Hiển thị các bài đăng có nhãn Vu Lan Báo Hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vu Lan Báo Hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

Kinh Đại Báo Phụ Mẫu






Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Kinh Đại Báo Phụ Mẫu

Hòa Thượng Thích Huyền Tôn

Nguồn: Hòa Thượng Thích Huyền Tôn


PHẦN KINH TỤNG
NGHI THỨC KHAI KINH

Nhất tâm đảnh lễ thập-phương Pháp-giới thường-trụ Tam-bảo. (Tam bái)
NGUYỆN HƯƠNG KỆ :

Nguyện thử diệu hương vân
Biến mãn thập phương giới
Cúng dường nhứt thế Phật
Tôn Pháp chư Bồ-Tát
Vô biên thinh văn chúng
Cập nhứt thế Thánh hiền
Duyên khởi thanh tịnh đài
Xưng tánh tác Phật sự
Phổ huân chư chúng sanh
Giai phát bồ-đề tâm
Viễn ly chư vọng nghiệp
Viên thành vô thượng đạo.
TÁN PHẬT KỆ

Pháp vương Vô-thượng Tôn
Tam-giới vô luân thất
Thiên nhơn chi đạo-sư
Tứ sanh chi Từ phụ
Ư nhất niệm quy-y
Năng diệt Tam-kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán thán
Ức kiếp mạc năng tận.


Nhứt tâm đảnh lễ Đại-Từ-bi Phụ Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật (Tam bái)


Như-Lai diệu sắc thân
Thế-gian vô dữ đẳng
Vô-tỷ bất tư-nghị
Thị cố kim đảnh lễ
Như-Lai sắc vô tận
Trí tuệ phục diệt nhiên
Nhứt thế pháp thường trụ
Thị cố ngã quy y
Đại trí đại nguyện lực
Phổ độ chư quần sanh
Linh xã nhiệt não thân
Sanh bỉ Thanh lương quốc
Ngã kim tịnh tam nghiệp
Quy y cập lễ tán
Nguyện cọng chư chúng sanh
Đồng sanh an lạc quốc.
Án phạ nhựt ra hồng (tam biến)
CỬU BÁI TÂY PHƯƠNG :

Nhứt tâm đảnh lễ Thường tịch Quang-độ, A-Di-Đà Như-Lai, Thanh-tịnh diệu pháp thân, biến pháp giới chư Phật.

Nhứt tâm đảnh lễ, Thật báo trang nghiêm độ, A-Di-Đà Như-Lai, Vi trần tướng hải thân, biến pháp giới chư Phật.

Nhứt tâm đảnh lễ, Phương tiện Thánh cư độ, A-Di-Đà Như-Lai, Giải-thoát tướng nghiêm thân, biến pháp giới chư Phật.

Nhứt tâm đảnh lễ, Tây phương An-lạc độ, A-Di-Đà Như-Lai, Đại thừa căn giới thân, biến pháp giới chư Phật.

Nhứt tâm đảnh lễ, Tây phương An-lạc độ, A-Di-Đà Như-Lai, Thập phương hóa vãng thân, biến pháp giới chư Phật.

Nhứt tâm đảnh lễ, Tây phương An-lạc độ, Giáo hạnh lý tam kinh, Cực y chánh tuyên dương, biến pháp giới chư Phật.

Nhứt tâm đảnh lễ, Tây phương An-lạc độ, Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Vạn ức tử kim thân, biến pháp giới Bồ-Tát.

Nhứt tâm đảnh lễ, Tây phương An-lạc độ, Đại-Thế-Chí Bồ-Tát, vô biên Quang-tri thân, biến pháp giới Bồ-Tát.

Nhứt tâm đảnh lễ, Thanh-Tịnh Đại Hải chúng, mãn phần nhị nghiêm-thân, biến pháp giới Thánh chúng.

(hiệp chưởng nguyện vân)

Ngã kim... Phổ vị tứ-ân Tam-hữu, pháp giới chúng sanh, tất nguyện đoạn trừ tam chướng, qui mạng sám hối.

Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vô thỉ Tham, sân, si
Tùng thân, ngử, ý chi sở sanh
Nhứt thế ngã kim giai sám hối
Như thị nhứt thế chư nghiệp chướng
Tất giai tiêu diệt tận vô dư
Niệm niệm trí châu ư pháp giới
Quảng độ chúng sanh giai bất thối.
Quy mạng lễ A-Di-Đà Phật cập nhứt thế Tam-bảo.

__________________
NAM MÔ ĐẠI BÁO PHỤ MẪU ÂN TRỌNG KINH

(tán hương)

Lô hương sạ nhiệt, pháp giới mông huân, chư Phật hải hội tất diêu văn, tùy xứ kiết tường vân, thành ý phương ân, chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân cái Bồ Tát, Ma ha tát.

TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN :

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị tát bà ha (tam biến)

TỊNH THÂN NGHIỆP CHƠN NGÔN :

Án tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị ta bà ha (tam biến)

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN :

Án ta phạ bà phạ, xuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ xuật độ hám (tam biến)

AN THỒ ĐỊA CHƠN NGÔN :

Nẳng mồ tam mãn đa một đà nẫm, án độ rô, độ rô địa vĩ tát bà ha (tam biến)

PHỒ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN :

Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng (tam biến)

PHỤNG NIỆM CHƯ THÁNH HIỆU

Nam Mô Đại Báo Phụ Mẫu Kinh
Nam Mô Giáo Chủ Thích Ca Phật
Nam Mô Tạo kinh đắc Kiến Phật
Nam Mô Dĩ Báo Thân ân Phật
Nam Mô Ma Da Đại Thánh Mẫu
Nam Mô Tích Hiệu Quang Mục Nữ
Nam Mô Cát Túy Cứu Phụ Vương
Nam Mô Nhập Ngục Tế Từ Mẫu
Nam Mô Tiên Báo Nhị Thân Ân Hậu Thành Chánh Giác chư Bồ Tát.
Nam Mô Ngã Phật Từ Di Mẫu Kiều Đàm Di Ni Đại Bồ Tát.
Nam Mô Phiên Dịch kinh Tam Tạng Cưu-Ma-La-Thập Đại Pháp sư.
PHÁT NGUYỆN VĂN

Khể thủ Tam giới Tôn,
Quy mạng thập phương Phật
Ngã kim phát hoằng nguyện,
Trì thử Phụ Mẫu kinh,
Đắc văn bát chủng thinh,
Hựu thính ngũ hoằng thệ,
Năng hành chư khổ hạnh,
Thân ân bất năng báo,
Kim Phát dũng mãnh tâm,
Trì tụng lễ Tam-Bảo.
Tổng báo tứ trọng ân,
Kiêm tế tam đồ khổ.
Nhược hữu kiến văn giả,
Tất phát Bồ-Đề tâm,
Dĩ thử báo thân ân,
Tồn vong cu lợi lạc.
Vân hà ư thử kinh,
Cứu cảnh đáo bỉ ngạn,
Nguyện Phật khai vi mật,
Quảng vị chúng sanh thuyết.

NAM MÔ BỒN SƯ THÍCH CA MƯU NI PHẬT (tam biến)
KHAI KINH KỆ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bá niên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa.
Nam Mô Khai Bảo Tạng Bồ Tát, Ma ha tát.

__________________
PHẬT THUYẾT ĐẠI BÁO PHỤ MẪU ÂN TRỌNG KINH

(Dao Tần Tam-tạng Pháp-sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch)

Như thị ngã văn, nhứt thời Phật tại Xá-vệ Quốc, Kỳ-thọ, Cấp-cô độc viên, dữ đại Tỳ-kheo nhị vạn bát thiên nhơn cu. Cập chư Bồ-tát Ma-ha-tát chúng.

Nhỉ thời Thế Tôn, tương lãnh đại-chúng nam hành, kiến nhứt đôi khô cốt, Như-Lai ngũ thể đầu địa, lễ bái khô cốt.

A-Nan bạch Phật ngôn, Thế Tôn, Như Lai thị Tam giới Đạo sư, tứ sanh từ phụ, chúng sở quy kính, vân hà lễ bái khô cốt.

Phật cáo A Nan, nhữ tuy ngô thượng túc đệ tử, xuất gia tuy cửu, tri sự vị quảng, thử nhất đôi khô cốt, hoặc thị ngã tiền thế công tổ, hoặc lụy thế gia nương, ngô cố lễ bái. Nhữ tương thử nhất đôi khô cốt, phân vi nhị phần : Nhược thị nam tử, cốt đầu bạch liễu hựu trọng. Nhược thị nữ nhân, cốt đầu hắc liễu hựu khinh.

A-Nan bạch Phật ngôn thế tôn, nam tử tại thế, sam, đới hài, mạo, tức tri thị nam nhi chi thân. Nữ nhân tại thế, nồng, đồ chỉ, phấn lan xạ huân y. Tức tri thị nữ lưu chi thân. Như kim tử hậu, bạch cốt nhất ban, đệ tử như hà nhận biện.

Phật cáo A-Nan, nhược thị nam tử, tại thế chi thời, nhập ư Già Lam chi địa, thính tụng kinh điển, lễ bái Tam bảo, niệm Phật, danh tự, sở dĩ cốt đầu bạch sắc hựu trọng. Nữ nhân tại thế, tùy hình dựng dục, sinh nam dưỡng nữ, nhất hồi sinh giả lưu xuất tam đấu tam thăng ngưng huyết, ẩm nương bác hộc tứ đấu bạch nhũ, sở dĩ cốt đầu hắc sắc hựu khinh.

A-Nan văn ngữ, thống cát ư tâm, thùy lệ bi khấp. Bạch Phật ngôn thế tôn. Mẫu chi ân đức, vân hà báo đáp. Phật cáo A nan Nhữ kim đế thính, ngô đương vị nhữ, phân biệt giải thuyết, A nương hoài tử thập nguyệt chi trung, cực thị tân khổ.

- Nhất nguyệt nhậm thần hoài thai, hữu như thảo thượng lộ châu, bảo triêu bất bảo mộ, tảo thần phương tụ, ngọ thời tiêu tán.

- Lưỡng cá nguyệt hoài thai, như phát lạc tô.

- Tam cá nguyệt hoài thai kháp như ngưng huyết.

- Tứ cá nguyệt hoài thai, sảo tác thân hình.

- Ngũ cá nguyệt hoài thai, tại mẫu phúc trung sinh ngũ bào, hà giả danh vi ngũ bào ? Đầu vi nhất bào, lưỡng chửu vi tam bào, lưỡng tất vi ngũ bào.

- Lục cá nguyệt hoài nhai, tại mẫu phúc trung, lục tinh nải khai, hà giả danh vi lục tinh? Nhãn vi nhất tinh, nhỉ vi nhị tinh, tỷ vi tam tinh, khẩu vi tứ tinh, thiệt vi ngũ tinh, tâm ý thị vi lục tinh.

- Thất cá nguyệt hoài thai, tại mẫu phúc trung sinh tam bách lục thập cốt tiết bát vạn tứ thiên mao khổng.

- Bát cá nguyệt hoài thai, tạng phủ cu sinh kỳ ý trí thông kỳ cửu khiếu.

- Cửu cá nguyệt hoài thai, hài nhi tại mẫu phúc trung, ẩm mẫu nguyên khí, khiết thực bất xang qua quả, ngũ cốc. Sinh tạng hướng hạ, thục tạng hướng thượng, hữu nhất tòa sơn, thử sơn hữu tam bang : nhất danh Tu-di sơn, nhị danh nghiệp sơn, tam danh tuyết sơn. Thử sơn nhất độ băng lai, hóa vi nhất điều ngưng huyết, lưu nhập hài nhi khẩu trung.

- Thập cá nguyệt túc thai trung, bách thần toàn bị, phương nãi giáng sinh, nhược thị hiếu thuận chi nam. Kình quyền hiệp chưởng nhi sinh, bất tổn mẫu phúc, nhược thị ngũ nghịch chi tử, phách phá mẫu bào thai, thủ phan a nương tâm-can, cước đạp a nương khóa cốt, giao nương như thiên nhận giảo phúc, vạn nhận tỏa tâm, như tư thống khổ, bất khả danh trạng, sinh đắc thử thân. Thiện tai thiện tai.

