ Hạ.

(Ca hoặc nói hát nê, hoặc nói nhĩ nĩnh, hoặc nói nễ.)

GIẢI: Nếu muốn lược tụng, chỉ trì từ chữ Úm trở xuống, chữ Úm trở lên là lời quy kính, chánh chú là từ chữ Úm. Nếu chép Chơn ngôn Phạn tự này trên chuông, trống, khánh v.v… tất cả những vật có ra tiếng, các chúng sanh nghe tiếng kia thảy đều thanh tịnh, mạng chung được sanh về Tây phương Tịnh độ.



LỤC TỰ ÐẠI MINH CHƠN NGÔN

- Úm ma ni pát mê hum.

- Úm ma ni bát di hồng.

- Úm ma ni pết nạp minh hồng.



Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương nói: Khi bấy giờ đức Quán Tự Tại Bồ Tát nói Thần chú Ðại Minh này, bốn đại bộ châu và cung điện của các cõi trời, thảy đều rung động, nước bốn biển lớn, nổi sóng ào ạt. Hết thảy các ma làm việc chướng ngại đều sợ hãi chạy trốn tản mất.

Phật bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu chữ Ðại Minh Vương đây, thì người đó tham, sân, si, độc không thể nhiễm ô. Nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn ngôn này vô lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn khó biết, huống gì Bồ Tát làm thế nào biết được. Ðây là chỗ bổn tâm vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát. Nếu người nào thường hay thọ trì chú Ðại Minh này, ở lúc trì tụng có 99 căn già hà sa số Như Lai tập hội, lại có vi trần số Bồ Tát tập hội, lại có vô số Thiên Long, Bát Bộ đến để hộ vệ người ấy. Người trì tụng Thần chú này bảy đời dòng họ đều sẽ được giải thoát, trong bụng có các loài trùng sẽ được địa vị bất thoái chuyển của Bồ Tát. Nếu đeo trì trong thân trên đảnh, có người được thấy người đeo trì ấy cũng như đồng thấy thân Kim Cang của Như Lai. Nếu hay y pháp niệm tụng, tức được vô tận biện tài, ngày ngày thường đủ sáu Ba la mật, viên mãn công đức. Nếu trong miệng hơi thở ra chạm vào người nào, người đó liền khởi tâm lành, xa lìa các sân độc, sẽ được bất thoái chuyển Bồ Tát, mau chứng Vô thượng Bồ đề. Người đeo trì giữ gìn chú này, lấy tay rờ đến người nào, hoặc lấy đôi mắt liếc nhìn đến các loài dị loại, các hữu tình, thảy đều mau được địa vị Bồ Tát. Người như vậy vĩnh viễn không thọ các khổ sanh, lão, bịnh, tử. Lại nữa Phật nói: Vi trần đã có, ta có thể đếm số lượng kia được, cho đến nước đại hải ta có thể biết số lượng kia. Nếu có người niệm sáu chữ Ðại Minh một biết, đã được công đức mà ta không thể đếm tính số lượng, giả như trong bốn đại châu, tất cả kẻ nam nữ đều chứng được địa vị Thất Ðịa Bồ Tát, công đức đã có cùng với người niệm Lục Tự Ðại Minh một biến mà công đức không sai khác. Nếu có người viết chép Ðại Minh này, đồng với viết chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng. Nếu lấy kim bảo cõi trời tạo hình tượng của các đức Như Lai số như vi trần, không bằng chép viết một chữ trong sáu chữ Ðại Minh này, chỗ thu hoạch công đức quả báo không thể nghĩ bàn, người ấy sẽ được 108 món Tam ma địa môn. Chỉ niệm một biến sẽ được tất cả Như Lai đem y phục, ẩm thực, thuốc thang và đồ ngồi nằm đầy đủ tất cả để cúng dường. Pháp này ở trong Ðại Thừa rất là tối thượng, tinh thuần vi diệu. Tất cả Như Lai và các Bồ Tát thảy đều cung kính chấp tay làm lễ.

Khi nói sáu chữ Chơn ngôn này, có bảy mươi trăm ức các đức Như Lai đều đến tập hội, đồng nói: Thất Cu Chi Chuẩn Ðề Ðà Ra Ni. Vậy nên biết sáu chữ Chơn ngôn cùng với Chuẩn Ðề Chơn ngôn đầu đuôi tương tu. Như muốn cùng Chuẩn Ðề Chơn ngôn đồng tụng ấy, có thể ở trước Chuẩn Ðề Chơn ngôn niệm tụng. Song cần yếu hiệp hai chữ nạp minh làm một chữ mới phù hợp Phạn âm. Hoặc muốn riêng trì tụng, công đức như trên đã nói. Nếu muốn như pháp kiết đàn niệm tụng rõ như bản kinh văn, đây không chép hết.



A DI ÐÀ PHẬT NHẤT TỰ TÂM CHÚ

Chơn ngôn “Hật Rị”.

Om A Mi Tabha Hrih.

Úm A Di Ðát Phạ Hật Rị Sa Ha.

Câu chú này luôn luôn đi theo với Úm Ma Ni Pát Mê Hum (Hồng). Căn cứ theo chư sư truyền lại, nên thêm Úm A Di Ðát Phạ và thêm chữ Ta Ha cũng được.

Kinh dạy: Chữ Hật Rị (HRIH) Ðủ bốn chữ thành một Chơn ngôn. Chữ Hạ tự môn, nghĩa là tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA tự môn, nghĩa là tất cả pháp ly trần. Trần nghĩa là ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Cũng gọi hai món chấp trước năng thủ và sở thủ. Chữ Y tự môn, là tự tại bất khả đắc, hai điêm ác tự nghĩa. Chữ Ác gọi là Niết Bàn. Do giác ngộ các pháp vốn không sanh, đều xa lìa món chấp trước, chứng được pháp giới thanh tịnh. Chữ Hật Rị này cũng nói làm tàm (hổ thẹn), nếu nói đủ là tàm quí (hổ thẹn), tự thẹn với lương tâm mình và xấu hổ đối với kẻ khác, vì thế nên không làm tất cả điều bất thiện vậy. Ðầy đủ tất cả pháp lành vô lậu vậy. Cho nên Liên Hoa Bộ cũng gọi là Pháp Bộ.

Do gia trì chữ Hật Rị này mà ở thế giới Cực Lạc, nước, chim, cây, rừng đều diễn nói pháp âm. Rộng như trong kinh đã thuyết minh. Nếu có người nào trì một chữ Chơn ngôn này, có công năng hay diệt trừ tai họa, tật bệnh. Sauk hi chết sẽ sanh về cõi An-Lạc quốc, được thượng phẩm thượng sanh. Ðây là nhứt thông tu Quán Tự Tại tâm Chơn ngôn của người tu hành và cũng là hay trợ giúp cho các người tu các bộ Du Già vậy.





VĂN THÙ BỒ TÁT NGŨ TỰ TÂM CHÚ

- A ra bạt giả na.

Kim Cang Ðảnh Kinh Ngũ Tự Chơn ngôn Thắng Tướng nói: Nếu người vừ tụng một biến, như tụng tám vạn bốn ngàn thập nhị Vi Ðà tạng kinh. Nếu tụng hai biến Văn Thù, Phổ Hiền liền theo gia bị, Hộ Pháp, Thiện Thần ở trước người đó. Lại nữa, nếu tụng một biến hay trừ tất cả khổ nạn của người tu hành. Nếu tụng hai biến trừ diệt ức kiếp sanh tử trọng tội. Nếu tụng ba biến tạm muội hiện tiền. Nếu tụng bốn biến được tổng trì bất vong. Nếu tụng năm biến mau thành Vô thượng Bồ đề. Nếu người nhứt tâm ở riêng chỗ vắng vẻ, viết năm chữ Phạn làm vòng đàn pháp, y pháp niệm tụng mãn một tháng rồi, Văn Thù Bồ Tát liền hiện thân kia, ở trong hư không diễn nói pháp yếu, khi bấy giờ người tu hành được túc mạng trí, biện tài vô ngại, thần túc tự tại, thắng nguyện thành tựu, phước trí đầy đủ, mau chưóng Như Lai pháp thân. Chỉ có tín tâm thọ trì thì trải qua mười sáu đời quyết định thành Chánh giác.

GIẢI: (Muốn làm phép gia trì kiết giới, rõ như Ngũ Tự Tâm Ðà Ra Ni phẩm.)





ÐẠI BẢO QUẢNG BÁT LẦU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT ÐÀ RA NI

Nẵng mồ tát phạ đát tha, nghiệt đa nẫm, Úm vĩ bổ lã nghiệt bệ, mạ nĩ bát ra bệ, đát tha đa nễ nại xả nĩnh, mạ nĩ mạ nĩ, tô bát ra bệ, vĩ mạ lê, ta nghiệt ra, nghiễm tỷ lệ, Hồng hồng nhập phạ lã, nhập phạ lã, một đà vĩ lô chỉ đế, hủng đế dạ địa sắc sỉ, đa nghiệt bệ, ta phạ ha.