Phật cáo A-Nan, phụ mẫu ân đức, hữu kỳ thập chủng, hà giả danh vi thập chủng ? Thế-tôn đáp ngôn, - nhử đẳng đế thính : Nhất giả hoài đảm thủ hộ ân, nhị giả lâm sản thụ khổ ân, tam giả sinh-tử vong ưu-ân, tứ giả yến khổ thổ cam ân, ngũ giả di càng tựu thấp ân, lục giả nhủ bộ dưỡng dục ân, thất giả tẩy trạc bất tịnh ân, bát giả viễn hành ức niệm ân, cửu giả vị tạo ác nghiệp ân, thập giả cứu kính lân mẫn ân.
ĐỆ NHẤT HOÀI ĐẢM THỦ HỘ ÂN

Lụy kiếp nhân duyên trọng
Kim-Lai thác mẫu thai
Nguyệt du sinh ngũ tạng
Thất thất lục tinh khai
Thể trọng như sơn nhạc
Động chỉ khiếp phong tai
La y đô bất chỉnh
Minh kính yểm trang đài
ĐỆ NHỊ LÂM SẢN THỦ HỘ ÂN

Hoài sinh thập cá nguyệt
Sản nạn dục tương lâm
Triêu triêu như trọng bịnh
Nhật nhật tự hôn trầm
Hoàng phố nan thần kế
Sầu tư lệ mản khâm
Hàm đề cáo thân tộc
Di cụ tử lai xâm
ĐỆ TAM SANH TỬ VONG ƯU ÂN

Từ mẫu sinh cư nhật
Ngũ tạng tổng khai trương
Thân tâm cu muộn tuyệt
Lưu huyết tự đồ dương
Sinh dĩ văn nhi kiện
Hoan hỷ bội da thường
Hỷ định bi hoàn chí
Thống khổ triệt can trường
ĐỆ TỨ YẾN KHỒ THỒ CAM ÂN

Phụ mẫu tình thành hậu
Lân mẫn vô thất thời
Thổ cam hà sở thích
Yến khổ bất tần mi
Ái trọng chơn nan xả
Đẳn linh hài tử bảo
Yến khổ bất tần mi
Ân thâm bội phục bi
Đẵng linh hài tử bảo
Từ mẫu bất từ cơ
ĐỆ NGŨ DI CÀN TỰU THẤP ÂN

Mẫu tự thân cư thấp
Tương nhi dỉ tựu càn
Tương nhi dỉ tựu càn
Lưỡng nhũ sung cơ khát
Song tụ yểm phong hàn
Ân lân thường thế tẩm
Sủng lộng chánh năng hoan
Đẳn linh hài tử ẩn
Từ mẫu bất cầu an
ĐỆ LỤC NHỦ BỘ DƯỠNG-DỤC ÂN

Từ mẫu tượng ư địa
Nghiêm phụ phối ư thiên
Phú tải ân tương đẳng
Da nương ý diệt nhiên
Bất tắn vô nhẫn mục
Bất hiềm thủ túc loan
Đản phúc thân sinh tử
Chung bất hoán, nhi lân
ĐỆ THẤT TẨY TRẠC BẤT TỊNH ÂN

Bổn hữu phù dung chất
Trường thi phấn đại nung
Mi phân thùy liễu thúy
Kiểm đoạt thụy liên hồng
Tẩy trạc tần trừ uế
Tân cần dĩ cải dung
Chỉ cầu Y phục khiết
Cao kế lẫn bàn lung
ĐỆ BÁT VIỄN HÀNH ỨC NIỆM ÂN

Tử biệt nan thành nhẫn
Sinh ly thực khả thương
Nhi thành hướng tiền lộ
Mẫu ý tại tha hương
Nhật dạ tâm tương trục
Triêu hôn tịnh bất vong
Như viên đề ái tử
Thốn thốn đoạn can trường
ĐỆ CỬU VỊ TẠO ÁC NGHIỆP ÂN

Phụ mẫu cù lao khổ
Doanh sinh hỏa trạch nan
Huề trì năng dưỡng dục
Hôn giá sử cầu an
Nhượng thực tiên linh bảo
Thiêm y khủng mạo hàn
Trưởng thời khánh vật mạnh
Ồi tự bách thiên ban
ĐỆ THẬP CỨU KÍNH LÂN MẪN ÂN

Phụ mẫu ân hà tử
Cao thâm tỷ nhị nghi
Hành tàn tâm bại trục
Viễn cận ý tương tùy
Mẫu niên nhất bách tuế
Trường ưu bát thập nhi
Dục tri ân ái đoạn
Mạng tận thỉ phân ly.

Phật cáo A-Nan, ngã quán chúng sinh, tuy triêm nhân phẩm tâm hạnh ngu mông, bất tư Da Nương, hữu đại ân đức, bất sanh cung kính, khi ân bội đức, vô hữu nhân từ bất hiếu bất nghĩa, a nương hoài tử, thập nguyệt chi trung, tọa khởi bất an, như kình trọng đảm, ẩm thực bất ha,hư trương bệnh nhân, nguyệt tức sinh thời, thọ chư khổ thống, tu du hảo ác, khủng úy vô thường, như sát chư dương, huyết lưu biến địa. Thọ như thị khổ, sanh đắt thử thân, yến khổ thổ cam, bảo trì dưỡng dục, tẩy trạc bất tịnh, bất đản cù lao, nhẫn nhiệt nhẫn hàn, bất từ tân khổ, càn xứ nhi ngọa, thấp xứ mẫu miên, tam niên chi trung ẫm mẫu bạch huyết, anh hài đồng tử, nải chí thạnh niên, huấn giáo lễ nghĩa, hôn giá tập học, bị cầu tư nghiệp, huề hạ nan tân, cần khổ chí chung, bất ngôn ân kỷ, nam nữ hữu bịnh, phụ mẫu bịnh sinh, tử nhược bịnh trừ, từ mẫu phương sái, như tư dưỡng dục, nguyện tão thành nhân, cập kỳ trưởng thành, phản vi bất hiếu tôn thân cộng ngữ, ứng đối ổng dán, áo nhãn lệ tình, khi lăn thúc bá, đả mạ huynh đệ, hủy nhục thân tình, vô hữu lễ nghĩa, bất tuân sư phạm, Phụ-Mẫu giáo linh, toàn bất y tòng, huynh đệ cộng ngữ, cố tương áo lệ xuất nhập vãng-lai, bất khả tôn nhân, ngôn hành quai sơ, thiện ý tác sự. Phụ-Mẫu huấn phạt, bá thúc luận phi, đồng ấu căng lân, tôn nhân gia hộ, tiệm tiệm thành trưởng, ngận lệ bất điều, bất phục khuy vi, phản sinh sân nhãn, khí chư thắng hữu, bằng phụ ác nhân, tập dĩ tính thành, toại vi cuồng kế, bị nhân dụ dẫn, đào thoán tha hương, vi bội gia-nương, ly gia biệt quán, hoặc nhân kinh thương, hoặc vị chinh hành, nhẫm nhiễm nhân tuần, tiện vi hôn thú, do tư lưu ngại cữu bất hoàn gia, hoặc tại tha hương, bất năng cẩn thận, bị nhân mưu điểm, hoạnh sự câu khiên, uổng bị hình khoa, lao ngục già cấm hoặc tao bịnh hoạn, ách nạn doanh triền, khốn khổ cơ luy, vô nhân khán thị, bị tha hiềm tiện, ỷ khí giai cù, nhân thử mệnh chung, vô nhân mai tán, phùng trướng lạn hoại, phong xuy nhật bộc, bạch cốt phiêu linh thổ phận tha hương, tiện giữ thân tộc, hoan ái tràng quai, phụ mẫu tâm tùy, vĩnh hoài ưu niệm, hoặc nhân đề khấp, nhãn ám mục manh, hoặc vị bi ai, khí kết thành bịnh hoặc duyên ức tử, ai biến tử vong, tác quỷ bảo hồn, bất tằng cát xã, hoặc phục văn tử, bất sùng học nghệ, bằng trục dị đoan, vô loại thô ngoan, hiếu tập vô ích, đấu đả thiết đạo xúc phạm hương lư, ẩm tửu su bồ, gian phi quá thất, đới lụy huynh đệ, thân thuộc da nương, thần khứ mộ hoàng, nhị thân ưu niệm. Bất tri phụ mẫu, động chỉ hàn ôn, hối sóc triêu phô, vĩnh quai phò trị, an sàng tiến chẩm, tịnh bất tri văn, tham vấn khởi cư, tùng tư đọan tuyệt, phụ mẫu niên mại, hình mạo suy luy, tu sĩ kiến nhân, sân ha khi ức, hoặc phục văn phụ chung mẫu quả, độc thủ không đường, do nhược khách nhân thượng ký tha xá, hàng đống cơ khát tịnh bất tri văn, trú dạ thường đề, tự ta tự bỉ, ưng tê soạn vật, cúng dưỡng nhị thân mỗi trá tu tàm, úy nhân quái tiếu, nhược trì tài thực, cung cấp thê nhi, xú trạng bì lao, vô tu sỹ, thê thiếp ước thúc, mỗi sự y tùng, tôn trưởng sân ha, toàn bất úy phục, hoặc phục thị nữ, thích phối hà nhân, vị giá chi thời, hàm sinh hiếu thuận, giá sự dĩ ngật, bất hiếu toại tăng, phụ mẫu vi sân, tức sanh oán hận phu thê đả mạ, nhẫn thọ cam tâm, dị tánh tha tông, tích thâm quyến trọng, tự gia cốt nhục khước dị vi sơ, hoặc tùy phu tế, ngoại quận tha hương ly biệt gia nương, vô tâm luyến mộ, đoạn tuyệt tiêu túc, âm tín bất thông, linh sử gia nương huyền tràng quảy đổ, phụ mẫu ân đức vô lượng vô biên, bất hiếu chí khiên, tốt nan trần tận.

Nhỉ thời đại chúng văn Phật sở thuyết, phụ mẫu trọng ân cử thân đầu địa, huy chùy tự phát, chư mao khổng trung, tất giai lưu huyết, muộn tuyệt tịch địa, lương cửu phương tô, cao thanh xướng ngôn : khổ tai khổ tai ! thống tai thống tai ! Ngã đẳng kim giả, thâm thị tội nhân, tùng lai vị giác, minh nhược dạ hành, kim ngộ tri phi, tâm đảng cu toái ! Di nguyện Thế-tôn ai mẫn cứu bạt Vân hà báo đáp phụ mẫu thâm ân ?

Nhỉ thời Như-Lai, tức dĩ bát chủng, thâm trọng Phạm thinh cáo đại chúng ngôn nhữ đương đế thính.

- Giả sử hữu nhân tả kiên đảm phụ, hữu kiên đảm mẫu, nghiên bì chí cốt, nghiên cốt triệt tủy, nhiễu tu-di-sơn, kinh bách thiên kiếp, huyết lưu một khỏa, do bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

- Giả sử hữu nhân tao cơ cẩn kiếp vị ư da nương, tận dĩ kỳ thân, loan cát toải hoại, du như vi trần, kim bách thiên kiếp du bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

- Giả sử hữu nhân, thủ chấp lợi đao, vị ư da nương, cát kỳ nhãn tình, kinh bách thiên kiếp, du bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

- Giả sử hữu nhân, vị ư da nương, diệt dĩ lợi đao, cát kỳ tâm can, huyết lưu biến địa, bất từ thống khổ, kinh bách thiên kiếp, do bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

- Giả sử hữu nhân, vị ư da nương, bách thiên đao luân, ư tự thân trung, tả hữu xuất nhập, kinh bách thiên kiếp, do bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

- Giả sử hữu nhân, vị ư gia nương, thể quải thân đăng cúng dường Như-Lai, kinh bách thiên kiếp, do bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

- Giả sử hữu nhân, vị ư da nương, đả cốt xuất tủy, bách thiên mâu kích, nhứt thời thích thân, kinh bách thiên kiếp, do bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

- Giả sử hữu nhân, vị ư da nương, thôn nhiệt thiết hoàn kinh bách thiên kiếp, biến thân tiêu lạn, do bất năng báo phụ mẫu thâm ân.

Đại chúng văn Phật sở thuyết, thống cát ư tâm, thùy lệ bi khấp, đồng phát thinh ngôn : Vân hà báo đắt phụ mẫu thâm ân ?

Phật ngôn, Phật tử dục đắt báo ân, vị ư phụ mẫu, thơ tả thử kinh, vị ư phụ mẫu, độc tụng thử kinh; vị ư phụ mẫu sám hối tội khiên. Vị ư phụ mẫu, cúng dường Tam-bảo. Vị ư phụ mẫu, thọ trì trai giới, vị ư phụ mẫu bố thí tu phước nhược năng như thị, danh vi hiếu tử. Bất tác thử hạnh thị địa ngục nhân.

Phật cáo A-nan, bất hiếu chi nhơn, thân hoại mạng chung đọa A-tỳ địa ngục, kỳ ngục túng quảng, bát vạn do tuần, tứ diện thiết thành, vi nhiễu la võng, kỳ địa xí hỏa, đổng nhiên mãnh liệt, viêm lô nhiệt độc, lôi bôn điển thước, dung thiêu đồng trấp, lưu quán tội nhân, đồng cẩu thiết xà, thổ yên diệm hoán, thiêu tiển chử chích, chi cao cối lãn, khổ thống ai tai, nan kham nan nhẫn, câu can thương sóc, kiếm thọ đao luân, như vũ như vân, không trung nhi há, hoặc chước hoặc thích, khổ thống bách đoan, lịch kiếp thọ ương, vô thời tạm yết, hựu cánh linh nhập dư địa ngục trung, đầu đới hỏa bồn, thiết xa phân liệt, trường vị cốt nhục, cối lãn tung hoành, nhất nhật chi trung, thiên sanh vạn tử, thọ như thị khổ, giai nhân tại thế, ngũ nghịch bất hiếu. Phật ngôn, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, vị ư phụ mẫu, tạo thử kinh điển, thọ chơn báo đắt phụ mẫu thâm ân, năng tạo nhất quyển, đắc kiến nhứt Phật, năng tạo thập quyển đắc kiến thập Phật, năng tạo bách quyển, đắc kiến bách Phật năng tạo thiên quyển, đắc kiến thiên Phật, năng tạo vạn quyển, đắc kiến vạn Phật, duyên thử nhân tạo kinh lực, thị chư Phật đẳng thường đương ủng hộ, linh kỳ nhân Phụ mẫu, tốc đắt sanh thiên thượng, ly địa ngục khổ.

Nhỉ thời A Nan, cập chư đại chúng, thiên, long, quỷ thần, dạ xoa la sát nhơn, phi nhơn đẳng... văn Phật sở thuyết, các phát nguyện ngôn : ngã đẳng tận vị lai tế, ninh hoại thử thân do như vi trần, kinh bách thiên kiếp, thệ bất vi NHƯ-LAI thánh giáo, ninh bách thiên kiếp, bạt xuất kỳ thiệt, trường bách do tuần thiết lê canh chi, huyết lưu thanh hà, thệ bất vi NHƯ LAI thánh giáo, ninh dĩ bách thiên đao luân, ư tự thân trung, tả hữu xuất nhập, thệ bất vi NHƯ-LAI thánh giáo, ninh dĩ thiết võng, câu tráp triền thân, kinh bách thiên kiếp, thệ bất vi NHƯ-LAI thánh giáo ninh dĩ tỏa đôi, trảm toái kỳ thân, bách thiên vạn đoạn, bì nhục cân cốt, tất giai linh lạc, kinh bách thiên kiếp, chung bất vi như lai thánh giáo.

A Nan bạch Phật ngôn, Thế Tôn, thử kinh đương hà danh chi vân hà phụng trì ?

Phật cáo A Nan, thử kinh danh vi <<ĐẠI BÁO PHỤ MẪU ÂN TRỌNG KINH >> dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng trì.

Nhĩ thời đại chúng, văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành, tác lễ nhi thối.

Đại báo Phụ Mẫu ân trọng chơn ngôn viết :

Án nga nga nẳng tát bà-ha (108 biến)
Vãng sanh chơn ngôn :

Án truật đế luật tát, tát bà-ha (108 biến)

Ma ha bát nhã, ba la mật đa tâm kinh, quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá lợi tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị. Xá lợi tử, thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc thanh hương, vị, xúc pháp, vô nhãn, giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa, cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo, mộng tưởng cứu kính Niết-Bàn, tam thế chư Phật, y bát nhã ba la mật đa, cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhất thế khổ chân thực bất hư cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú tức thuyết chú viết : yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha.

Bạt nhất thế nghiệp chướng căn bổn đắc sanh tịnh độ đà la ni.

Nam mô A di đa bà dạ đa tha dà đa dạ đa diệt dạ tha, a di rị đô bà tì, a di rị đa tất đam bà tì, a di rị đa tì ca lăng đế, a di rị đa tì ca lăng đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)

A-di-đà Phật thân kim sắc, Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ tu di, Hám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang Trung hóa Phật vô số ức, Hóa Bồ tát chúng diệt vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh, Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn,
Nam mô Tây-phương Cực-lạc Thế-giới, Đại từ đại bi A Di Đà Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật (108 biến)
Nam Mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát (10 biến)
Nam Mô Đại-Thế-Chí Bồ-Tát (10 biến)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (10 biến)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ Tát (10 biến)
LỄ CHƯ PHẬT HIỆU

- Nhứt tâm Đảnh lễ Tận Hư Không, biến pháp giới, quá hiện vị-lai Phật, Pháp, Tăng thường trú Tam Bảo. (nhứt bái)



- Nhứt tâm Đảnh lễ Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích-Ca Mưu Ni Phật. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Tây phương Giáo-chủ Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Đương Lai Giáo Chủ Di Lặc Tôn Phật. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Đại Hạnh Phổ Hiền vương Bồ Tát. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Đại Nguyện Địa Tạng vương Bồ Tát. (1 lạy)
- Nhứt tâm Đảnh lễ Thập phương Tam Thế Nhứt thế chư đại Bồ Tát. (1 lạy)
- Nhứt tâm Phụng vì Phụ mẫu Đại trọng ân Đảnh lễ thập phương thường trú Tam Bảo tam bái.
TỤNG KINH SÁM HỐI, HỔI HƯỚNG VĂN

Đệ tử chúng đẳng, nghiệp lực ma chướng, thần trí thác loạn, sở lịch căn độn, tự nhiên tưởng lai, thoát lược hổn hào, điên đảo trùng điệp, lâm văn tuẩn ý, tự ngộ cú sai, quai thanh trược chi chánh âm, nê giãi hội chi tà kiến, hoặc sự đoạt kỳ chí, tâm bất tại kinh, tụng niệm khởi cú, đoạn tuyệt cách việt, cửu tụng giải đãi, nhân sự phẫn sân, bất nghiêm bất khiết. Hoặc thiệp ư cấu trần, bất túc kinh văn, hoặc thành ư độc mạn, thân khẩu phục dụng chi bất tịnh, y quan lễ mạo chi phất cung, cúng bất như nghi, xữ phi kỳ địa, quyễn thư nhu loạn, trụy lạc ô thương, chủng chủng bất chuyên bất thành, đại tàm đại cụ. Cung nguyện chư Phật Bồ Tát Pháp giới, tận hư không nhứt thế thánh chúng, Hộ-Pháp Thiện-thần Thiên long đẳng giới, Từ-bi lân mẫn, sám địch tội khiên, tất linh tụng kinh công đức, chu viên tất toại. Đệ tử chúng đẳng, hồi hướng tâm nguyện, thượng lự dịch nhuận hoặc ngộ, chú giải hoặc phi, truyền thọ sai thù, âm thích xiển tích, hiệu đối nhưng cải chi thất, thơ tả san khắc chi ngoa, kỳ sư kỳ nhơn, tất vị sám hối, Trượng Phật thần lực, sử tội tiêu trừ, thường chuyển Pháp luân, khởi tế hàm thức, dĩ thử kinh chú công-đức, hồi hướng Hộ pháp Long thiên, Tam-giới nhạc độc linh thông, thủ hộ Già-lam chơn tể, kỳ phước báo an bình thiện, Trang nghiêm Vô-thượng bồ đề, phổ nguyện pháp giới chúng sanh, cộng nhập tỳ-lư tánh hải.

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tận tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ tát đạo.


Nguyện sanh Tây phương tịnh độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh
Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.


Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.


Phúng kinh công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới tứ trọng ân.
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.


Nhứt tâm đảnh lễ tiên báo Nhị thân ân Hậu thành Chánh giác chư Bồ Tát. (tam bái)
ĐẢNH LỄ TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giai đại đạo, phát vô thượng Tâm.

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như Hải.

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thế Vô ngại.

Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhứt thế
Đệ Tử cọng chúng sanh
Tổng giai thành Phật đạo

HÒA NAM THÁNH CHÚNG

_____________________
PHẦN KINH NGHĨA
NGHI THỨC TRÌ TỤNG
KINH BÁO ÂN CHA MẸ

(lời dặn cần thiết)

Để sự trì tụng được đầy đủ lòng thành khẩn và nhiều linh-nghiệm, trước khi vào khóa lễ các vị Phật tử phải làm như sau :

- Khi rửa tay thầm niệm lời chú nầy :

Lấy nước rửa tay, nguyện cho chúng sanh, đặng tay trong sạch, thọ trì pháp Phật. (niệm câu chú) :

An chủ ca ra da tóa ha (3 lần)

- Khi rửa mặt thầm niệm lời chú nầy :

Lấy nước rửa mặt, nguyện cho chúng sanh, đặng sạch pháp môn, hằng không nhơ nhớp.

(niệm câu chú) :

Án lam tóa ha (7 lần)

- Khi súc miệng thầm niệm lời chú nầy :

Súc miệng tâm liền tịnh,
Phun nước trăm hoa thơm,
Ba nghiệp thường trong sạch,
Đồng Phật về Tây phương.
(niệm câu chú) :
Án hám án hản tóa ha (3 lần)

Sau khi thân tâm đã được trong sạch và lễ phục tề chỉnh Phật-tử vào trước Phật-điện mắt nhìn thấy hình tượng Phật Bồ-Tát thì liền niệm lời chú nầy :

Con được thấy Phật, nguyện cùng chúng sanh, được vô ngại nhãn, thấy tất cả chư Phật.

Án A mật lật đế hồng phấn tra (3 lần)

Niệm chú nầy xong thân tâm thành kính hướng về Phật xá một xá, rồi sẽ lên hương đèn và vào khóa lễ.
NGHI THỨC KHAI KINH

(Trước hết kính lễ Tam Bảo 3 lạy)

- Nhứt tâm đảnh lễ thường trụ Tam-Bảo khắp pháp giới mười phương.

(Xướng một câu đánh một tiếng chuông lạy một lạy)

Chấp tay dâng 3 cây nhang và quỳ đọc bài nguyện hương :

Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương,
Phưởngphất khắp mười phương,
Cúng dường ngôi Tam-Bảo,
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành,
Cùng pháp giới chúng sanh,
Cầu Phật từ gia hộ;
Tâm Bồ đề kiên cố,
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.
(Đứng dậy cắm hương và tiếp nguyện)
Đấng Pháp vương vô-thượng,
Ba cõi chẳng ai bằng,
Thầy dạy khắp Trời, Người
Cha lành chung bốn loại,
Con nay xin quy y,
Cầu diệt nghiệp ba kỳ,
Xưng dương và tán thán,
Ức kiếp không cùng tận.
- Nhứt tâm đảnh lễ Đức Từ-phụ Bổn Sư Thích-Ca Mưu Ni Phật.
(3 tiếng chuông lạy 1 lạy)
(Đứng chấp tay đọc bài tán Phật)
Như-Lai thân tướng đẹp,
Thế-gian không gì bằng.
Chẳng sánh nghĩ bàn được,
Nên nay con đảnh lễ,
Thân Phật đẹp vô-ngần,
Trí-huệ Phật vô-biên,
Thường trụ tất cả pháp.
Vì thế con quy y,
Trí lớn nguyện lực lớn,
Khắp độ cả chúng sanh,
Khiến lìa thân nhiệt não.
Sinh sang nước Thanh-lương.
Con nay tịnh ba nghiệp
Quy Y và tán lễ,
Nguyện cùng các chúng sanh
Đồng sanh về cõi Phật.
Án phạ nhựt ra hồng (3 lần)

(Xướng 9 danh hiệu Phật Tây-Phương, mỗi hiệu mỗi lạy)

- Nhứt tâm đảnh lễ, Phật A-Di-Đà Thân Thanh-tịnh Diệu-pháp ở cõi Thường-Tịch-Quang, cùng khắp pháp giới mười phương chư Phật.

- Nhứt tâm đảnh lễ, Phật A-Di-Đà, Thân Vi trần tướng-hải, ở cõi Thật báo Trang-nghiêm, cùng khắp pháp giới mười phương chư Phật.

- Nhứt tâm đảnh lễ, Phật A-Di-Đà, Thân giải-thoát tướng-nghiêm ở cõi phương tiện Thánh cư, cùng khắp giới mười phương chư Phật.

- Nhứt tâm đảnh lễ, Phật A-Di-Đà, Thân Đại-thừa căn giới, ở cõi Tây-Phương An-lạc, cùng khắp pháp giới mười phương chư Phật.

- Nhứt tâm đảnh lễ, Phật A-Di-Đà, thân hóa khắp mười phương ở cõi Tây phương An-lạc, cùng khắp pháp giới mười phương chư Phật.

- Nhứt tâm đảnh lễ, ba kinh Giáo, Hạnh, lý Tuyên Dương cả Y, Chánh, ở cõi Tây-phương An-lạc cùng khắp pháp giới mười phương chư tôn Pháp.

- Nhứt tâm đảnh lễ, Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thân vạn ức Tử-kim ở cõi Tây-phương An-lạc cùng khắp pháp giới mười phương chư Bồ-Tát.

- Nhứt tâm đảnh lễ, Đại-Thế-Chí Bồ-Tát, Thân Quang-trí vô biên, ở cõi Tây-phương An-lạc cùng khắp pháp giới mười phương chư Bồ-tát.

- Nhứt tâm đảnh lễ, Thánh chúng trong hải hội Thanh-tịnh, thân mãn phần nhị nghiêm, ở cõi Tây-phương An-lạc cùng khắp pháp giới mười phương chư Thánh Chúng.

Con nay vì bốn ân, ba cõi : pháp giới chúng sanh, nguyện dứt trừ ba chướng và quy mạng sám hối. (3 lạy)

(Quỳ tụng lời sám hối)

Đệ tử .... hôm nay, xin chí thành sám hối.
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp,
Đều do nguồn gốc tham, sân, si
Từ thân miệng ý phát sanh ra,
Tất cả con nay xin sám hối.
Hết thảy bao nhiêu nghiệp chướng ấy,
Điều tiêu diệt sạch như hư không
Niệm niệm trí soi khắp pháp giới
Rộng độ chúng sanh đều thành Phật.

Quy mạng lễ A-Di-Đà Phật cùng hết thảy Tam-Bảo ở khắp pháp giới mười phương. (3 tiếng chuông 1 lạy)

(lạy xong quỳ hoặc ngồi trì tụng)

Cung kính kỉnh lễ Kinh Đại báo Phụ Mẫu Trọng Ân
BÀI TÁN DƯƠNG

Trầm hương vừa đốt, khói thơm xông khắp pháp giới Mười phương chư Phật đều cảm ứng, thị hiện kết mây lành, lòng thành chí thiết, chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương vân cái bồ tát ma ha tát (3 lần)

Chú tịnh khẩu nghiệp :

Tu lị, tu lị, ma ha tu lị, tu tu lị, tát bà ha (3 lần)

Chú tịnh thân nghiệp :

Án tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị ta bà ha (3 lần)

Chú tịnh tam nghiệp :

Án ta phạ, bà phạ, xuật đà ta phạ, đạt ma-ta phạ, bà phạ xuật độ hám. (3 lần)

Chú An-thổ-địa :

Nam mô Tam mãn đa, một đà nẫm, án độ rô, độ rô, địa vĩ tát bà ha. (3 lần)

Chú Phổ cúng dường :

Án nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hộc (3 lần)
BÀI PHÁT NGUYỆN :

Cúi lạy tam giới tôn,
Quy mạng mười phương Phật.
Con nay xin phát nguyện,
Thọ trì kinh báo ân.
Thấu nghe tám thứ tiếng,
Hiểu rõ năm hoằng thệ.
Vâng làm các khổ hạnh,
Ơn sanh thành khó trả.
Con nay nguyện tinh tiến,
Tụng kinh lạy Tam-Bảo.
Hầu mong đáp bốn ơn,
Cứu giúp ba đường khổ.
Như có người nghe thấy,
Liền phát tâm Bồ-đề.
Cùng đáp ơn cao dày,
Sống, thác đều lợi lạc.
Chỗ rốt ráo cùng tột,
Sâu kín của kinh này.
Xin Phật mở pháp mầu,
Vì chúng con khai thị.