Tâm chú: Úm ma nĩ phạ nhựt ra hồng.

Tùy tâm chú: Úm ma nĩ đà lị hồng phấn tra.

Chú này trước sau có ba nhà dịch, bản dịch ban đầu bị mất, người tên Khai Nguyên lục chép ra vào đời Lương Trung Hoa, sau Ngài Bồ Ðề Lưu chỉ dịch, đến lượt thứ ba Ngài Bất Không Tam Tạng dịch. Nay sợ người mới học khổ nỗi Phạn âm, nên mới giảo đính lại cả ba bản dịch, chép ra chính bản văn của Ngài Bất Không Tam Tạng, còn chữ của hai bản dịch kia không đồng, nên bản này rõ hơn, để cho người tu tập âm giọng không còn nghi trệ.

Kinh dạy rằng: Ðà Ra Ni này có đại oai đức. Phật do đây thành đạo, do đây hàng ma, hay diệt ác chướng hay thành lục độ. Nếu chép nơi chuông, trên điện, trên lụa, vải, trên giấy, trên vách tường, bảng v.v… những vật trên đó có các chúng sanh mắt tạm được thấy. Hoặc thân tay chạm đến, hoặc chói qua trong hình bóng và các người khác đụng chạm đến người này, hoặc mang nơi thân, hoặc đeo nơi đảnh, hoặc chép nơi trên vật có tiếng, hoặc người nghe thấy tiếng ấy, hoặc người đọc tụng, hoặc chỉ nghe tên Ðà Ra Ni này, những chúng sanh như vậy, dù có những tội tứ trọng, ngũ nghịch thập ác, thảy đều tiêu diệt, quyết định sẽ chứng đắc Vô thượng Bồ đề, hay ở nơi hiện đời được vô lượng trăm ngàn công đức, thường được quốc vưong, tể quan, bốn chúng cung kính vui mừng, không thọ thế gian các thứ khổ não, độc dược, dao gậy, các nạn nước lửa, tất cả các ác thú như sư tử, cọp, sói không dám làm hại. Lại không bị các nạn trộm cướp, các độc xà, các tà thần, quỷ mị. Hiện thân không thọ tất cả các bịnh: nghĩa là bịnh rét, bịnh mắt, bịnh tai, bịnh mũi, bịnh lưỡi, bịnh răng, bịnh môi, bịnh yết hầu, bịnh đầu, bịnh cổ. Các bịnh của chi phần: Bịnh tay, lưng, hông, rún, trĩ, đái sưng, lị, nhọt rò, nhọt, đầu gối, gót chân, mụn con, ban, dạ dày, ghẻ lở, sẹo, lác, hắc lào, hết thảy các bịnh như vậy không dính vào thân. Không bị trù rủa, yếm đảo độc trùng, chú trớ, thư nộp, mà dính nơi thân, không bị tai hoạnh mà chết. Nằm ngủ yên ổn, thức thì an vui, ở trong chiêm bao mộng thấy trăm ngàn cõi Phật. Cùng thấy chư Phật và Bồ Tát đoanh vây chung quanh, khi mạng gần chết tâm không tán loạn, tất cả chư Phật hiện ra trước mặt an ủi. Lại tất cả các loài bàng sanh như nai, chim, mòng, muỗi, trùng, kiến, ong bướm cho đến thai noãn, thấp, hóa, các loài hữu tình nghe danh Ðà Ra Ni này, hoặc thân chạm xúc, hoặc trong bóng ngã qua, quyết định sẽ đắc Vô thượng Bồ đề.

Lại có người nào trên đảnh núi cao, tụng Ðà Ra Ni này, tầm mắt phóng thấy tận đến chỗ nào, tất cả chúng sanh ở nơi ấy đều được diệt trừ tất cả tội nghiệp (rộng như trong kinh đã dạy.)



CÔNG ÐỨC BẢO SƠN ÐÀ RA NI

Nam Mô Phật Ðà da

Nam Mô Ðạt Ma da

Nam Mô Tăng Già da

Úm tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.

(Chữ hộ cũng nói là hồ, đô cũng đọc là độ, chỉ cũng đọc giá, ba cũng đọc bà, lị cũng đọc nĩ khứ thinh.)

Kinh Ðại Tập nói: Nếu người tụng chú này một biến, như lễ Ðại Phật Danh kinh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến. Lại như chuyển Ðại Tạng 60 vạn 5 ngàn 4 trăm biến. Tạo tội quá mười cõi sát độ, đọa vào A Tỳ địa ngục chịu tội, kiếp hết lại sanh nơi khác để chịu tội. Niệm chú này một biến, tội kia đều được tiêu diệt, không còn đọa vào địa ngục, khi mạng chung quyết định vãng sanh Tây phương thế giới, được thấy Phật A Di Ðà, thượng phẩm thượng sanh.

GIẢI: Tạo tội hơn mười sát độ ấy, nghĩa là tội đã tạo quá hơn mười thế giới vi trần; kiếp hết lại sanh, nghĩa là cõi Ta Bà thế giới này khi đã hoại diệt, tội kia chưa hết, liền gởi sanh trong địa ngục ở thế giới phương khác. Cõi này thành rồi đời người tội nhơn kia trở về trong địa ngục phương này mà chịu khổ báo.





TAM TỰ TỔNG TRÌ CHƠN NGÔN

- Úm Á Hồng

- Úm A Hum

- Án dạ hồng.

Du Già Ðại giá Vương kinh nói: Chữ Úm là Ðại Biến Chiếu Như Lai tức Phật Tỳ Lô Giá Na. Chữ Á là Vô Lượng Thọ Như Lai, tức Phật A Di Ðà. Chữ Hồng là A Súc Như Lai, tức Bất Ðộng Phật. Ðức Như Lai nhơn ở trong nhiều năm tu trì hành đạo không đắc Bồ đề, sau tu tập quán tưởng này, trong khoảng nửa đêm liền thành Chánh giác. Nghĩa là chữ ÚM gồm đủ vô lượng pháp môn, là mẫu của tất cả Chơn ngôn (Thần chú). Tất cả Như Lai đều nhơn quán tưởng chữ này mà được thành Phật. Chữ A (hay Á) là Tỳ Lô Phật thân, cũng là pháp giới, cũng là Bồ đề tâm. Nếu người tưởng niệm, hay sanh vô lượng công đức. Chữ Hồng tổng nhiếp Kim Cang bộ, tất cả Chơn ngôn (Thần chú) là chủ thân Kim Cang bộ, cũng là ba môn giải thoát. Nếu thường tưởng niệm, hay trừ tất cả tội chướng, thành tựu tất cả công đức. Ba giải thoát môn: 1- Không giải thoát môn, 2- Vô tướng giải thoát môn, 3- Vô nguyện giải thoát môn. Căn bản các hạnh của đại Bồ Tát từ sơ phát tâm đến “Nhứt thiết trí”.

Chư Giáo Quyết Ðịnh Danh Nghĩa Luận nói: Chữ Hồng tức Pháp thân, chữ A tức Báo thân, chữ Úm tức Hóa thân. Ba chữ như vậy nhiếp cả ba thân này, để phân biệt nói tam thừa và đạo giải thoát, ấy là nhơn chánh thuyết, nói có Thanh Văn, Duyên Giác và Nhứt thiết trí. Do trí xuất hiện nói tất cả pháp, tức ba chữ kia cũng là Kim Cang tam nghiệp, như thật an trụ; nghĩa là Úm – A - Hồng. Trong chữ Úm này, là Kim Cang thân nghiệp, chữ A Kim Cang ngữ nghiệp, chữ Hồng Kim Cang tâm nghiệp. Lại nữa, chữ Hồng là tâm trí giác liễu (rõ thấu tất cả) tất cả pháp như trên đã nói. Phải biết tất cả văn tự đều từ chữ Úm A Hồng ba chữ mà ra, do đó nên các pháp khởi lên các tướng phân biệt tất cả pháp kia, đều cùng Úm – A hai chữ trước sau nhiếp nhau. Chữ Hồng trong đây, xuất sanh tất cả, ở trong ba cõi, xuất hiện các sắc; nghĩa là có Thiên, Nhơn, Long, A tu la, Ca lầu la, Khẩn Na La, Càn thác bà. Thành tựu Trì Minh Thiên, Cát Tường Thiên, Biện Tài Thiên, Ô Ma Thiên, Ðế Thích Thiên, Phạm Vương Thiên, Na La Diên Thiên, Ðại Tự Tại Thiên, những trời như vậy, và Thiên hậu đã có tất cả trong cõi hữu tình kẻ nam tử, người nữ nhơn cho đến hết thảy các Phật, Bồ Tát đều từ chữ Hồng này xuất sanh biến hóa, kia mỗi một tâm, trụ tướng chữ này, nếu khi tâm tưởng chữ này, phải trụ nơi hư không, xuất sanh ra vô ngại, nghĩa là tâm ba cõi, đồng một tâm này, được nhập vào tâm rồi, tức được gọi là hiện chứng Bồ đề, phải biết tâm này là vô đẳng, vô thủ, vô trước, vô trụ, vô biểu, vô tướng, tức là hư không bình đẳng tất cả trí vô sở đắc, tương ưng không tự, không tha, tương ưng chánh hạnh. Thế gian đã có Chiên đà la tối hạ chủng tộc v.v… các loại kia cũng bình đẳng các hạnh cho đến các loại súc sanh, kia đã có hạnh, các hạnh sai khác. Các hạnh như vậy, tuy lại sai khác, đều cũng không lìa nhứt thiết trí, trí tương ưng chánh hạnh v.v…

Thành Phật Nghi Quỹ tụng rằng:

Do tụng chữ Úm này, gia trì oai lực vậy.