Nam Mô Bổn Sư Thích-Ca Mưu Ni Phật (3 lần)
KỆ KHAI KINH

Pháp Phật cao thâm rất vi diệu
Muôn nghìn ức kiếp khó được gặp.
Con nay nghe thấy xin trì tụng,
Nguyện hiểu chơn thật nghĩa Như-Lai.
Nam Mô Khai Bảo Tạng Bồ-Tát Ma Ha Tát (3 lần)

_____________________
NAM MÔ ĐẠI BÁO PHỤ MẪU ÂN TRỌNG KINH

Phật nói kinh báo đáp ân sâu của Cha, Mẹ.

(Đời Dao-Tần Ngài Tam-Tạng pháp-sư tên Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu chỉ phiên dịch)

A-Nan - Tôi nghe như vầy : "Một thuở nọ Đức Thích-Ca ngự lại thành Vương Xá, trong vườn ông Cấp-Cô-Độc (rừng cây, ông Kỳ-Đà thái tử thuộc nước Xá-vệ), cùng hai vạn tám ngàn vị Đại Tỳ-khưu và các bậc đại Bồ-Tát.

Bấy giờ Đức Thế-Tôn, thống lãnh tất cả đại-chúng, hướng về phương nam, giữa đường Ngài gặp một đống xương khô Đức Thế-Tôn liền cúi đầu lễ bái .

A-Nan bạch Phật : Thưa Đức Thế-Tôn, Như-Lai là đấng Chí-tôn bậc thầy của ba cõi, cha lành chung bốn loại ; Trời người đều quy kỉnh, vì sao Ngài lạy đống xương khô kia?

Phật bảo A-Nan : Ông tuy là đệ-tử thượng túc của ta, xuất gia lâu năm, nhưng kiến thức còn nông cạn.

- Nầy A-Nan ! những đống xương khô kia, hoặc là ông bà hoặc là cha, mẹ nhiều kiếp của ta ; bởi thế cho nên ta chí thành kỉnh lễ.

- Nầy A-Nan, ông đem xương nầy phân làm hai cụm : nếu là Nam phái, thì xương đầu sắc trắng lại nặng.

Nếu là nữ phái thì xương đầu sắc đen lại nhẹ.

A-Nan bạch Phật : Kính lạy đức Thế-Tôn, theo con được hiểu nam phái ở đời : mạng đai, hia, mão, nên ai cũng nhận biết đó là đàn ông.

Còn về nữ phái : hương, hoa, phấn, sáp vòng, vàng, xuyến nhẫn... nên ai cũng nhận biết, đó là đàn bà.

Ngày nay khuất bóng, xương trắng một màu, Phật tuy dạy rành rẽ, con vẫn khó nhận hai phần nam, nữ.

Phật lại dạy rằng : "Nầy ông A-Nan ! Những người con trai, lúc còn sinh tiền thường hay tới lui các nơi Am, Tự nghe tụng kinh điển, lễ bái Tam-Bảo, niệm danh hiệu Phật ; bởi vậy nhờ nhân duyên đó nên xương đầu sắc trắng lại nặng.

Những người con gái, trong lúc sinh tiền, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tốn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc thường ra, ba đấu ba thăng, sửa cho con bú hết thảy tám thùng bốn đấu, cho nên xương nhẹ sắc đen".

A-Nan sau khi nghe lời Phật dạy, thương xót vô cùng, lòng đau như cắt, lụy nhỏ dầm dề, mà bạch Phật rằng :

"Bạch Đức Thế-Tôn, công ơn cha mẹ, cao dày non biển, chúng con làm sao báo đáp ? Cúi xin Đức Thế-Tôn, nhủ lòng thương xót, ban bố cho chúng con phương pháp báo đền công ơn cha mẹ.

- Phật bảo A-Nan ! Ông hãy lắng nghe, ta vì các ông mà phân biệt tỏ bày.

Nầy A-Nan ơi ! Ơn hoài thai của mẹ, trong vòng mười tháng, nặng nề cay đắng... không sao kể xiết.

- Hoài thai tháng thứ nhất, tựa giọt sương đọng trên đầu ngọn cỏ, buổi sớm đang còn, chiều lại biến mất, ban mai tụ lại, trưa đã tiêu tan, mất còn khó giữ.

- Hoài thai tháng thứ hai : giống như sữa đặc, vẫn còn chưa chắc.

- Hoài thai tháng thứ ba : dạng tựa hòn máu, vì chưa thành tượng hình.

- Hoài thai tháng thứ tư : vừa mới tượng hình mong manh tợ bọt bể.

- Hoài thai tháng thứ năm : mới đủ năm hình ; chân tay, đầu óc và thân hình.

- Hoài thai tháng thứ sáu : lục tinh mới đầy đủ ; mặt tai, mũi, miệng, lưỡi và ý thức.

- Hoài thai tháng thứ bảy : đầy đủ ba trăm sáu mươi đốt xương, tám vạn bốn ngàn chân lông.

- Hoài thai tháng thứ tám : Tạng phủ của hài nhi đều đầy đủ, ý chí cùng thông với chín khiếu.

- Hoài thai tháng thứ chín : Hài nhi trong bụng mẹ, uống ăn bằng nguyên khí, không ăn rau quả, ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thục tạng hướng lên, có một tòa núi chia làm ba đỉnh : một là núi Tu-di, hai là núi nghiệp, ba là núi huyết. Núi nầy một lúc lỏng ra, hóa làm giòng máu rót vào trong miệng của hài nhi để nuôi dưỡng.

- Hoài thai tháng thứ mười : Thân thể vẹn toàn, mới đến kỳ sinh. Nếu là con hiếu thì chấp tay thu hình, êm ái mà ra, không xót đau lòng mẹ. Nếu là đứa con ngỗ nghịch đạp nhoài, giẫy, giụa, bức, nắm, cào, xé, làm cho lòng mẹ đau như trăm ngàn dao nhọn rạch xé tâm can... kể sao cho xiết ! Sinh được con rồi mẹ cha mừng vui vô hạn.

Phật bảo A-Nan, ơn đức mẹ cha, gồm có mười điều, phải luôn ghi nhớ dốc lòng báo đáp. Những gì là mười ân ?

- Ân thứ nhứt : Mẹ cưu mang nặng nhọc, giữ gìn bảo toàn cho con.
- Ân thứ hai : Mẹ sinh đẻ đớn đau muôn nghìn cay đắng.
- Ân thứ ba : Mẹ sinh con chỉ biết có con quên nghĩ đến mình.
- Ân thứ tư : Mẹ nuốt đắng ; nhả ngọt cho con.
- Ân thứ năm : Bên ướt mẹ chịu, bên ráo con lăn.
- Ân thứ sáu : Mẹ ẵm bồng, bú mốm cho con lúc còn thơ ấu.
- Ân thứ bảy : Mẹ chịu bao dơ dáy, tắm rửa giặt giụa.
- Ân thứ tám : Xa con một phút, mẹ trông nhớ khôn nguôi,
- Ân thứ chín : Mẹ nuôi nấng con mà cam lòng tạo bao ác nghiệp.
- Ân thứ mười : Mẹ suốt đời lo lắng cho con.

_____________________
ÂN THỨ NHỨT

Cưu mang nặng nhọc, gìn giữ bảo toàn cho con !
Nhân duyên nhiều kiếp nặng,
Mới vào mẫu bào thai,
Tháng đầy sinh năm tạng,
Bảy bảy sáu tinh khai.
Thân nặng như non nhạc,
Động tịnh sợ phong tai,
Áo the đành xốc sếch,
Gương sáng biếng trang đài.
ÂN THỨ NHÌ

Sinh đẻ đớn đau, muôn ngàn cay đắng !
Cứu mang mười tháng trọn,
Sinh nở đã đến kỳ,
Bình minh lâm bịnh nặng,
Chiều mê mệt lâm ly.
Lo lắng lòng sợ sệt,
Sầu não lệ thâm y,
Ngậm ngùi bảo quyến thuộc,
Tử thần sớm dắt đi.
ÂN THỨ BA

Sinh con chỉ biết có con quên nghĩ đến mình !
Những ngày mẹ sinh con,
Ngũ tạng sưng phù ra,
Thân tâm đều mê mẩn,
Máu huyết ướt chan hòa.
Sinh rồi mong con mạnh,
Vui mừng dạ thiết tha,
Đương mừng lo lại đến,
Con ốm lòng mẹ đau.
ÂN THỨ TƯ

Nuốt đắng nhả ngọt cho con !
Mẹ, cha tình non biển
Thương con lòng chẳng nguôi.
Nhả ngọt nào có tiếc.
Nuốt đắng chẳng rùng môi
Dạ mến yêu chân thật
Ơn sâu khó đắp bồi
Những mong con no ấm
Mẹ đói, rách cũng vui.
ÂN THỨ NĂM

Bên ướt mẹ chịu bên ráo con lăn!
Chỗ ướt mẹ nằm lên
Ấm, ráo để con thơ
Hai vú phòng đói khát
Hai tay che gió hàn
Đêm đêm mẹ mất ngủ
Thương con sánh ngọc vàng
Những mong con vui vẻ
Lòng mẹ mới được an.
ÂN THỨ SÁU

Ẵm bồng bú mốm cho con lúc còn thơ ấu !
Đức mẹ dày như đất
Ân cha thẳm tợ trời
Nuôi con đều bình đẳng
Lòng mẹ chẳng chia phôi
Không ghét con mù, điếc
Không hiềm tật chân tay
Con cùng chung máu mủ
Lòng thương chẳng đổi thay
ÂN THỨ BẢY

Chịu bao dơ dáy tắm rửa giặt giụa!
Vốn người có nhan sắc
Lại thêm phấn, sáp, bông
Mày xanh như liễu lục
Má đỏ tợ sen hồng
Giặt dũ khăn cùng tã
Dơ dáy chẳng đổi dung
Mong sao quần áo sạch
Tóc búi gọn là xong.
ÂN THỨ TÁM

Xa con một phút lòng mẹ khôn nguôi!
Tử biệt lòng không nhẫn
Sinh ly đôi ngã đường
Con đi xa muôn dặm
Lòng mẹ ở cố hương
Ngày đêm thường tưởng nhớ
Tất dạ quặn can trường
ÂN THỨ CHÍN

Vì nuôi nấng con mà tạo bao điều ác nghiệp!
Mẹ, cha dày gian khổ
Công lao sánh tợ trời
Bế bồng cùng nuôi nấng
Mong con vui ăn chơi
Nhường cơm con no lòng
Mẹ đói rách vẫn vui
Lớn khôn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÂN THỨ MƯỜI

Suốt đời thương mến lo lắng cho con!
Công đức mẹ cùng cha
Cao thâm tợ hải hà
Đứng, đi lòng thương trẻ
Nhớ nghĩ lúc gần xa
Mong cho ân oán hết
Mẹ cha trăm tuổi già
Vẫn thương con tám chục
Đến chết còn thiết tha.

Phật bảo A-Nan "Ta xem chúng sanh, tuy được làm người nhưng tâm hạnh mờ tối, không nghĩ đến ân đức cao dày của cha mẹ, không sanh tâm cung kỉnh, bội ân phản đức, lòng không nhớ nghĩa, không thảo không ngay. Nghĩ như : mẹ mang thai, chín tháng mười ngày, đứng ngồi mệt nhọc, như gánh gánh nặng, ăn uống khó khăn, khác nào bịnh tật, tháng ngày đã đủ, chịu bao đau khổ, lo sợ vô thường, như giết trâu dê, máu loang đầy đất. Mẹ ta chịu biết bao đau khổ như thế, mới sinh được thân nầy. Ngoài ra, mẹ còn nuốt đắng nhả ngọt ẵm bồng nuôi nấng, giặt rửa dơ dáy, chẳng quản nhọc nhằn, chịu bao nóng lạnh. Không từ cay đắng, nhường chỗ ráo cho con, bên ướt mẹ nằm. Trải hơn ba năm, cho con bú sữa, mới được lớn khôn, dạy bày lễ nghĩa gây dựng gia đình, đầy đủ sản nghiệp, chẳng quản gian nan. Suốt đời đau khổ mẹ không hề than thở, rủi con đau ốm, cha mẹ xót xa, con được mạnh khỏe, lòng mẹ mới an. Sự nuôi nấng của mẹ, cha cao dày như thế, muốn cho con sớm nên người hữu dụng, nhưng khi con đã lớn khôn, trở lại bất hiếu, chẳng kể mẹ cha, đôi co cáu kỉnh, nói năng vô lễ, dương mắt trợn trừng, háy nguích lại cha mẹ, khinh rẻ chú bác, đánh đập mắng chưởi anh em, làm cho tủi nhục dòng họ, ở không lễ nghĩa, chẳng vâng nghe lời thầy và cả cha mẹ, tự ý tự chuyên, không theo giáo huấn, anh em can ngăn, lại dùng lời hỗn xược. Khi đi về chẳng kể sớm chiều, không một lời thưa gởi với mẹ cha, nói năng hành động đều trái ngược, làm việc tự ý, chẳng tuân mẹ cha. Tuổi còn thơ ấu, người chẳng chấp nệ, nay đã trưởng thành lại càng ương ngạnh mọi điều, cha mẹ quở phạt, chú bác dạy bày, trở lại giận hờn, làm điều bất nghĩa ; theo bọn hoang đàng bỏ hàng bạn tốt, tập những thói quen, si mê cuồng dại, bị người phỉnh dụ, trốn bỏ quê hương, phản bội mẹ cha, bỏ nhà biệt xứ, hoặc theo buôn bán, hay lại đầu quân, lần lữa tháng năm, đem lòng lưu luyến, tự dựng hôn nhân chẳng nhớ quê nhà, buông lung xứ lạ, tập tính cẩu thả, mưu mô đàng điếm, làm việc ngang tàng, mắc vòng lao lý ngục tù giam giữ, hoặc vì đau ốm, ách nạn buộc ràng, đói khổ nguy nan, không nơi nương tựa, bị người khinh ghét, vất vưởng lang thang ; do đó, mạng chung, không ai mai táng sình ương hủy hoại, nắng gió mưa dầu, xương thịt rã rời, thây phơi xứ lạ.



Đến khi mẹ cha thân thuộc, biết được tin buồn, sầu đau than thở, hoặc nhơn than khóc, lụy ứa đêm ngày, mắt sinh mù quáng, hoặc quá bi ai, kết thành bịnh hoạn, hoặc nhân thương nhớ ; ôm khối hận sầu, vàng vỏ héo khô cho đến tuyệt mạng, làm quỷ giữ hồn khó bề siêu thoát.

Hoặc nhân vì con bỏ học bỏ hành, không chuyên sự nghiệp, theo thói dị đoan, vô loại hoang đàng, làm điều vô-ích, đánh dành trộm cướp, thâu đoạt của người, rượu chè cờ bạc, gian phi lầm lỗi, liên lụy anh em, thân thuộc cha mẹ. Vừa sớm đã đi, tối khuya mới về, mẹ cha lo lắng. Không nghĩ đến cha già mẹ yếu, ấm lạnh cơ hàn, sớm tối hỏi han, quạt nồng đắp lạnh, chăn gối hầu hạ, con chẳng một mảy may biết đến, chẳng hề thăm hỏi sức khỏe mẹ cha, tình như nước lã. Cha mẹ tuổi già hình vóc yếu gầy, con thấy mẹ cha như thế, chẳng chút xót xa , lại nở sinh lòng khinh khi hất hủi.

"Hoặc là cha mẹ đơn côi, gìn giữ cửa nhà, con thì như người khác trọ, ở gởi qua đường, mẹ cha đói rét con nào biết đến, bỏ mặc cho mẹ cha ngày đêm than thở, tự sầu tự thương.

Còn như dọn cơm đem nước, dâng lên cha mẹ, e dè xấu hổ, cho rằng những kẻ bàng quan, khi cười sĩ diện, mà chẳng thành tâm cung kính. Trái lại, tài của, vật thực cung cấp cho vợ con, thì như mặt dạn mày dày không hề xấu hổ, thê, thiếp sai bảo, mọi việc đều nghe. Người tôn trưởng quở trách đứa con ngỗ nghịch, trọn không kính nể phục thiện.

- Nói về con gái, khi chưa xuất giá, còn giữ chút lòng hiếu thuận, đối với mẹ cha, khi đã theo chồng, lòng sanh chẳng thảo, mỗi lần thăm viếng mẹ cha có điều trách nhẹ, liền sanh oán hận. Bên chồng đánh mắng, nhịn nhục cam tâm. Kìa như khác họ tha tông, tình thâm huyết trọng. Ngược lại tình thâm cốt nhục, lại trở thành sơ.

Hoặc khi theo chồng, làng xa quận khác, rời khỏi quê hương, lòng không lưu luyến tưởng đến mẹ cha, biệt tăm tin tức để cho cha mẹ thương nhớ, ruột gan đòi đoạn, mong mỏi tin con.

Ân đức mẹ cha vô lượng vô biên, những tội lỗi lầm bất hiếu kể sao cho hết .

Lúc bấy giờ đại chúng nghe Phật nói rõ ân đức sâu dày của cha mẹ, liền đứng dậy chắp tay cúi đầu đảnh lễ sát đất, dập đầu máu chảy, lụy nhỏ dầm dề, cho đến các lỗ chân lông ứa ra máu đỏ, có người chết ngất, lúc lâu mới tỉnh. Tất cả đại chúng đều đồng thanh lớn tiếng than rằng : đau khổ thay ! đau khổ thay !

"Hết thảy chúng con, tội sâu như biển, ngày trước chưa biết, mờ mịt tối tăm như người đi đêm, ngày nay đã rõ những điều tội lỗi, lòng dạ xót đau như bị nghiền nát. Cúi xin Đức Thế-Tôn, xót thương chúng sanh mở đường cứu vớt. Làm sao báo đáp được công ơn cao dày của cha mẹ ?".

Lúc bấy giờ Đức Như-Lai, tức thời dùng tám thứ tiếng Phạm-thinh, thấu suốt các cõi thế giới mà bảo Đại-chúng : các ông lắng nghe, ta vì chúng sanh mà dạy bày phương pháp :

- "Giả sử có người vai trái cõng cha, vai mặt cõng mẹ" thịt nát thấu xương, xương nát thấu tủy, đi vòng quanh khắp núi tu-di, trải trăm ngàn kiếp, máu tuôn ướt đất, cũng không có thể đền đáp được công ơn sâu dày của cha mẹ.

- Giả sử có người, gặp kiếp vận đói khát, lóc hết thịt trên thân mình, để dâng cha mẹ, trải trăm ngàn kiếp. Tình hiếu ấy cũng chỉ như hạt bụi nhỏ, không đền đáp được công ơn sâu dày của cha mẹ.

- Giả sử có người, trải qua trăm ngàn kiếp, tay cầm dao bén, tự móc mắt mình, dâng lên cha mẹ, để làm lương thực, cũng không thể đền đáp được công ơn sâu dày của cha mẹ.

- Giả sử có người, vì thương bịnh tình cha mẹ, tay tự cầm dao mổ lấy tim, gan, máu tuôn lai láng, chỉ vì cha mẹ, không từ đau khổ, trải qua trăm ngàn kiếp, cũng không có thể đền đáp được công ơn sâu dày của cha mẹ.

- Giả sử có người, vì hiếu đạo, đối với mẹ cha, chịu trăm ngàn dao máy, quay tròn đâm xén thân mình, luân chuyển ra vào hai bên tả hữu, trải qua trăm ngàn kiếp, cũng không thể đền đáp được công ơn sâu dày của cha mẹ.

- Giả sử có người, vì chí hiếu đối với mẹ cha, tự treo mình châm dầu đốt lên làm cây đèn thịt, cúng dường Như Lai cầu cho cha mẹ, trải trăm ngàn kiếp cũng không thể đền đáp được công ơn sâu dày của cha mẹ.

- Giả sử có người, vì lòng hiếu đạo, đập xương lấy tủy để chữa bịnh cha mẹ, hay dùng trăm ngàn mũi nhọn, tự chích vào thân, trải trăm ngàn kiếp, cũng không hay báo đáp được công ơn sâu dày của cha mẹ.

- Giả sử có người, vì cứu mẹ cha, tự nuốt hoàn sắt nóng, cháy sém khắp cả châu thân, như thế trải trăm ngàn kiếp, cũng không thể báo đáp được công ơn cao dày của cha mẹ.

* * *

Tất cả chúng hội, nghe Phật nói rồi, lòng dạ đớn đau như cắt, lụy nhỏ dầm dề, khóc than bi thiết, cùng đồng thanh bạch Phật : - "Lạy Đức Thế-Tôn : chúng con biết làm cách gì để báo đáp được ơn sâu dày của cha mẹ ?".

Đức Phật dạy rằng - Phật tử muốn báo được thâm ân, - phải vì cha mẹ, hoặc biên chép, hoặc in kinh này thành sách, cho mọi kẻ xa gần tụng niệm công đức ấy hồi hướng về cho cha mẹ.

- Phải vì cha mẹ, tụng đọc kinh nầy.
- Phải vì cha mẹ, sám hối tội khiên.
- Phải vì cha mẹ, cúng dường Tam-Bảo.
- Phải vì cha mẹ, ăn chay giữ giới.
- Phải vì cha mẹ, bố-thí tu-phước.

Nếu người Phật-tử làm được như vậy ; thì mới hay báo được công ơn sâu dày của cha mẹ. Đó mới gọi là người con có hiếu. Nếu người Phật-tử không làm những hạnh như thế, thì gọi là bất hiếu.

Phật bảo A-Nan, những người bất hiếu, sau khi đã chết liền đọa vào A-tỳ-địa-ngục. Ngục nầy rộng lớn, tám vạn do-tuần, bốn phía đều thành bằng sắt, bao bọc đều bằng lưới sắt, lửa đỏ từ lòng đất cháy lên hừng hực, sức nóng thiêu đốt mãnh liệt, sấm sét chớp giăng, tiếng rền vang khủng khiếp : nào là lò than nước độc, nước đồng sôi nấu chảy, phun lên không trung, cứ tìm cửa miệng tội nhơn mà rót thẳng vào ; nào là chó đồng rắn sắt, phung ra khói lửa mịt mù, sức nóng như thiêu đốt ; rang, nướng ! thịt mở đều cháy tiêu, đau đớn vô cùng, tội nhơn không sao chịu nỗi. Lại có câu đồng móc sắt, rừng kiếm, núi đao những thứ ấy đều tự bay vòng quanh lộn trên không trung, như mưa như mây, từ trên bay xuống, cứ tìm móc, hoặc vít, hoặc đâm ; đau đớn trăm bề, chịu những nỗi đau như thế, trải qua nhiều kiếp, không có thời gian gián đoạn.

Tiếp đó lại vào trong địa-ngục khác, đầu đội chậu lửa, xe sắt phân thây, ruột gan xương thịt, nát bắn tứ tung, nội trong một ngày, ngàn lần sống, thọ khổ đau chết muôn vạn lần , chịu những nỗi khổ đau như thế, đều nhân ở đời phạm tội ngũ-nghịch bất hiếu.

Phật dạy : Nếu người thiện nam, thiện nữ vì ông, bà, cha mẹ mình mà in kinh này, mới thật là báo đáp ơn sâu dày của cha mẹ.

Ai hay :

- Tạo được một quyển, thì thấy được một Đức Phật.
- Tạo được mười quyển, thì thấy được mười Đức Phật.
- Tạo được trăm quyển, thấy được trăm Đức Phật.
- Tạo được ngàn quyển, thấy được ngàn Đức phật.
- Tạo được vạn quyển, thấy được vạn Đức Phật.

Nhờ duyên lực tạo kinh này, thường được chư Phật luôn luôn ủng hộ, khiến cho cha mẹ của người tạo kinh, mau được sinh lên cõi trời, xa lìa những khổ đau nơi chốn địa-ngục.

Bấy giờ ông A-Nan và các đại-chúng cùng Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Dạ-xoa, La-sát, Nhơn và Phi-nhơn v.v? nghe Phật nói rồi, đều đồng thanh phát nguyện :

"Tất cả đệ-tử chúng con, nguyện mãi mãi về sau cho đến đời vị lai xa thẳm thà chịu nát thân, trải trăm ngàn kiếp thề không dám trái lời giáo huấn của Như Lai.

- Chúng con thà chịu trải qua trăm ngàn kiếp, kéo lưỡi ra ngoài dài trăm do-tuần, dùng cây sắt bừa lên, máu chảy thành sông, chứ thề không dám trái lời giáo huấn của Như-Lai.

- Chúng con thà chịu trăm ngàn mũi dao nhọn, quanh lộn trong thân, rạch khắp tả hữu, thề nguyện không trái với thánh giáo của Đức Như-Lai.

- Chúng con thà chịu, lưới sắt trói buộc quanh mình, trải trăm ngàn kiếp, thề nguyện không dám trái lời thánh giáo của Đức Như-Lai.

- Chúng con thà chịu, đao máy cối giã, nghiền nát thân mình, trăm ngàn muôn mảnh, da, thịt, gân, xương, thảy đều rời rã, trải trăm ngàn kiếp thề không dám trái lời thánh giáo của Đức Như-Lai".

Bấy giờ A-Nan bạch Phật rằng - Kính lạy Đức Thế-Tôn kinh nầy tên gọi là gì ? Cúi xin Đức Thế-Tôn chỉ dạy để chúng con được biết phụng trì ?

Phật bảo A-Nan, tên kinh này gọi là "ĐẠI BÁO PHỤ MẪU ÂN TRỌNG KINH" đó là danh tự các ông nên phụng trì.

Bấy giờ hết thảy Đại-chúng nghe Phật dạy rồi, tất cả đều hoan hỷ tín thọ phụng hành, đều lễ Phật mà lui.