Dù quán tưởng không thành, nơi các Phật hải hội.

Các cúng dường mây biển, chơn thật đủ thành tựu.

Do chư Phật chắc thật, pháp nhĩ đã thành vậy.

Do vừa tụng chữ Á, diệt sạch các tội chướng.

Ðược các vui ý lạc, đồng đẳng tất cả Phật.

Vượt hơn các chúng ma, không thể làm chướng ngại.

Ðáng thọ các thế gian, rộng nhiều thứ cúng dường.

Do gia trì chữ Hồng, cọp sói các trùng độc,

Ác tâm người chẳng người, không còn thể khuấy phá.

Như Lai mới thành đạo. Nơi dưới cội Bồ đề.

Dùng Ấn Mật ngôn này, phá dẹp chúng Thiên ma.

Kinh Ðại Phật Ðảnh Ðà Ra Ni nói: Giả sử có chúng sanh nơi tâm tán loạn, miệng tụng Thần chú, còn có 8 vạn 4 ngàn na do tha hằng hà sa trăm ức, Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát chủng tộc. Mỗi vị đều có các chúng Kim Cang làm quyến thuộc. Ngày đêm thường theo hầu hạ ủng hộ, người này dù cho ma vương rình tìm phương tiện, trọn không thể được, các Thần quỷ núi đi cách xa người thiện nhơn này, ngoài mười do tuần. Nếu có quyến thuộc của ma muốn tìm đến phá rối người thiện ấy, các chúng Kim Cang lấy chày Bảo xử đập nát cái đầu kia cũng như hạt bụi, hằng khiến người này việc làm như nguyện.

GIẢI: Như trên tu trì bi kỉnh các Chơn ngôn, nếu không thể mỗi mỗi tụng trì chép tả ấy, thì tất cả việc làm hết thảy đều dùng Chuẩn Ðề Chơn ngôn cũng được. Vì Chuẩn Ðề Chơn ngôn giống như châu ngọc như ý, nếu người tu hành trì tụng nơi chỗ dùng đó, đều được thành tựu. Như trên tụng trì Chơn ngôn, hay diệt ngũ nghịch, thập ác, tứ trọng tội ấy. Phải biết tội có Tánh tội và Giá tội, sám hối phải đủ Sự Lý. Tánh thời không luận thọ giới hay không thọ giới, làm là có tội. Giá (ngăn) nghĩa là tăng thọ Phật giới, tâm hủy phạm. Sự, cần phải trình bày phát lồ, lễ Phật danh kinh, tu hành các nghi Phương Ðẳng, để hàng phục cội gốc của nghiệp. Lý, nghĩa là chuyên quán thật tướng, đạt tội tánh không, diệt nghiệp căn nguồn. Các Chơn ngôn Thần chú này, nếu hay y pháp tụng trì, tức song vận cả Sự Lý, nguồn tội gốc nghiệp liền tiêu. Nếu phạm cấm giới, căn cứ theo luật nói sám hối, gia thêm Thần chú, thời Sự Lý gồm đủ, Tánh Giá đều tiêu hết không sót. Không thể vừa nghe công lực của Thần chú như thế, liền trái phạm cấm giới, không y luật sám hối thì giá tội cũng phải còn. Hoặc nhờ nương Nghi Quỹ Chơn ngôn lại tạo thêm các lỗi. Thí như người ngu, ỷ thế lực của vua, rộng tạo các ác, họa trọn đứt đầu. Nghiệp tâm không dứt, tội thật khó trừ, quyết khiến thân tâm đều tiêu, mới được diệt tội, như ánh mặt trời sương mù tiêu tan.





SỔ CHÂU CÔNG ÐỨC PHÁP

Nói về tràng chuỗi, để tâm ghi nhớ cho người sơ cơ chứa nhóm công đức. Trì ấy là thành đức, đeo là diệt tội cấu, quả tốt của thế gian và xuất thế gian đâu không do đây ư! Như kinh Kim Cang Ðảnh Du Già Niệm Châu nói: Lúc bấy giờ đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn bảo Ngài Kim Cang Thủ rằng: Lành thay! Lành thay! Vì các Bồ Tát tu Chơn ngôn hạnh, nói các Nghi Quỹ, thương xót đời vị lai, hết thảy hữu tình, nói công đức thắng lợi niệm châu, do nghe như vậy, diệu ý thú ấy, mau chứng Tất Ðịa. Khi bấy giờ Ngài Kim Cang Tát Ðỏa Bồ Tát bạch Phật mà nói: Thưa Thế Tôn! Con nay xin nói. Lúc bấy giờ Kim Cang Tát Ðỏa Bồ Tát nói bài kệ rằng:

Châu biểu thắng quả của Bồ đề,

Nơi trong đoạn dứt hữu vi lậu.

Sợi dây xâu suốt biểu Quán âm,

Mẫu châu biểu tượng Vô Lượng Thọ.

Dùng lần qua khỏi tội vượt pháp,

Ðều do niệm châu chứa công đức.

Xa cừ niệm châu một bội phước.

Gỗ quý niệm châu hai bội phước.

Lấy thiết làm châu ba bội phước,

Thục đồng làm châu bốn bội phước.

Thủy tinh chơn châu và các bảo,

Thứ ấy niệm châu trăm bội phước.

Ngàn bội công đức Ðế Thích hột,

Kim Cang hạt châu trăm ức phước.

Sen hạt niệm châu ngàn trăm ức,

Bồ đề hạt châu vô số phước.

Phật bộ niệm châu Bồ đề hạt

Kim Cang bộ pháp Kim Cang hạt.

Bảo Hộ niệm tụng dùng các bảo,

Liên Hoa bộ châu dùng sen hạt.

Trong yết ma bộ làm niệm châu,

Các châu xen lộn nên xâu lại.

Niệm châu phân biệt có bốn món,

Thượng phẩm tối thắng và trung hạ.

Một ngàn tám mươi là bực trên,

Một trăm lẻ tám châu tối thắng.

Năm mươi bốn châu là bực trung,

Hai mươi bảy châu là bực hạ.

Hai tay trì châu để ngang ngực,

Tịnh lặng lìa niệm tâm chuyên chú.

Bổn Tôn Du Già tâm một cảnh,

Ðều được thành tựu sự lý pháp.

Dù để đầu đảnh hay thân mang,

Hoặc đeo nơi cổ hay nơi tay.

Lời nói luận bàn thành niệm tụng,

Lấy đây niệm tụng ba tịnh nghiệp.

Do để đảnh đầu tịnh vô gián,

Do đeo trên cổ tịnh tứ trọng.

Nắm châu nơi tay trừ trọng tội,

Hay khiến hành giả mau thanh tịnh.

Nếu tu Chơn ngôn Ðà Ra Ni

Niệm các Như Lai Bồ Tát danh.

Ðược thu vô lượng thắng công đức,

Mong cầu thắng nguyện đều thành tựu.



(Ba bộ niệm tụng trì số châu, thủ ấn tướng nay sẽ phân biệt.)

Tô Tất Ðịa cúng dường pháp nói: Lấy tay mặt ngón tay, nắm ngón vô danh, ngón trỏ mở thẳng, ngón giữa ngón út hơi co, lấy ngón trỏ để sát một bên lóng trên ngón giữa. Ðây là thông ba bộ chấp số châu ấn. Liên hoa bộ chấp số châu ấn. Lấy tay mặt ngón cái nắm ngón tay giữa, còn ba ngón kia thì mở ra thẳng, tay trái cũng vậy. Kim Cang bộ chấp châu ấn. Lấy tay mặt nắm lại, mở thẳng ngón cái, nắm ngón trỏ, tay trái cũng vậy. Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ nói: bảo người con gái nhỏ lấy chỉ xe lại thành 21 lần, thành rồi mới xâu hạt châu. Khi trì tụng, lấy ngón tay cái nắm một hạt châu, tụng một biến Chơn ngôn.



HÀNH DU GIÀ BÍ MẬT PHÁP YẾU

Ðại Luân Kim Cang Ðà Ra Ni.