________________________

Thần chú kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân :

Án Nga Nga Nẳng Tát Bà Ha (108 biến)
Thần chú vãng sanh :

Án Truật Đế Luật tát, Ta Bà Ha (108 biến)
PHẦN HỔI HƯỚNG :
(Tụng Tâm Kinh Bát Nhã....._)
TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT

Bồ Tát Quán Thế Âm
Đồng danh Quan Tự Tại
Thực chứng Trí Tuệ lớn
Quán chiếu tất cả pháp
Thấy Năm Uẩn đều không
Độ thoát các khổ ách !
Nầy ông Xá Lợi Tử :
Sắc chẳng khác gì Không
Không chẳng khác gì Sắc
Sắc cũng tức là Không
Không cũng tức là sắc,
Các Uẩn, Tho Tưởng, Hành,
Và Thức cũng như vậy.
Nầy ông Xá Lợi Tử :
Các Pháp không có Tướng,
Không tướng Sanh tướng Diệt
Không tướng Sạch tướng Dơ
Không tướng Thêm tướng Bớt
Cho nên trong cái Không,
Là không Sắc không Thọ,
Không Tưởng và Hành,Thức,
Kể cả Mắt, Tai, Mũi
Cũng như Lưỡi, Thân, Ý.
Pháp trần, Tiếng, Mùi thơm,
Vị, Xúc, Pháp ? Cũng vậy.
Không giới phận của Mắt
Không giới phận Ý-Thức.
Không có tên Mê-Mờ (vô-minh)
Không tên hết Mê Mờ,
Và những tên Gia, Chết
Cũng như hết Già Chết.
Luôn cả, Kho嬠Tập, Diệt,
Và Đạo, trong Bốn Đế.
Không Trí và không-Đắc,
Do nơi không-sở-đắc,
Cho nên Bậc Bồ-Đề,
Giác ngộ chúng Hữu-tình :
Nương vào Trí Tuệ lớn
Đến tột bờ cứu cánh.
Tâm không còn ngăn ngại,
Vì không có ngăn ngại
Nên không còn sợ hãi
Điên đảo và mộng tưởng .
Rốt ráo thường vắng lặng (niết-bàn)
Ba đời các Đức Phật ,
Đều từ Trí Tuệ lớn
Bên kia bờ Giải Thoát
Đã chứng bậc Vô-Thượng
Chánh Đẳng Giác cao tột.
Cho nên biết :
Bát Nhã Ba La Mật,
Là chú lớn Đại Thần.
Là Chú Sáng Đại Minh.
Là Chú Cao Vô Thượng.
Là Chú không gì sánh.
Chú trừ tất cả khổ
Chân thật không hư dối !
Nên nói chú Bát-Nhã ?

Phật tuyên nói chú rằng :

YẾT ĐẾ, YẾT ĐẾ, BA LA YẾT ĐẾ, BA LA TĂNG YẾT ĐẾ, BỔ ĐỀ TÁT BÀ HA.

Bạt nhất thế nghiệp chướng căn bổn đắc sanh tịnh độ đà la ni.

Nam mô A di đa bà dạ đa tha da đa dạ đa diệt dạ tha, a di rị đô bà tì ; a di rị đa tất đam bà tì, a di rị đa tì ca lăng đế, a di rị đa tì ca lăng đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)

Phật A-Di-Đà thân Kim sắc. Tướng tốt Quang-minh tự trang nghiêm.
Năm tu di uyển chuyển bạch hào. Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc.
Trong hào quang hóa vô số Phật. Vô số Bồ-Tát hiện ở trong.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát.
Quy mạng lễ A Di Đà Phật. Ở phương Tây thế giới An lành.
Con nay xin nguyện vãng sanh cho Cha Mẹ . Cúi xin Đức Từ bi tiếp-độ.
Nam Mô A Di Đà Phật (108 biến)
Nam Mô Quan-Thế-Âm Bồ-Tát (10 biến)
Nam Mô Đại-Thế-Chí Bồ-Tát (10 biến)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ-Tát (10 biến)
Nam Mô Thanh-Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-Tát (10 biến)
(Lễ Chư Phật)

- Nhứt tâm đảnh lễ Tận Hư không, biến pháp giới, quá hiện vị lai chư Phật, Pháp, Tăng thường trú Tam Bảo (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ Ta Bà Giáo-chủ Bổn Sư Thích-Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ đương lai Giáo-chủ Di-lặc Tôn Phật (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ Đại-bi Quan-Thế-Âm Bồ-Tát (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ Đại-Thế-Chí Bồ-Tát (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ Đại-trí Văn Thù Sư-Lợi Bồ-Tát (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ Đại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-Tát (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ Đại nguyện Địa-Tạng Vương Bồ-Tát (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ Thập phương tam thế nhứt thế chư đại Bồ-Tát (1 lạy)
- Nhứt tâm đảnh lễ phụng vì Phụ-Mẫu đại trọng ân Đảnh lễ Thập phương thường trú Tam Bảo (3 lạy)
(Quỳ tụng bài sám-hối hồi hướng)
BÀI TỤNG SÁM-HỐI HỔI HƯỚNG

Đệ tử chúng con
Ma nghiệp mê chướng
Ngu độn nhiều kiếp.
Tự nhiên tưởng sanh,
Sai quấy vẫn vơ,
Bởi vậy cho nên,
Lòng duyên ngoại cảnh,
Lầm lộn kinh văn,
Âm vận không chừng,
Hiểu theo tà kiến,
Tâm không chú trọng,
Đương khi tụng niệm,
Gián đoạn khoảng cách,
Tụng niệm hồi lâu,
Nhân việc trái ý,
Phật đài thanh tịnh,
Thiếu lòng thành kỉnh,
Thân, khẩu không sạch,
Cúng lễ sai phép,
Trải bày dưới đất
Tất cả đều do,
Hôm nay chúng con,
Vì sự tạo tác,
Thần chí thác loạn
Sáu căn tăm tối,
Ra những ý nghĩ,
Nhiều lớp điên đảo
Mắt nhìn kinh văn,
Tụng sai cú Pháp,
Tiếng tụng nặng nhẹ,
Lòng lại chấp nệ,
Theo sự bỏ lý,
Vào trong kinh điển,
Ngồi đứng chẳng yên,
Bỏ mất thứ tự,
Sinh ra biếng nhác,
Lòng nổi sân hận.
Làm cho ô uế
Khinh lờn dễ dãi,
Y phục chẳng ngay,
Kinh sách nghiêng ngữa,
Đổ rớt nhơ nhớp,
Bất chuyên bất kỉnh.
Hết lòng sợ hãi.
Cúi xin chư Phật,
Tất cả thánh chúng.
Thiện thần, Hộ-pháp,
Mở lượng Từ-bi,
Các tội lỗi lầm.
Kỉnh thành sám hối,
Trì kinh tụng chú,
Đệ-tử chúng con,
Lo sự phiên dịch,
Hoặc kẻ thừa truyền,
Âm thích nhầm lẫn,
Hoặc vì sửa đổi,
Hoặc các vị thầy,
Con nay thảy đều,
Nhờ thần lực Phật,
Sớm được tiêu trừ
Cứu vớt hữu tình
Tụng kinh trì chú,
Thánh thần ba cõi,
Cầu bao phước thiện,
Vô thượng Bồ-đề,
Đều được chung vào,
Pháp giới Bồ Tát
Khắp cõi hư không,
Thiên Long Bát-bộ.
Xót thương tha thứ,
Con xin thành tâm,
Khiến cho công đức,
Viên mãn tròn đầy.
Tâm nguyện hồi hướng,
Sai lầm chú giải,
Có điều sai lạc,
Những tội lỗi lầm :
In, khắc, biên, chép,
Hay những người khác,
Cầu xin sám hối.
Khiến cho các tội,
Xe pháp thường luân
Hết thảy công đức,
Thành tâm hồi hướng,
Giữ chốn già-lam,
Trang nghiêm chánh đạo,
Khắp nguyện chúng sanh
Vào Biển tánh chư Phật.
Nguyện tiêu ba chướng và phiền não
Nguyện được trí-tuệ tỏ chơn-minh
Nguyện bao tội chướng đều tiêu diệt
Kiếp kiếp thường tu hạnh Bồ-Tát
Nguyện về cõi tịnh Phật Tây phương,
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,
Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,
Các bậc Bồ-Tát là bạn hữu,
Chúng sanh vô biên thề độ hết .
Phiền não vô tận thề dứt sạch.
Pháp môn vô lượng thề tu học,
Đạo Phật vô thượng thề viên thành,
Công đức tối thắng tụng kinh nầy,
Bao nhiêu phước lớn xin hồi hướng,
Khắp nguyện đền đáp bốn trọng ân
Mau về cõi Phật vô lượng quang.


- Nhứt tâm đảnh lễ, tiên báo nhị thân ân, hậu thành chánh giác chư Bồ-Tát. (3 lạy)
ĐẢNH LỄ BA TỰ QUY-Y

- Tự quy y Phật, nguyện khắp chúng sanh, hiểu được đạo cả, phát lòng vô thượng.

- Tự quy y Pháp, nguyện khắp chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.

- Tự quy y Tăng, nguyện khắp chúng sanh, suốt cùng đại chúng, thảy đều không ngại.

Nguyện đem công đức này
Trải khắp cho tất cả
Con cùng với chúng sanh
Con cùng với cha mẹ
Đều trọn thành Phật đạo.

NAM MÔ LONG HOA GIÁO CHỦ ĐƯƠNG LAI TỪ THỊ DI-LẶC TÔN PHẬT LONG HOA HỘI LONG HOA TAM HỘI ĐỆ-TỬ NGUYỆN TƯƠNG PHÙNG. (TAM BÁI).

--- HẾT ---

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2020

Báo Hiếu Trọng Ân




Ngọ thời, ngày 15 tháng 03 niên Canh-Ngọ (10-04-1990)

PHẬT-TỔ THÍCH-CA
THI
PHẬT-tâm THÍCH Ðạo chẳng mê-đời,
TỔ pháp CA câu Bát-Nhã khơi.
NHƯ khiếu MÂU-quang hành mật-diệu,
LAI truyền NI chúng độ muôn nơi.
BÀI
Ngã chào Hiền-Ðệ Phục-Nguyên !
Thành-tâm Khẩn-ý chữ Thiền Như-Lai
Có điều chi hôm nay trợ tiếp,
Với Bần-Ðạo hội-hiệp luận phê,
Khởi trang mạch Ðạo Bồ-Ðề,
Ðệ-hiền trỗi-gót giác-mê hai đường ?
Ðó, này Phục-Nguyên Hiền-Ðệ !

PN : Nam-mô A-Di-Ðà Phật !
TC : Hiền-Ðệ thỉnh Bần-Ðạo giáng đàn có điều chi ?
PN : Nam-mô A Di-Ðà Phật! Kỉnh bạch Ðức Thế-Tôn ! Vì ngày rằm tháng 07 năm rồi (Kỷ-Tỵ). Ðức Thế-Tôn, Ðức U-Minh Giáo-Chủ, Ðức Xá-lợi phất, cùng thân-sinh của Phục-Nguyên, và Ðức Bồ-tát Thanh-Ðề có giảng những thời pháp nói về ý-nghĩa “BÁO-HIẾU TRỌNG-ÂN”. Nay Phục-Nguyên đã sao ra kết-tập thành một bổn, vậy kính thỉnh Ðức Thế-Tôn hoan hỉ xin cho tựa đề quyển kinh này, làm giáo lý hầu để giúp-ích cho hậu-thế. Kính bạch Ðức Thế-Tôn cho tựa-đề.
TC :

BÀI
Rằm tháng bảy “VU-LAN TỰ-TỨ”,
Là ngày ấy trọn chữ hiếu sanh.
Nếu là xuất-tục tu-hành,
Càng nên trọng-dụng điều lành cứu tai !
Lễ VU-LAN an bày thanh-khiết,
Lòng BÁO-HIẾU thành-thiệt mẹ cha,
Ðồng chung môn-pháp ái-hòa,
Ðể cầu nghĩa-cử ấy là thuận sanh.
Nay quyển kinh đành-rành cho thế,
Ðặt tựa-đề để lễ lưu-truyền,
Ðệ-hiền xuất-thế Phục-Nguyên !
Thành-tâm nghe dạy phỉ-nguyền qui-y.
Tựa kinh là bởi vì BÁO HIẾU,
Chữ kế bên chẳng thiếu TRỌNG-ÂN,
Người tu phải vững hai phần,
Một bên đền-đáp, bên cần giải sanh.
Tu cho nhẹ bạch-thanh hồn trược,
Trả hiếu nặng mới được siêu-thăng,
ÂN-CHA NGHĨA-MẸ trăm phần,
Chớ đừng lơ đễnh chữ nhân không tròn.
Ví như dòng trường-tồn giải-thoát,
Cần trung-ương mới phát ra ngoài,
Chữ này chớ có há sai,
“TRỌNG-ÂN BÁO-HIẾU” nghĩa đầy quyển kinh.

Ðó phục-Nguyên hiền Ðệ !
PN: Nam-mô A-Di-Ðà Phật ! Phục-Nguyên kỉnh lời dạy của Ðức Thế-Tôn, tựa-đề quyển Kinh là “BÁO HIẾU TRỌNG-ÂN”. Bạch Ðức Thế-Tôn có đúng vậy không ?
TC: Ðúng đó ! Thôi Bần-Ðạo xin thăng.
PN: Nam mô A-Di-Ðà Phật, kính Ðức Thế-Tôn !

Ngọ thời, ngày 15 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ (10-08-1989)
ÐỨC PHẬT THUYẾT NGÀY VU-LAN
THI
THÍCH trần lắm khổ bớ ai ơi !
CA-khúc Từ-Bi chẳng có lời.
MÂU sáng linh-huyền toan độ chúng,
NI-tăng diệu-giác diệt tâm đời.

Này Phục-Nguyên! Bần-đạo hôm nay vì ngày Vu-Lan cũng là ngày báo-hiếu nên giáng đàn khuyến-nhủ, Phục-Nguyên lấy đó làm phương-châm trong vấn-đề tu-hành cũng là một chút chuẩn-lòng ghi nhớ bao nhiêu lời của Bần-Ðạo vậy.

BÀI
Ngày rằm Bần-Ðạo giáng trần,
Ðể lời giáo-lý siêu-tầng huyền-linh.
Ta Thái-Tử đắm-mình trụy-lạc,
Bên ngai-vàng ca-hát ngày đêm,
Thướt-tha hình bóng mỏng-mềm,
Sống trong hoan-lạc êm-đềm biết bao !
Nào hay biết dạt-dào tê-tái !
Cảnh trần-gian sợ hãi bao phen !
Cho nên dạo khắp dân quèn,
Thấy sự đói-khổ ta bèn tâu vua.
Này hỡi Cha ! Ðời chua-chát quá !
Nay con khờ lã-chã lệ rơi !
Xót thương bao nỗi người đời,
Buồn vui khổ khóc bời-rời tình-thâm !
Cha cho phép con tầm Ðạo cả,
Ðem chơn-lý từ giả tìm chơn,
Con đâu ngại khổ nũng sờn,
Xin Cha chấp-thuận mà quên thân này.
Nhưng Từ-Phụ nghe ngay bao tiếng,
Nhỏ lệ trần xao-xuyến tâm-thần,
Thương con lo được ấm thân,
Ngai-vàng nhung-lụa cung-tần vây quanh.
Cha thương con nuôi dần khôn lớn,
Chỉ mình con nơi chốn ngai-vàng,
Một khi khuất bóng trần-gian,
Ngôi vua thay-thế trị-an dân hiền.
Ta bỗng thưa lời liền lúc ấy,
Này Cha ôi! Nay thấy hình-dung,
Nhưng khi đến lúc lâm-chung,
Có gần được hỡi! Hay cùng hưởng an ?
Con xuất-gia tìm đàng nguyên-thỉ,
Là báo-hiếu thâm-thúy tình cha.
Xót-thương héo-hắt lòng già,
Nhìn Cha yếu-đuối lệ-sa bao lần !
Má nhăn-nheo tinh-thần yếu đuối,
Chân run-rẩy vì tuổi quá cao,
Thôi Cha chấp-nhận đi nào !
Ðể con tìm “ÐẠO” làm sao cứu đời ?
Ðời nói chung có thời Cha đó !
Cùng quyến-thuộc nào bỏ ai ra ?
Tuy rằng nghĩa trọng tình Cha,
Nhưng hồn đọa-lạc xấu xa tình đời.
Nên ta nghĩ vậy thời phút chốc,
Nơi thức-thần chọn-lọc hai đàng;
Một đàng cao ngất ngai-vàng;
Một đàng khoác áo lang thang tu-hành.
PHÚ
Trong hai đường, đường-sanh, đường-tử,
Chọn đường nào mà giữ linh-hồn ?
Chính đêm ấy dạ mãi bôn-chôn !
Rồi ta quyết bảo-tồn Ðạo cả.
Giờ Tý đến, lòng ta hối-hả,
Thương Cha già nay đã lưng còm,
Dầu biết rằng ấp-ủ tình hơn,
Nhưng sanh-tử, vô thường tê-tái !
Liền xuất-gia trần-hồng bỏ lại,
Mái tóc xanh đã trải bao thu,
Nơi tịch mịt, là chốn âm-u,
Tọa thiền học, công-phu phủi tục !

Này Phục-Nguyên! Trong đời, trên thế-gian không có gì bằng tình-Cha nghĩa-Mẹ, chẳng có gì sâu nặng bằng sự hiếu-đáp của người con đối với Cha Mẹ. Nhưng ta báo hiếu cho muôn đời; cho thiên-thu, chớ không phải ta báo-hiếu cho Cha Mẹ ta bằng hình-hài của kiếp đời, của kiếp người sớm nở tối tàn, phải không hiền-đệ Phục-Nguyên?
PN : Kính bạch Thế-tôn, đúng vậy !
TC : Vả lại, không phải ta chỉ hưởng-thụ trong một giây-lát sự báo của thế-gian này trong phút-chốc sẽ vì sanh-tử mà rụi-tàn. Ta báo-hiếu bằng lời chơn-lý, giải-thoát đó Phục-Nguyên!

BÀI
Hỡi Phục-Nguyên ! Con đường hành đạo;
Gắng tu-trì là báo trọng-ân,
Thương thay Cha Mẹ song-thân,
Tạo ra xác giả muôn phần đớn-đau !
Phận làm con nhìn vào hiếu vậy,
Nên ngày Rằm tháng bảy trùng tu,
Lấy ngày báo-đáp nghìn-thu,
CỬU-HUYỀN THẤT-TỔ từ-từ siêu-thăng.
Hạnh người tu chuyên-cần sớm-tối,
Này Phục-Nguyên, lề-lối hành trì !…
Vì ta hai chữ “TỪ-BI”,
Phục-Nguyên nên nhớ gắng thì ghi sâu !

Ðó Phục-Nguyên ! Lập hạnh người tu thì không thể bỏ qua trong ngày báo-hiếu Cha mẹ, đó là lời ta hoan-hỉ để cho Phục-Nguyên ghi nhớ mà lấy làm bước đường hành-đạo của mình; trong sự tu-hành thì phải nhớ nguồn-gốc, nếu không có gốc thì chẳng có ngọn, mà nếu không có gốc là Cha Mẹ thì chẳng có thân ta, chẳng có thân ta thì chẳng có sự tu-hành để đến được giải-thoát đâu, phải không Phục-Nguyên ?
PN : Bạch Thế-Tôn đúng vậy !
TC : Thôi hôm nay Ta chỉ có bấy nhiêu lời thuyết-đàn, Ta lui để cho Mục-Kiền-Liên tiếp.

THI
U-ám đời thường khổ lắm ru !
“MINH-TÂM KIẾN-TÁNH” ấy người tu,
GIÁO lòng nhuần-nhuyễn ngày tinh-tấn,
CHỦ sự là mê tạo mịt-mù.
BÀI
Ta đến đây đúng ngày báo-hiếu,
Thuyết-pháp đàn chấp-chiếu nguyên-nhân.
Hỡi ai tỉnh thức tâm-thần ?
Cố tu giải-thoát lần lần tiến-lên.
CÔNG CHA MẸ BÁO ÐỀN ÂN-TRỌNG;
ƠN SANH-THÀNH HUYẾT-THỐNG MẶN-NỒNG,
SỰ TU GIẢI-THOÁT LẬP-CÔNG;
BẢY ÐỜI QUÁ-VÃNG TRÒN XONG PHẬN MÌNH
Vì Giáo-Chủ U-MINH giảng-dạy,
Lập ra đời, qua ải phù thương,
Mười ngục u-tối đoạn-trường,
Ðể ta ghi chép chơn-dương tỏ lòng !

Này Phục-Nguyên! Trong phần giáo-lý Phục-Nguyên nên cố-gắng để cho ta phổ-biến mười cửa ngục, đoạn cho thế-gian này lấy đó làm nền-tảng tu-học, lấy đó mà răn mình, cho biết cung-kỉnh bề trên, cùng nhớ báo-đáp hiếu-trọng ân ơn Cha Mẹ bằng cách tu-hành đó Phục-Nguyên !
Bằng cách tạo ra những nguồn đạo-đức để giải-tỏa cảnh khổ-đau triền-miên của CỬU-HUYỀN THẤT-TỔ nơi chốn âm-u đó Phục-Nguyên !
Thôi, hôm nay ta chỉ có bấy nhiêu, khi khác Phục-Nguyên tiếp ta, ta sẽ giảng tiếp.

THI
XÁ-chào kỉnh lễ Pháp-đàn chi,
LỢI-ích nhân-sinh buổi mạt-kỳ ?
PHẤT nghĩa VĂN-THÙ BỒ-TÁT ÐẠO,
GIÁNG lời ứng-biến chánh minh-tri !…

Mô Phật !
Hôm nay Bần-Ðạo giáng-hạ đàn tiền trong cõi thế-giới hữu-hình; trong cõi hỗn-độn mà Pháp-đàn tiếp điễn của Xá-Lợi-Phất hôm nay có ngụ ý chi mà cầu-thỉnh Bần-Ðạo đến đây, xin cho Bần-Ðạo hiểu rõ ý-nghĩa của đàn cơ ?
PN : Kính bạch Ngài !

THI
PHỤC-bổn QUI-y thoát-cảnh trần,
NGUYÊN-lai NHỨT đạo kết KIM-thân
PHÁP-môn KHÍ luyện hòa linh-thể,
ÐÀN tiếp THIÊNG-liêng cứu não-nầng !

HỰU
Cứu não-nầng lý-chân mặc-khải,
Kính bạch Ngài hiệp lại hữu-hình,
Khai nguồn đạo-mạch siêu-linh ;
Xiển-dương Chánh-pháp giải nghìn khổ-đau !
Vì trần-gian lộn-nhào quả-báo,
Do vô-minh bỏ Ðạo chánh-truyền,
Ngày nay Pháp-chủ Phục-Nguyên,
Xiển-dương chơn-lý nhiệm-huyền Ðạo Cha.
Kỳ mạt-hậu Long-Hoa xoay chuyển,
Hiệp nguồn ân thiên-điễn diệu-huyền,
Cùng chung đồng-đẳng thâm-uyên,
Liệu lo cứu-khổ trần-miền tai-ương !
Thỉnh Phật Tiên thanh-bường giáng-điễn,
Khai triết-minh thể-hiện Ðạo-mầu ;
Chơn-truyền vi-mật cao-sâu,
Ðể cho người thế quày đầu học tu.
Kính thỉnh Ngài Xá-Lợi-Phất
XLP :
PHÚ
Nay biết rõ hiệu danh Pháp-chủ,
Bần-Ðạo thuyết cho đủ oai-năng,
Ðể người nhận thấu-triệt siêu-tầng,
Là chủng-tử trọng ân vi-diệu.
Ðấng Phụ-Từ linh-năng hợp chiếu,
Cõi Tam-Ðộc người thiếu đường tu,
Nên thế-gian cứ mãi mịt-mù,
Khó thoát ra lao-lư đau-khổ !
Biết kiếp người sa vào nơi chỗ …
Là dương miền hối ngộ tâm-linh.
Vì quả-báo gây sẵn tự-mình,
Do trái-oan tánh sinh tật ác.
BÀI
Bần đạo thuyết báo-ân giải-thoát,
Cội Bồ-đề trưởng hạt Như-Lai,
Chí tu chẳng luận tháng ngày,
Hằng lo tổng-niệm hoa khai Bồ-Ðề.
Phàm kẻ tu quay về đạo-đức,
Nếu thiện-chí nguyện sức cứu-đời.
Thoát đường biển ái chơi-vơi.
Thật tâm nhiếp-bổn xa đời khổ-đau !
Do chúng-sanh lộn-nhào quả-báo,
Nợ luân-hồi khó tháo đừng mong !
Nếu người sanh-sản trần-hồng.
Ắt là oan-nghiệt đã tròng từ xưa.
Nay tự ngộ pháp đưa đẩy đến,
Bần-đạo ra lời mến kẻ tu,
Ðồng chung một hội bấy chừ,
Thuyền từ Bát-Nhã lắc-lư sóng cuồng !
Nay hạnh-ngộ tỏ nguồn đạo-đức,
Xin thăng đàn hòa bực Thiêng-liêng,
Cùng chư Bồ-Tát hạnh nguyền,
Oai-linh độ chúng tròn duyên tu-trì.
Thôi Bần-Ðạo xin lui.
Dậu thời, ngày 15 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ
THÂN SINH PHỤC-NGUYÊN
THI
TẠ trần Phật-giải chánh ngày Rằm,
VĂN-vẻ Cha về tỏ lý thâm.
KÝ gởi bao điều ghi nhớ mãi,
GIÁNG-ÐÀN báo-hiếu trẻ lo tầm.
PN : Con kính mừng Cha !
BÀI
Thấy con trẻ chăm lo học đạo,
Cha rất mừng tần-tảo ngày nào !
Dìu đời chịu nỗi khổ-đau !
Con ôi ! Cố gắng mà trau đạo-lòng
Cha nơi cảnh trống không tịnh-tọa;
Vẫn thiền ngồi con có hay chăng ?
Ngày Rằm tháng bảy tiếp thần.
Ðể cho con trẻ hưởng phần điễn linh.
Ngày báo-hiếu vì tình ân-trọng,
Này Lân ơi ! Cuộc sống ra sao ?
Tu hành ở mức độ nào ?
Thân con có khỏe buổi đầu gần Cha ?
Dù bóng xế khuất lòa hữu-thể,
Nhưng tấm lòng Cha để gần con !
Bao năm canh-cánh héo-mòn,
Tình Cha rộng lớn keo-sơn không bờ.
Như núi Thái vẫn chờ sương sớm ;
Ví biển sông chào đón thuyền bè,
Lúc nào cũng rộng chở-che,
Ấy là bổn phận nào khoe với đời !