Nẵng mồ tư để lị dã, địa vĩ ca nẫm, đát tha nga đa nẫm, ám, vĩ la nể, ma ha chiết ca ra, phạ nhựt lí, ta đa, ta đa, ta ra đế, ta ra đế, đát ra dĩ, đát ra dĩ, vĩ đà ma nể, tam bạn nhã nễ, đát ra ma để, tư đà nhĩ lí da, đát lãm, ta phạ ha.

Phạn âm:

Nô môsi ti li gia, ti mi ca năng, thạc ta gia thạc năng, ản pi la ni, pi la ni, ma kha tchêch cà la, ma di li, sa thạc sa thạc, sa la ti, sa la ti, thạc la ý, thạc la ý, pi thạc ma ni, sam bàn già ni, thạ la ma ni, si tạ mi lì gia, thạ nắng, sa va kha (3 biến).

A Súc Như Lai tụng pháp nói:

Do tụng Chơn ngôn này như vào vòng đàn pháp (Mandala).

Mất niệm phá chánh định, Bồ Tát cùng Thanh Văn.

Thân miệng hai luật nghi, tứ trọng ngũ vô gián.

Các tội chướng như vậy, thảy đều được thanh tịnh.

Lại Cam Lồ Quân Trà Lợi Bồ Tát, niệm tụng nghi nói: Kế đến Kim Cang Luân Bồ Tát ấn, vì nhập vào đàn pháp, thọ được ba đời vô chướng ngại, ba món luật nghi của Bồ Tát, do nhập vào đàn pháp, thân tâm đủ mười vi trần sát thế giới, vi trần số Tam ma da, vô tác giới cấm. Hoặc nhơn co duỗi cúi ngước, phát lời ra hơi, khởi tâm động niệm, quên mất tâm Bồ đề, lui mất căn lành. Lấy ấn khế mật ngôn thù thắng phương tiện này, tụng trì tác ý, hay trừ vi phạm các lỗi lầm. Ta ma da như vậy, tăng thêm ánh quang tỏ. Hay tịnh thân khẩu ý. Ðược thành nhập tất cả đàn, thu hoạch quán đảnh Tam ma da.

CHÚ Ý ẤN TƯỚNG

Hai tay bên trong tréo nhau, đứng thẳng hai ngón tay trỏ khít nhau, lấy hai ngón tay giữa quấn vào hai ngón tay trỏ ở trước lóng thứ nhứt, mỗi ngón tay trỏ đứng nhau, hai ngón cái giáp thẳng nhau. Kiết ấn để ngang ngực, niệm tụng mật ngữ. Nếu chưa nhập đàn không cho làm các phép. Nên dùng Chơn ngôn này, tức sẽ được nhập vào đàn làm các phép tắc, thì không thành tội trộm pháp vậy.

Kết ấn khế, đối với nhà tu Mật tông rất quan trọng, quyết cần phải đến thầy truyền trao cho mới có linh nghiệm, không cho người khác xem thấy. Khi kết ấn phải ở chỗ tịch tịnh, thân thừa thọ bẩm chư sư truyền lại, khi kết ấn phải để kín trong áo y, nếu làm không đúng pháp mà kết ấn, các Mị thần, và Tỳ Na Dạ Ca sẽ làm chướng nạn chết đọa địa ngục. Không được quán đảnh, không phát Bồ đề tâm. Trước các người khác không được kết các ấn khế.





TỤNG KỆ

Khể thủ qui y Tô Tất Ðế

Ðầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi,

Ngã kim xưng tán Ðại Chuẩn Ðề,

Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.



Nam Mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đà cu chi nẫm đát điệt tha: Úm (Án) Chiết Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Ðề Ta Bà Ha. (Bộ Lâm) (3 lần)

Thiêu hương (thắp hương)

Tụng kệ Chuẩn Ðề và Thần chú ba biến; kính lễ ba lễ.

SÁI TỊNH

Tụng chú Chuẩn Ðề gia trì trong chén hay tịnh bình 21 biến. Sái vẩy nơi thân và nơi đất tám phương trên dưới.

KẾT ẤN HỘ THÂN

Tụng Úm (Án) Xỉ Lâm (21 biến)

Tụng chú Chuẩn Ðề (7 biến)

An ấn nơi trên đảnh, nơi trán, nơi vai mặt, nơi vai trái, nơi tâm (giữa ngực) nơi miệng. Rồi xả ấn lên đảnh đầu.

PHỔ LỄ

Dùng toàn kệ toàn chú Chuẩn Ðề ba biến (3 lễ). Ðứng hay ngồi nơi tòa tùy ý.

TỊNH PHÁP GIỚI

Tụng Úm (Án) Lam (21 biến)

Tụng chú Chuẩn Ðề 3 biến.

Kiết ấn quán tưởng.

Từ chữ Lam biến thành vòng lửa tam giác thiêu tận từ đảnh đến chân của hành giả.

KIẾT GIỚI

Dùng Thần chú Chuẩn Ðề.

Kết ấn.

Trước xoay bên trái niệm ba biến, kế xoay bên mặt niệm ba biến. Sau nơi trán, vai trái, vai mặt, tâm (ngực), nơi miệng đủ năm biến, mỗi nơi một biến.

TRIỆU THỈNH

Dùng Thần chú Chuẩn Ðề. Kiết ấn Chuẩn Ðề (Bổn Tôn ấn) ba biến triệu thỉnh.

Quán tưởng đức Bổn Tôn Chuẩn Ðề giáng lâm an trụ Kính đàn.

CÚNG DƯỜNG

Kết Cúng Dường ấn (Hư Không Tạng ấn)

Tụng Chuẩn Ðề bảy biến.

Tâm quán sáu món cúng dường,

Rất nhiều vô lượng vô số.



BỔN TÔN GIA TRÌ

Kiết ấn Chuẩn Ðề. Tụng chú Chuẩn Ðề bảy biến (rồi xả ấn trên đảnh) ẤN.

Chánh niệm tụng.

Trì châu (lần chuỗi) niệm Chuẩn Ðề chú 108 hay 1080 biến.

TÁN THÁN

Ðại tai Phật Mẫu,

Vô đẳng Vô luân,

Nhứt thập bát tý hiển Oai Thần,

Mật chú lợi Thiên Nhơn.

Lễ niệm công thuần,

Ðờn chỉ xuất mê tân.

Nam Mô Chuẩn Ðề Vương Bồ Tát (3 lần)

(Sau gia trì) chấp tay niệm chú Chuẩn Ðề bảy biến (hoặc tụng kinh chú khác tùy lòng).

TRỞ LẠI CÚNG DƯỜNG

Kết Hư Không Tạng ấn

Tụng chú Chuẩn Ðề bảy biến, quản tưởng sáu món cúng dường.

- Khể thủ quy y Tô Tất Ðế

Ðầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi

Ngã kim xưng tán Ðại Chuẩn Ðề

Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.

Nam Mô táp đa nẫm tam miệu tam bồ đà cu chi nẫm đát điệt tha:

ÚM CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ HA. (3 lần)

SỞ NGUYỆN HỒI HƯỚNG

Ngã kim trì tụng Ðại Chuẩn Ðề,

Tức phát Bồ đề quảng đại nguyện

Nguyện ngã công đức giai thành tựu

Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm,

Nguyện cộng chúng sanh thành Phật đạo.



Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,

Giai do vô thỉ tham sân si.

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,

Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.



Ngã đệ tử … sở nguyện.

Linh ngã hiện thế chi nội,

Tất Ðịa đắc thành tựu.

Ngũ phước trùng tăng,

Tha báo chi trung, nhị nghiêm sung bị.

Giải giới ( Kiết giải giới ấn, tụng chú Chuẩn Ðề một biến)

PHỤNG TỐNG ẤN (Ðưa đi)

Tụng Chuẩn Ðề ba biến, đưa ấn ra như hình đồ, rồi xả ấn lên đảnh.

Kế tiếp ấn Hộ thân

Tụng Chuẩn Ðề 7 biến, ấn năm chỗ trên đảnh, trán, vai mặt, vai trái, tâm (ngực), miệng. Rồi xả ấn lên đảnh.

Chấp tay đảnh lễ, tụng toàn bài kệ và toàn chú Chuẩn Ðề ba biến (lễ 3 lễ). Kết phổ lễ ấn.

PHỤ BẢN TRÌ CHÚ THÁP

Người tu hành pháp bí mật, như trong kinh dạy, cần phải đến nơi núi non, hang gọp, nơi hoang đảo, nơi tịnh xứ, nơi mé biển bãi cát, in hình tháp mà trì chú Chuẩn Ðề, nếu chưa có nhơn duyên đi các nơi ấy, ở nơi tịnh thất trang nghiêm, in hình tháp trên giấy trì chú Chuẩn Ðề. Trì Chuẩn Ðề Chơn ngôn mỗi 108 biến chấm vào vòng tròn trên tháp, xong rồi để trước tượng Bổn Tôn Chuẩn Ðề, cầu nguyện những gì mình mong ước.

Như cầu vị Tất Ðịa, hoặc cầu tiêu tai chướng, hoặc cầu phước đức thông minh, cầu tiền tài, hoặc sở cầu như ý v.v…

Cầu nguyện rồi thiêu đốt tháp nơi trong lư. Một tháp chưa thành tiếp niệm hai, ba cho dến bảy, mười, một trăm. Tháp quyết định thành tựu như nguyện.

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2017

Ý Trinh giảng về thần chú OM


Thần chú Om










Om





Om

IAST: Auṃ hay Oṃ, tiếng Phạn: ॐ) là một âm thần bí và biểu tượng tâm linh của các tôn giáo Ấn độ.

Nó cũng là một chân ngôn trong Ấn Độ giáo, Phật giáo và Jaina giáo.

Om là một phần của biểu tượng được tìm thấy trong bản thảo thời cổ đại và trung cổ, trong các ngôi chùa, tu viện và các địa điểm tâm linh trong Ấn Độ giáo, Phật giáo và Jaina giáo.

Các biểu tượng có ý nghĩa tinh thần trong tất cả dharma Ấn Độ, nhưng ý nghĩa của Om thay đổi theo các trường phái khác nhau trong cùng một đạo giáo và trong các đạo giáo khác nhau.

Trong Ấn Độ giáo, Om là một trong những biểu tượng tâm linh quan trọng nhất (pratima). Nó đề cập đến Atman (linh hồn, bản ngã bên trong) và Brahman (thực tế cuối cùng, toàn bộ vũ trụ, sự thật, thần linh, tinh thần tối cao, nguyên tắc của vũ trụ, tri thức). Chữ này thường được tìm thấy ở đầu và cuối chương trong Kinh Vệ-đà, Upanishads, và các kinh sách của Ấn Độ giáo.

Đây là một câu thần chú linh thiêng được đọc trước và khi đọc các kinh sách thiêng liêng, trong lễ cầu nguyện puja và các buổi tụng kinh, trong các nghi lễ (sanskara) như đám cưới, và đôi khi trong các hoạt động thiền định và tâm linh như Yoga.


Các tên khác của nó là omkara (ओंकार, oṃkāra), aumkara (औंकार, auṃkāra), và pranava (प्रणव, praṇava).




Om

Nguồn gốc và ý nghĩa :


Om âm tiết được gọi là praṇava. 

Các thuật ngữ khác được sử dụng là akṣara (nghĩa đen, chữ cái trong bảng chữ cái, không thể thay đổi, không thay đổi) hoặc ekākṣara (một chữ trong bảng chữ cái), và omkāra (nghĩa đen, đầu, năng lượng thần linh nữ) Udgitha, một từ được tìm thấy trong Sama Veda và bhasya dựa trên nó, cũng được sử dụng như là một tên của âm tiết. 

Bản Om đầu tiên được đề cập đến trong Upanishads, các văn bản thần bí kết hợp với triết lý Vedanta. Nó đã được kết hợp với các khái niệm về "âm thanh vũ trụ" hoặc "âm tiết huyền bí" hoặc "khẳng định cái gì đó thiêng liêng", hoặc biểu tượng cho các khái niệm tâm linh trừu tượng trong Upanishads . 

Trong các bản văn Aranjaya và Brahmana trong các văn bản Vệ đà, âm tiết rất phổ biến và gắn liền với tri thức, nó là viết tắt của "toàn thể Vệ Đà" . 

Các nền tảng nguyên thủy của Om được thảo luận nhiều lần trong các lớp cổ nhất của các văn bản Vedantic (Upanishads sớm). Ví dụ Aitareya Brahmana của Rig Veda, cho thấy ba thành ngữ ngữ âm của Om (phát âm là AUM) tương ứng với ba giai đoạn của sự sáng tạo vũ trụ, và khi nó được đọc hoặc nói, nó ăn mừng các năng lực sáng tạo của vũ trụ . 

Lớp Brahmana của các kinh văn Vedic tương đương với Om với Bhur-bhuvah-Svah, sau đó tượng trưng cho "toàn thể Vệ Đà". Chúng cung cấp các sắc thái khác nhau cho Om, như là "vũ trụ vượt ra ngoài mặt trời", hay "huyền bí và vô tận", hay "ngôn ngữ vô hạn, tri thức vô hạn", hay "bản thể của hơi thở, cuộc sống, Mọi thứ tồn tại ", hay" với cái nào được giải phóng " Sama Veda, Veda thơ mộng, lập bản đồ bản đồ Om cho âm thanh, các sự thật âm nhạc trong nhiều biến thể của nó (Oum, Aum, Ovā Ovā Um, v.v.) và sau đó cố gắng trích xuất các thước đo âm nhạc từ nó. Phần âm tiết Om phát triển có nghĩa là nhiều ý tưởng trừu tượng trong Upanishads sớm nhất. Max Müller và các học giả khác cho rằng những văn bản triết học này đề nghị Om như một "công cụ để thiền định", giải nghĩa các ý nghĩa khác nhau mà âm tiết có thể nằm trong đầu của một thiền định, từ "giả tạo và vô tri" đến "các khái niệm cao nhất như nguyên nhân Của Vũ trụ, bản chất của cuộc sống, Brahman, Atman, và Tự kiến ​​thức ".





Văn bản đại diện

Ngữ âm học, âm tiết ओम् đại diện cho / aum /, thường được phát âm là [õː] trong tiếng Phạn ngữ Phạn.

Khi xảy ra trong ngữ âm tiếng Phạn, âm tiết phụ thuộc vào các quy tắc thông thường của sandhi trong ngữ pháp tiếng Sanskrit, tuy nhiên với tính chất đặc biệt thêm sau khi a hoặc ā, au của aum không hình thành vriddhi (au), nhưng guna (o) mỗi Pāṇini 6.1.95 (tức là 'om').

Đôi khi cũng được viết ओ 3 म् (o̿m [õːːm]), đặc biệt là Arya Samaj, trong đó 3 (nghĩa là chữ "3") là pluta ("ba lần càng dài"), cho thấy chiều dài của ba morae (nghĩa là, Thời gian để nói ba âm tiết) 
- một cái nguyên vẹn dài gần mũi giữa hai mũi được làm bằng xi măng. 
Biểu tượng Om Aum.svg là một dây buộc trong Devanagari, kết hợp ओ (au) và chandrabindu (ँ, ṃ).

Trong Unicode, biểu tượng được mã hóa tại U + 0950 Devanagari OM và ở U + 1F549 🕉 OM Symbol ("biểu tượng chung không phụ thuộc kiểu chữ Devanagari"). 
Biểu tượng Om hoặc Aum được tìm thấy trên các đồng tiền cổ, trong các văn bản khu vực.

Tại Sri Lanka, tiền xu của Anuradhapura (từ thế kỷ 1 đến thế kỷ thứ 4) được in nổi với Aum cùng với các ký hiệu khác. 
Các tượng trưng Nagari hay Devanagari được tìm thấy trên bản khắc của tác phẩm điêu khắc thời trung cổ, chẳng hạn như khiêu vũ Shiva (từ 10 đến 12 thế kỷ); Joseph Campbell (1949) thậm chí còn cho rằng chính tư thế khiêu vũ có thể được coi là đại diện cho AUM như một biểu tượng của toàn bộ "ý thức, vũ trụ" và "thông điệp rằng Thiên Chúa ở trong một người và không có".

Biểu tượng Om, với các biến thể bản lề, cũng được tìm thấy ở nhiều nước Đông Nam Á. Chẳng hạn, nó được gọi là Unalom hay Aum ở Thái Lan và đã từng là một phần của nhiều lá cờ và biểu tượng chính thức khác nhau như ở Thong Chom Klao của Vua Rama IV (năm 1851-1868).

Dấu hiệu chính thức của Căm Bốt cũng được kết hợp với biểu tượng Aum . Trong các ký tự truyền thống của Trung Quốc, nó được viết là 唵 (pinyin - ǎn), và như 嗡 (pinyin - wēng) bằng các ký tự tiếng Trung giản thể [cần dẫn nguồn] Đã có đề xuất rằng âm tiết Om có thể đã có các văn bản đại diện trong kịch bản Brahmi, có niên đại trước thời Kỷ Nguyên Chung.

Một đề xuất của Deb (1848) cho rằng chữ Vạn là "đại diện đơn âm của âm tiết Om, trong đó hai Brahmi / o / ký tự (U 11011 𑀑 Brahmi chữ O) được chồng chéo nhau và chữ 'm' được biểu diễn bằng dấu chấm" .

Một bình luận trong tạp chí Nature cho rằng lý thuyết này có vấn đề và chưa được chứng minh. Roy (2011) đề xuất rằng Om được biểu diễn sử dụng các ký hiệu Brahmi cho chữ "A", "U" và "M" (𑀅 𑀉 𑀫), và điều này có thể đã ảnh hưởng đến các tính năng đặc trưng bất thường của biểu tượng cho Om.




Hindu

Om đã được sử dụng như một lời nói tiêu chuẩn khi bắt đầu các thần chú, bài hát hay trích dẫn từ Vedas. 
Ví dụ, thần chú Gayatri, bao gồm một câu từ Rigveda Samhita (RV 3.62.10), được đặt trước bởi không phải Om mà bởi Om, theo sau bởi công thức bhūr bhuvaḥ svaḥ. Những lời khen ngợi này vẫn được sử dụng trong Ấn Độ giáo, với nhiều câu thần chú và các chức năng nghi thức bắt đầu và kết thúc bằng Om . Maheshwarananda (2002) gợi ý rằng Om phản ánh niềm tin vũ trụ học trong Ấn Độ giáo, như âm thanh ban đầu liên quan đến việc tạo ra vũ trụ từ không có gì.

Upanishads :

Các âm tiết "Om" được mô tả với nhiều ý nghĩa trong Upanishads. Các mô tả bao gồm "âm thanh thiêng liêng, Vâng !, Vedas, Udgitha (bài ca của vũ trụ), vô hạn, bao gồm toàn bộ, thế giới, chân lý, thực tại cuối cùng, bản chất tốt nhất, nguyên nhân của vũ trụ , Bản chất của cuộc sống, Brahman, Atman, chiếc xe có kiến ​​thức sâu sắc nhất, và tự kiến ​​thức ".





Chandogya Upanishad

Om là một biểu tượng phổ biến được tìm thấy trong các văn bản cổ đại của Ấn Độ giáo, chẳng hạn như trong dòng đầu tiên của Rig Veda (trên cùng), cũng như một biểu tượng trong các đền thờ và các khóa tu tâm linh. Các Upanishad Chandogya là một trong những Upanishads lâu đời nhất của Hinduism. 

Nó mở ra với đề nghị rằng "để một người đàn ông suy gẫm về Om". 
Nó gọi âm tiết Om là udgitha (उद्गीथ, song, chant), và khẳng định rằng ý nghĩa của âm tiết là như vậy: bản chất của tất cả chúng sinh là trái đất, bản chất của trái đất là nước, bản chất của nước là cây, Bản chất của thực vật là con người, bản chất của con người là lời nói, bản chất của lời nói là Rig Veda, bản chất của Rig Veda là Sama Veda, và bản chất của Sama Veda là udgitha (bài hát, Om) Rik (ऋच्, Ṛc) là bài phát biểu, trạng thái văn bản, và Sāman (सामन्) là hơi thở; Họ là đôi, và bởi vì họ có tình yêu và ước muốn cho nhau, lời nói và hơi thở cùng nhau tìm đến nhau để tạo ra bài hát. Ca khúc cao nhất là Om, xác nhận phần 1.1 của Chandogya Upanishad. Nó là biểu tượng của sự kính sợ, tôn kính, tri kiến ​​ba lần bởi vì Adhvaryu gọi nó, Hotr niệm nó, và Udgatr hát nó. Tập thứ hai của chương đầu tiên tiếp tục thảo luận về âm tiết Om, giải thích việc sử dụng nó như là một cuộc đấu tranh giữa Devas (vị thần) và Asuras (quỷ). Max Muller nói rằng cuộc đấu tranh giữa các vị thần và quỷ này được coi như là những học giả Ấn Độ cổ đại, bởi những điều tốt đẹp và xấu xa trong con người, Truyền thuyết ở phần 1.2 của Chandogya Upanishad nói rằng các vị thần lấy Udgitha (bài hát của Om) cho mình, nghĩ rằng "với bài hát này chúng ta sẽ vượt qua được quỷ dữ" . 
Do đó, âm thanh Om được ngụ ý là cái mà truyền cảm hứng cho những khuynh hướng tốt trong mỗi người. Sự biểu hiện của âm tiết Om trong chương mở đầu của Chandogya Upanishad kết hợp những suy đoán về tính ngữ học, biểu tượng, cấu trúc số liệu và các chủ đề triết học. 
Trong chương hai của Chandogya Upanishad, ý nghĩa và tầm quan trọng của Om tiến hóa thành một bài luận triết học, như trong phần 2.10, trong đó Om liên quan đến Tự Cao nhất và phần 2.23, trong đó văn bản khẳng định Om là bản chất của Ba loại tri thức, Om là Brahman và "Om là tất cả [thế giới quan sát] này".





Katho Upanishad


Câu chuyện Kathy Upanishad là câu chuyện huyền thoại của một cậu bé, Nachiketa - con của nhà tu hành Vajasravasa, người gặp Yama - vị thần thần chết của Ấn Độ. Cuộc trò chuyện của họ tiến hóa thành một cuộc thảo luận về bản chất của con người, tri thức, Atman (Linh hồn, Tự ngã) và moksha (giải phóng). 

Trong phần 1.2, Katho Upanishad mô tả kiến ​​thức / sự khôn ngoan như là sự theo đuổi của cải, và Vô minh / Thương xót là sự theo đuổi dễ chịu rằng bản chất của Veda là làm cho con người được giải phóng và tự do, hãy nhìn qua những gì đã xảy ra và những gì không Đã xảy ra, thoát khỏi quá khứ và tương lai, vượt khỏi thiện và ác, và một từ cho bản chất này là từ Om . 
Từ mà tất cả các Vedas tuyên bố, Điều đó được thể hiện trong mỗi Tapas (sám hối, thắt lưng buộc bụng, thiền định), Điều mà họ sống cuộc sống của một Brahmacharin, Hiểu rằng từ trong bản chất của nó: Om! Đó là từ. Vâng, âm tiết này là Brahman, Âm tiết này là cao nhất. Ai biết được âm tiết đó, Bất cứ điều gì anh ta mong muốn, là của anh ta. - Katho Upanishad, 1.2.15-1.2.16






Maitri Upanishad


Maitrayaniya Upanishad trong bài Prapathakas thứ sáu thảo luận về ý nghĩa và tầm quan trọng của Om. Văn bản khẳng định rằng Om đại diện cho Brahman-Atman. Ba gốc của âm tiết, nêu Maitri Upanishad, là A + U + M. 

Âm thanh là cơ thể của Linh hồn, và nó liên tục thể hiện trong ba: như cơ thể giới tính - nữ tính, nam tính, trinh thám; 

  • Như cơ thể nhẹ nhàng - Agni, Vayu và Aditya; 
  • Như thân thể có thần ban tặng - Brahma, Rudra và Vishnu; 
  • Như cơ thể có thân hình miệng - Garhapatya, Dakshinagni và Ahavaniya, 
  • như cơ thể tri thức - Rig, Saman và Yajur, 
  • như cơ thể được thế giới ban tặng - Bhūr, Bhuvaḥ và Svaḥ; 
  • Như cơ thể thời gian ban tặng - quá khứ, hiện tại và tương lai; 
  • Như cơ thể sưởi ấm - Breath, Fire và Sun; 
  • Như cơ thể tăng trưởng - thực phẩm, nước và mặt trăng; 
  • Như cơ thể tư tưởng - tri thức, tâm trí và tinh thần. 

Brahman tồn tại dưới hai hình thức - dạng vật chất, và hình thức phi vật chất. 

  • Hình thức vật chất đang thay đổi, không thực tế. 
  • Hình thức phi vật chất không thay đổi, thật. 
  • Hình dạng bất diệt là chân lý, sự thật là Brahman, Brahman là ánh sáng, ánh sáng là Mặt trời là Om âm tiết là Ngã. 

Thế giới là Om, ánh sáng của nó là Mặt trời, và mặt trời cũng là ánh sáng của Om âm tiết, khẳng định Upanishad. Thiền định về Om, đang thừa nhận và thiền định về Brahman-Atman (Linh hồn, Tự ngã).




Mundaka Upanishad

Mundaka Upanishad trong Mundakam thứ hai, đề xuất các phương tiện để biết Tự và Brahman là thiền định, tự phản chiếu và nội tâm, có thể được hỗ trợ bởi biểu tượng Om Điều đó là lửa, đó là tinh tế hơn so với tinh tế, Trên đó các thế giới được thiết lập, và cư dân của họ 

  • Đó là Brahman không thể huỷ diệt được. 
  • Đó là cuộc sống, nó là lời nói, nó là tâm trí. 
  • Đó là sự thật. Nó là bất tử. 
  • Đó là một dấu hiệu để được thâm nhập. 
Thâm nhập nó, bạn tôi. Mang theo một vũ khí tuyệt vời của Upanishad, Người ta nên đặt nó lên một mũi tên sắc hơn bằng thiền định, Kéo dài nó với một ý nghĩ hướng đến bản chất của Điều đó, Thâm nhập rằng Imperishable như là nhãn hiệu, bạn tôi. 
Om là cung, mũi tên là Linh hồn, Brahman đánh dấu, Bởi người đàn ông undistracted là Nó sẽ được thâm nhập, Một người nên đến để được trong Nó, Như mũi tên trở thành một với nhãn hiệu. - Mundaka Upanishad, 2.2.2 - 2.2.4 Adi Shankara, trong bài phê bình của ông về Mundaka Upanishad, nói rằng Om là một biểu tượng cho Atman (linh hồn, tự ngã).




Mandukya Upanishad

Upanishad Mandukya mở ra bằng cách tuyên bố, "Om !, âm tiết này là toàn bộ thế giới này". 

Sau đó nó trình bày những lời giải thích và lý thuyết khác nhau về ý nghĩa và ý nghĩa của nó. 

Cuộc thảo luận này được xây dựng trên cơ cấu "bốn phần tư" hoặc "bốn lần", bắt nguồn từ A + U + M + "im lặng" (hoặc không có một phần tử) Aum như tất cả các trạng thái thời gian 

Trong câu 1, Upanishad nói rằng thời gian là ba lần: quá khứ, hiện tại và tương lai, rằng ba cái này là "Aum". 
Bốn phần tư thời gian là thời gian vượt quá thời gian, cũng có nghĩa là "Aum" được diễn tả. Aum như tất cả các bang của Atman 

Trong câu 2, nói rằng Upanishad, mọi thứ đều là Brahman, nhưng Brahman là Atman (Linh hồn, Tự), và Atman là bốn lần. Johnston tóm tắt bốn trạng thái này của Tự, tương ứng, như tìm kiếm tư duy vật chất, tìm kiếm tư duy bên trong, tìm kiếm các nguyên nhân và tâm linh, và trạng thái thứ tư đang nhận thức sự đồng nhất với Chơn, Đời vĩnh cửu . Aum như tất cả các trạng thái của ý thức 

Trong các câu từ 3 đến 6, Mandukya Upanishad liệt kê bốn trạng thái ý thức: thức giấc, giấc mơ, giấc ngủ sâu và trạng thái ekatma (là một với Bản ngã, sự đồng nhất của bản ngã). 

Bốn là A + U + M + "không có phần tử" tương ứng. Aum như tất cả các kiến ​​thức Trong các câu từ 9 đến 12, Mandukya Upanishad liệt kê bốn nguồn gốc từ nguyên gốc của âm tiết "Aum". 

Nó nói rằng yếu tố đầu tiên của "Aum" là A, là từ Apti (lấy, tiếp cận) hoặc từ Adimatva (là đầu tiên). Yếu tố thứ hai là U, là từ Utkarsa (tôn vinh) hoặc từ Ubhayatva (trung gian). Yếu tố thứ ba là M, từ Miti (dựng, xây dựng) hoặc từ Mi Minati, hoặc apīti (hủy diệt). Thứ tư là không có một phần tử, không có sự phát triển, vượt ra ngoài vũ trụ. Bằng cách này, trạng thái Upanishad, âm tiết Om thực sự là Atman (tự ngã).






Shvetashvatara Upanishad

Các Shvetashvatara Upanishad, trong các câu 1,14 đến 1,16, cho thấy suy nghĩ với sự trợ giúp của âm tiết Om, nơi cơ thể dễ hư hỏng của bạn giống như một thanh nhiên liệu và chữ Om là thanh nhiên liệu thứ hai, mà với kỷ luật và cọ xát tinh ranh của thanh gậy unleashes 
Ngọn lửa tiềm ẩn của tư tưởng và nhận thức bên trong. 
Kiến thức như vậy, khẳng định Upanishad, là mục đích của Upanishads. 
Văn bản khẳng định rằng Om là một công cụ thiền định cho phép ta biết Thiên Chúa trong mình, để thực hiện Atman (Linh hồn, Tự ngã).




Aitareya Aranyaka

Aitareya Aranyaka trong câu 23.6, giải thích Om là "một sự thừa nhận, khẳng định giai điệu, cái gì đó mang lại cho đà và năng lượng cho một bài thánh ca". Om () là pratigara (thỏa thuận) với một bài thánh ca. Tương tự như vậy là tatha (do đó được nó) với một bài hát. Nhưng Om là một cái gì đó thần thánh, và tatha là cái gì đó con người. - Aitareya Aranyaka 23,6,




Bhagavad Gita

Bhagavad Gita, trong Epic Mahabharata, đề cập đến ý nghĩa và tầm quan trọng của Om trong một vài câu. Chẳng hạn, Fowler lưu ý rằng câu 9.17 của Bhagavad Gita tổng hợp các dòng suối tư duy nhị nguyên và cạnh tranh trong Ấn Độ giáo, bằng cách sử dụng "Om, biểu tượng cho Brahman Brahman không thể miêu tả" 
Tôi là Cha của thế giới này, Mẹ, Ordainer, ông nội, Cái được biết, Purifier, các âm tiết Om, Rik, Saman và cũng Yajus. - Krishna đến Arjuna, Bhagavad Gita 9.17, 
Ý nghĩa của âm tiết thiêng liêng trong các truyền thống Hindu, cũng được nhấn mạnh tương tự trong các câu khác nhau của nó, như câu 17.24, nơi tầm quan trọng của Om trong các bài cầu nguyện, bác ái và thực hành thiền định được giải thích như sau 
Do đó, nói tóm lại, hành vi của yajna (nghi thức hỏa hoạn), dāna (từ thiện) và tapas (khổ hạnh) như đã được đề cập trong thánh thư, luôn được bắt đầu bởi những người nghiên cứu về Bà la môn. - Bhagavad Gita 17.24,




Yoga Sutra

Câu aphoristic 1.27 trong Yogasutra của Pantanjali liên kết Om với thực hành Yoga,
như sau तस्य वाचकः प्रणवः .27.
Lời của ông là Om. - Yogasutra 1.27, Johnston nêu câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của Om trong việc thực hành thiền định của Yoga, nơi nó tượng trưng cho 


  • Ba thế giới trong Linh hồn; 
  • Ba lần - vĩnh cửu trong quá khứ, hiện tại và tương lai, 
  • ba quyền năng thần thánh - tạo ra, duy trì và biến đổi trong một Hữu thể; 
  • Và ba tinh túy trong một Thánh Linh - bất tử, toàn giác và niềm vui. 

Nó là, khẳng định Johnston, một biểu tượng cho con người tinh thần hoàn hảo (nhấn mạnh của ông)




Puranic Hinduism

Các văn bản thời Trung cổ của Ấn Độ giáo, chẳng hạn như Puranas thông qua và mở rộng khái niệm Om theo cách riêng của họ, và các giáo phái thần học riêng của họ. Theo Vayu Purana, Om là sự biểu hiện của Hindu Trimurti, và đại diện cho sự kết hợp của ba vị thần, tức là. A cho Brahma, U cho Vishnu và M cho Shiva. Ba âm thanh cũng tượng trưng cho ba kinh Vệ Đà, cụ thể là (Rigveda, Samaveda, Yajurveda). Shiva Purana nêu bật mối quan hệ giữa thần Shiva và Pranava hoặc Om. Shiva được tuyên bố là Om, và Om là Shiva.

Jainism
Trong Jainism, om được coi là một hình thức ngưng tụ của Pañca-Parameṣṭhi, bằng chữ viết tắt A + A + A + U + M (o3m). Dravyasamgraha trích dẫn một dòng Prakrit: ओम एकाक्षर पञ्चपरमेष्ठिनामादिपम् तत्कथमिति चेत "अरिहंता असरीरा आयरिया तह उवज्झाया मुणियां" 


Dịch: Tôn kính các vị Arhats, tôn kính những người hoàn hảo, lòng tôn kính các bậc thầy, tôn kính các vị thầy, tôn kính tất cả các nhà sư trên thế giới . 

AAAUM (hay chỉ là "Om") là một dạng ngắn gọn của một trong bốn chữ pariashthis: "Arihant, Ashiri, Acharya, Upajjhaya, Muni". 
ओं नमः (Oṃ namaḥ) Siddhanam (6 âm tiết), Om Nhi (2 âm tiết) và chỉ có Om (1 âm tiết) là những dạng ngắn của Paramesthi-Mantra, còn được gọi là Namokar Mantra hay Navkar Mantra ở Jainism.




Phật giáo :



Om thường được sử dụng trong một số trường phái Phật giáo sau này, ví dụ như Phật giáo Tây Tạng, bị ảnh hưởng bởi Hindu Ấn Độ và Tantra Ấn Độ Trong Phật giáo Trung Hoa, Om thường được dịch là chữ Trung Quốc 唵 (pinyin ǎn) hoặc 嗡 (pinyin wēng). 

Phật giáo Tây Tạng (Vajrayana) Trong Phật giáo Tây Tạng, Om thường được đặt ở đầu thần chú và dharanis. 

Có lẽ thần chú nổi tiếng nhất là "Om mani padme hum", thần chú sáu âm của Bồ Tát Từ Bi, Avalokiteśvara. 

Câu thần chú này đặc biệt gắn liền với hình thức Avalokiteśvara Shadakshari bốn vũ trang. Hơn nữa, như là một âm tiết hạt (bija thần chú), Aum được coi là thiêng liêng và thánh thiện trong đạo Phật bí truyền. 

Các học giả giải nghĩa từ đầu tiên của thần chú "Om Mani Padmi Hum" là AUM, với ý nghĩa tương tự như Hindu giáo - tổng thể của âm thanh, sự tồn tại và ý thức Om đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 mô tả là "gồm ba chữ cái tinh khiết, A, U và M. 

Đây là biểu tượng của cơ thể, lời nói và tâm hồn không thanh sạch của một học viên, Lời nói và trí tuệ của một vị Phật giác ngộ ". 

Theo Simpkins, Om là một phần của nhiều thần chú trong Phật giáo Tây Tạng và là một biểu tượng cho" toàn vẹn, hoàn hảo và vô hạn ".




Các vị vua bảo vệ Niō và thần sư tử Komainu :

Aum được tượng trưng bởi các tượng Niō (仁王) ở Nhật Bản, và tương đương ở Đông Á. 

Niō xuất hiện theo cặp trước cửa chùa và tháp chùa, dưới hình thức hai vị vua bảo vệ hung ác (Vajra) 
Người ta có một miệng há, được các Phật tử coi là biểu tượng nói chữ "A"; 
Người còn lại có một miệng khép kín, tượng trưng cho chữ "Um". 
Hai người cùng nhau được xem như là "Aum", hơi thở kim cương, hoặc tuyệt đối trong tiếng Phạn. 

Komainu (狛 犬), còn được gọi là sư tử chó, được tìm thấy ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, cũng xuất hiện theo cặp trước các đền thờ Phật giáo và không gian công cộng, và một lần nữa, người ta có miệng hở (Agyō), người kia đóng lại (Ungyo) Giống như các bức tượng Nio, chúng thường được hiểu như là sự bắt đầu và kết thúc của "Aun" 
- một phiên âm của âm tiết linh thiêng Aum (hay Om) của tiếng Sanskrit, biểu thị sự bắt đầu và kết thúc của mọi thứ




Đạo Sikh

Bài chi tiết: Ik Onkar 

Ik Oankar, biểu tượng đại diện là ੴ trong Sri Guru Granth Sahib (mặc dù đôi khi được đánh vần là ਏਕੰਕਾਰੁ) là tuyên bố về điểm kỳ dị trong đạo Sikh, đó là 'một sự tạo thành một'.
Cụm từ này là một hợp chất của một số (ik) và onkar, có nghĩa là sự sáng tạo. Ik Oankar có vị trí nổi bật ở đầu của Mul Mantar và những lời mở đầu của Sri Guru Granth Sahib Khái niệm Sikh có liên quan đến Om trong Ấn Độ giáo . 

"Oang" là âm thanh nguyên thủy của vũ trụ mà vẫn vang vọng và được nghe bởi những người điều chỉnh tần số của vũ trụ cho dù đó là thông qua thiền định, cầu nguyện hoặc yoga vv Onkar là, Wazir Singh , 
Một biến thể của Om (Aum) của các kinh điển Ấn Độ cổ (với một sự thay đổi nhỏ trong cách viết chính tả của nó), hàm ý lực lượng hạt giống phát triển như vũ trụ . 

Ik Onkar là một phần của "Mul Mantra" trong các giáo lý của Sikh và đại diện cho "Oneness", giải thích về Gulati, "Ik" có nghĩa là One, và Onkar "tương đương với việc tạo ra" Hindu "Om (Aum) của Hindu Guru Nanak đã viết một bài thơ có tựa đề Oankar trong đó, các tiểu bang Doniger, ông "cho là nguồn gốc và ý nghĩa của lời nói với Thiên Chúa, do đó là nhà sản xuất Om" . 

Oankar ('Primal Sound') đã tạo ra Brahma, 
Oankar đã tạo ra ý thức, 

Từ Oankar đến núi và lứa tuổi, Oankar sản xuất Vedas, Bằng ân huệ của Oankar, con người được cứu nhờ lời thần linh, Bằng ân sủng của Oankar, họ đã được giải phóng qua các lời dạy của Đạo sư. 

- Ramakali Dakkhani, Adi Granth 929-930 Pashaura Singh Ik Aumkara xuất hiện vào đầu Mul Mantra, các tiểu bang Kohli, và nó xảy ra như là "Aum" trong Upanishads và ở Gurbani. 

Tuy nhiên, ý nghĩa của Oankar trong truyền thống Sikh, Pashaura Singh, là khá khác nhau về mặt nào đó so với những truyền thống triết học Ấn Độ khác .




Thời kỳ hiện đại :


Chữ Brahmic đã được công nhận rộng rãi trong sự tranh cải về văn hoá ở phương Tây kể từ những năm 1960, chủ yếu là ở dạng Devanagari chuẩn (), nhưng chữ cái Tây Tạng om (ༀ) cũng đã đạt được một số thu nhận nhất định trong văn hoá phổ biến .


Om




CÁCH KHAI MỞ LUÂN XA





Cách khai mở luân xa

Tập trung tư tưởng và dùng mudras (các vị trí trên cơ thể mà chủ yếu là ở bàn tay, có ảnh hưởng đến nâng cao năng lượng cơ thể) và phát những âm thanh để mở Luân xa. Tạo dựng cho cơ thể chúng ta một sức khỏe bền bỉ, tinh thần minh mẫn.








Để tăng cướng hiệu quà cần phải phát âm, kêu lên những âm từ của Sanskrit (ngôn ngữ cổ của Án độ) , Khi phát âm nó tạo ra tiếng vang trong cơ thể chúng ta mà chúng ta có cảm giác rung động đúng luân xa đang gọi.

Khi phát âm, nhớ trong đầu là:

Chữ “A”, thì phát âm là “ah”.

Chữ “M”, thì phát âm “mmg”.

Một lần thiền định từ 7 đến 8 hơi thở. Phát âm nhiều lần cho 1 hơi thở (Vd: 3 lần).
1. Khai mở luân xa gốc rễ:

  • Để cho đầu ngón tay và đầu ngón trỏ của bạn chạm nhau.



Tập trung tư tưởng vào vị trí luân xa gốc rễ (vị trí giữa hậu môn và bộ phận sinh dục).

Phát âm “LAM”.

2. Khai mở luân xa Xương cùn.

  • Đặt hai bàn tay vào lòng như hình, hai lòng bàn tay ngửa lên, bàn tay trái dưới, phải trên. 
  • Đầu hai ngón tay trỏ chạm nhẹ vào nhau.



Tập trung tư tưởng vào luân xa xương cùn ( là phần tận cùng của xương sống ).

Phát âm “VAM”

3. Khai mở luân xa Rốn

  • Đặt hai tay trước bụng, hơi thấp một chút. 
  • Để cho các ngón tay châu vào nhau (như hình), chĩa ra ngoài. 
  • Đan chéo hai ngón cái. 
  • Nên nhớ quan trọng là làm cho các ngón ta thẳng.



Tập trung vào luân xa rốn, nắm ở trên rốn một chút.

Phát âm RAM.

4. Khai mở luân xa Tim

  • Ngồi bắt chéo chân (theo kiểu ngồi thiền). 
  • Để ngón tay trỏ và tay trái chạm nhau (cả hai bàn tay). 
  • Đặt tay trên lên đùi trái và tay phải lên trước ngực (như hình).




Tập trung tư tưởng vào Luân xa Tim, ngang với Tim.

Phát âm “YAM”


5. Khai mở luân xa vùng Yết hầu:

  • Đan ngững ngón tay vào nhau, hai ngón cái châu đầu vào nhau, kéo nó lên một chút.



Tập trung tư tưởng vào Luân xa Yết hầu.

Phát âm “HAM”

6. Khai mở luân xa “Mắt thứ 3”:

Đặt tay trước ngực và bụng. Hai ngón tay giửa thẳng, chạm đầu ngón tay vào nhau, hướng ra (xem hình). Các ngón khác uốn cong chạm vào nhau. Ngón cái chạm đỉnh và hướng vào bạn.



Tập trung tư tưởng vào Luân xa “Mắt thứ 3”. Nằm giửa hai chân mày.

Phát âm “OM hay AUM”


7. Khai mở luân xa “Đỉnh đầu”:

  • Đặt hai tay trước bụng. 
  • Hai ngón tay đeo nhẫn thẳng, chĩa lên, hai đầu chạm nhau. 
  • Đan cheó những ngón còn lại (xem hình). 
  • Ngón tay cái trái dưới ngón phải.chạm đỉnh và hướng vào bạn.



Tập trung tư tưởng vào Luân xa “Đỉnh đầu”. Nằm ngay giửa đỉnh đầu.

Phát âm “NG”