Ðó Lân con! Ðã bấy lâu Cha không về đây, Cha vẫn biết sự sống của con ở trần-gian cùng sự cam-go cực-khổ xác-thân! Ðến hôm nay nhân ngày báo-hiếu con hãy cảm-tưởng hoặc là con phải thành-tâm làm sao để động đến Thiêng-liêng thì đó cũng là cái báo-hiếu của con đó !
PN :

BÀI
Con kỉnh Cha chan-hòa lý-đạo,
Nhờ ân-hồng Hóa-Tạo dạy-truyền,
Ngày nay danh pháp PHỤC-NGUYÊN,
Ra đi cứu-khổ trần-miền kỳ-tam.
Con tu-luyện thoát phàm xuất-thế,
Noi lời Thầy hầu để cứu-tai,
Xiển-dương “ÐẠI-ÐẠO CAO-ÐÀI”,
Làm tròn xứng phận hoằng-khai chánh-truyền.
Thân dầu khổ, chẳng yên tại-thế,
Nhưng lòng con đã để “HƯ-VÔ”
Nằm ngồi đi đứng nam-mô,
Tâm-hồn giải-thoát mê-mờ trần-gian !
Con xin Cha ân vàng chiếu-diệu,
Nhủ đến con am-hiểu dương-trần,
Bởi vì còn có giả thân,
Thế nên phải chịu não-nầng trần-ai !
Ðời lắm khổ, miệt-mài chê-chán !
Nhưng Ðạo lòng con sáng linh-quang.
Không còn nghiệp-chướng buộc-ràng,
Ta-bà hóa-độ trần-gian giải-vòng !…
Mượn giả thân long-đong đây đó.
Khai đạo-mầu sáng tỏ huyền-vi,
Tùy cơ ứng-biến châu-kỳ,
Ðể mà mặc-khải hữu-vi tỉnh lòng.
Rằm tháng bảy khai-thông đạo-lý,
Con nguyện-cầu phục-thỉ Mẹ Cha,
Cửu huyền thất-tổ hải-hà,
Ðể mà giải-thoát vượt qua luân-hồi !
Con đã nguyền hoằng-khai Ðại-Ðạo,
Ðộ nguyên-nhân lai-đáo linh-quang,
Xong rồi con mới phục-hoàn,
Cho tròn đại-nguyện giải-oan cửu-huyền !
Con trình Cha, Phục-Nguyên tại thế,
Ðem lời vàng hầu để gương lành,
Công-Cha nghĩa-Mẹ sanh thành,
Vẹn trọn hiếu-tử huờn-thanh phi-phàm.
Nay trọn lòng lo kham mối Ðạo,
Hiệp Cha Trời lai-đáo Nam-Bang,
Vận-trù đẩy chiếc từ-thoàn,
Ðể mà vớt khách trần-gian đắm-chìm !
Con xin Cha nỗi-niềm mừng rỡ,
Có con đây liễu-ngộ cứu đời,
Trọn lành thiên-điễn hiệp xoay,
Nguồn-ân ban-rải hoằng-khai chơn-truyền.
Con kỉnh Cha.
TVK :
BÀI
Cha khuyến-khích con thêm sáng-tỏ,
Dầu xưa kia con có tình-thâm.
Nay con tu-học phi-phàm,
Cha hài lòng lắm bao năm dựng gầy !
Mong cho con đường ngay đúng chỗ,
Sợ con mình sa hố bẫy-hầm,
Nay lòng già tỏ tình-thâm,
Con hiền gắng-gỏi độ tầm thế-gian !
Cha biết ý con sang cứu-thế,
Nhưng lòng Cha không dễ nào nguôi !
Thương con nặng nợ nếm mùi,
Âu lo xác trẻ bùi-ngùi lòng Cha !
Cha biết cảnh con hòa với tục,
Thì bao điều đến lúc trái-ngang,
Mặc-dầu con chẳng thở-than !
Nhưng Cha am-hiểu bao hàm ẩn-danh.
Con dưới thế trọn-lành tu-học,
Ðộ cho người sớm gặp Ðạo Khai,
Làm cho nở mặt rạng mày;
Mẹ Cha danh sáng đủ-đầy hôm nay.
Nhưng con gắng qua ngày qua bữa,
Bước đường con đi rửa tội-tình !…
Chính là tự rước chông-chinh !…
Liệu lường cố-gắng tự mình vượt qua.
Ðừng ỷ y ắt là gặp khổ !
Chớ ỷ tài đến chỗ thiệt thân !
Con ơi! Cố gắng tinh-thần,
Ðể mà triêm-nghiệm cân-phân lời vàng.
Con nay lướt vô-ngần lượng sóng !
Vững tay chèo con chống gió Tây;
Heo mây hiu thổi hay hay,
Chính là Cha đến kề tai con hiền,
Con cố-gắng gìn yên tâm-tánh,
Trọn tu-hành đức-hạnh song-toàn,
Cứu đời con gắng chìu-lòn,
Chí trai vùng-vẫy mở-mang mối-giềng.
Khi những lúc tịnh thiền trắc-trở,
Con cố-tâm giải-mở oan-khiên,
Nghiệp nhân nào có đặng hiền !
Lòng già thổn-thức nay khuyên con hành.
Ðường độ đời bạo sanh thái-quá,
Con cố-gắng phụng-họa thế-gian,
Giữ-gìn thân-xác vẹn-toàn;
Có thân mới đạt đạo-vàng con ơi !
Nếu không xác vậy thời chẳng được,
Ở dương-gian tội-phước hai điều,
Nay con gầy-tạo chắt-chiu,
Lòng Cha mừng lắm khi nêu gương lành !
Không uổng công tạo thành xác trẻ;
Không phí ngày lạnh tẻ nuôi con,
Thân Cha tuy phải hao-mòn,
Nhưng nay am hiểu con bòn quả-công.
Ðộ cửu-huyền còn trong ngục-tối,
Thoát ra vòng, tìm lối Thiên-khai,
Nay Cha cũng tỏ hình-hài,
Sáng bừng rỡ-rạng chẳng phai bao giờ !

Ðó danh-hiệu Phục-Nguyên của con, Cha cũng mừng lắm ! Thôi Cha chỉ có bấy nhiêu lời, con có cần hỏi điều chi thì bày-tỏ cho Cha biết để Cha về trên? Vì Cha không có tiếp với con được, khi nào con có thỉnh Cha về thì Cha mới tiếp. Vì hôm nay là ngày báo-hiếu nên Cha mới về đây, như con có nhắn gởi-gấm hoặc bày-tỏ điều chi thì con nói ra ?
PN : Con kỉnh Cha ! Con thường xuyên cầu-nguyện cho Cha Mẹ, cửu-huyền thất-tổ được siêu-thăng lên nữa; con trọn-vẹn hy-sinh giả thân này và phát nguyện lớn rằng: Xuống thế-gian này mãi mãi, độ chừng nào 92 ức nguyên-nhân được giải-thoát hết rồi, con mới giải-thoát sau, nếu sai lời thệ-nguyện thì hồn phách của con phải bị tiêu-diệt ra tro bụi – Do phát-nguyện lớn, con mới rốt-ráo việc tu-hành và hy-sinh giả thân đi độ đời, vì tình-thương nhân-loại, đó cũng là nguyện lòng hiến-dâng sự hy-sinh để cho Cha Mẹ và chung cửu-huyền thất-tổ được siêu-thăng. Con kính xin Cha an-tâm trên bước đường “TU-THÂN HÀNH-ÐẠO LẬP-ÐỨC BỒI-CÔNG” của con đã quyết định vậy.
TVK :

BÀI
Sanh thành dưỡng-dục cù-lao,
Ðáp đền ân-trọng làm sao cứu đời !
Nay Cha đã dứt rồi đau-khổ !
Bỏ xác trần thoát chỗ dương-gian,
Nhờ con nhẹ bước sang thoàn,
Ðể hòa hư-khí mở-mang linh-hồn.
Dưỡng-dục trẻ lớn khôn thể-xác,
Ân đáp đền hội-hạp Thiêng-liêng,
Nay con danh-hiệu PHỤC-NGUYÊN,
Thì Cha mừng lắm tỏ liền ý thanh !
Nhớ xưa vẫn tập-tành con trẻ,
Nay lớn khôn là kẻ cứu đời,
Ðộ chung thất-tổ chơi-vơi;
Cửu-huyền siêu-thoát khỏi nơi mịt-mờ !
Song-thân sẽ Nam-Mô chí-nguyện,
Giải-thoát qua tục biển trầm-kha,
Ấy là báo-đáp Mẹ Cha;
Lấy tu trả hiếu ngày qua tháng tàn !
Lo cho trẻ hai hàng giọt lệ,
Cám-cảnh già sinh-kế hẹp-hòi !
Ðành ngơ mặt trẻ buông trôi,
Ngày nay nghe rõ những lời mến thương !
Con gầy chí bước đường đạo-pháp,
Hợp lòng Cha đền-đáp thâm-ân,
Khuyên con vững dạ chuyên-cần,
Nhắc lòng cho trẻ bao phần tiến thêm.
Con vững chí lâu bền mới đặng.
Chí làm trai gánh nặng hai vai,
Nay con dìu kẻ miệt-mài,
Xứng-danh bổn-phận hoằng-khai độ đời.
Càng rạng-rỡ con thời cố giữ;
Càng bước cao con tự lo tròn,
Chớ đừng nặng gánh hao-mòn :
Xác trần yếu-kém khó toàn đạo khai !
Bấy nhiêu lời Cha đây dặn trẻ,
Rán giữ-gìn con sẽ nên danh,
Nay Cha cũng cố tập-tành,
Không còn mong nhớ trẻ xanh lạc-loài.
Thôi Cha lui đến ngày cạn cuối
Mừng cho con qua buổi ngặt-nghèo,
Con ơi ! Cuộc sống bọt-bèo,
Dâu là thật tướng đeo theo làm gì ?
Gắng tu đi, mê trì xóa bỏ,
Cố moi lòng, thoát rọ trầm-luân !
Nay Cha đã đến bát-tuần,
Ðủ đầy lắm đó, rất mừng cho con.
Thôi Cha thăng.
PN : Con kỉnh Cha.
Dậu thời, ngày 15 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ (10-08-1989)
THANH-ÐỀ BỒ-TÁT THUYẾT BÁO-HIẾU CÙ-LAO
THI
THANH lương giáng điễn đến đàn tiền,
ÐỀ-bạt trần-ai hữu-phúc-duyên,
BỒ-đạo giữ lòng nên Phật Thánh,
TÁT thành yếng-sáng giải khiên-triền.

Này Pháp đàn ! Xin cho Thanh-Ðề hỏi, pháp-danh cùng chư-tăng quí tánh như thế nào ? Hôm nay, Thanh-Ðề lần đầu tiên giáng-hạ đàn-tiền theo lời yêu-cầu của Ngài Tiên-Trưởng, nên đến đây giảng dạy bài pháp về sự TU-HÀNH cùng sự KÍNH HIẾU VỚI CHA MẸ để được ân-đức như thế nào? Cùng sự sân-hận đưa con người đến mức tội-lỗi ra sao sẽ bị đền tội bằng cách gì, thì hôm nay Thanh-Ðề cũng vì cơ giáo-hóa chúng-sanh, muốn giác-tỉnh nhơn-loại đang trong cơn mê sống cuồng; đang trong lúc hoạn-nạn khốn-khổ, cùng đang mất hết bản-năng thiện-lương nhân tánh của con người để trở về với chơn-thật đầu tiên là chí-thiện, chí-hư đó. Này pháp đàn! Xin cho Thanh-Ðề biết rõ pháp danh của mình cùng như thế nào tạo ra đàn-tiền này, thì được lợi ích gì, làm chi? Xin cho Thanh-Ðề hiểu rõ mà giảng-giải trong phần chơn-lý đưa con người đến mức tu-hành, giải-thoát vậy.
PN :

THI
PHỤC bổn Anh-nhi dứt nghiệp trần,
NGUYÊN-lành tịnh-luyện kết kim-thân.
PHÁP-mầu diệu-bí hòa linh-thể,
ÐÀN tiếp thiêng-liêng cứu-thế nhân !
HỰU
Cứu-thế nhân, kỳ-tam khai đạo,
Do ý Cha chơn-giáo xiển-dương,
Quyền-năng siêu-xuất thanh-bường.
Tạo nguồn thiên-lực tùy phương độ đời.
Kỉnh bạch Ngài thuyết lời bày rõ,
Ðể lý truyền sáng-tỏ viên-minh,
Cùng chung cứu-khổ trần-tình,
Khõa màn nghiệp-chướng vô-minh đọa đày !
Tiếp Thiêng-liêng hoằng-khai chơn-lý;
Gieo chánh-truyền phục-vị bổn-nguyên,
Sau này phổ-hóa trần-miền,
Nương theo giáo-pháp tùy duyên học-hành.
Giờ thanh-tịnh trọn-lành linh chiếu,
Kỉnh bạch Ngài hoát khiếu huyền-quang.
PHỤC-NGUYÊN pháp-bảo đàn-tràng,
Tiếp chư Thánh Phật vén màn siêu-vi,
Hòa hữu-vô thực-thi chơn-giáo,
Giúp cho đời thông đạo chánh-truyền,
Ngày nay phục-bổn lai-nguyên,
Ðể mà cứu-khổ trần-duyên mạt-kỳ !

Kỉnh bạch Ngài !
TÐ : Vậy là Thanh-Ðề biết rõ pháp-danh Phục-Nguyên đó như thế nào cùng hiểu rõ thanh-ý khi lập đàn-tràng thì Thanh-Ðề hôm nay đến đây cũng vì lời thỉnh-cầu của Ngài tiên-Trưởng (Xích-Thái-Cổ) làm sáng-tỏ thêm về sự BÁO-HIẾU hoặc TU-HÀNH theo lề-lối như thế nào mà song-thân thoát cảnh lao-ngục của Diêm-Vương hoặc Cửu-Huyền Thất-Tổ đặng siêu-thăng? Bởi do sự tu-hành của mình đó Phục-Nguyên pháp đàn !
Hôm nay Thanh-Ðề tiếp đàn xin kệ bài pháp cho Phục-Nguyên hiểu rõ ý nghĩa thâm-sâu vi-mật của Phật-pháp như thế nào ?

THI
“BÁO-HIẾU CÙ-LAO” duỡng-dục tròn,
Hành-trình tu-học phải lòng chơn.
Nhứt thời hiểu rõ mầu-vi đạo,
Chẳng đặt sân si với giận-hờn !
BÀI
Vì một phút lòng còn nóng-nảy,
Ta tu-hành với sãi cùng sư,
Tùng theo mật-pháp lòng từ,
Qui-y xuống tóc lao-lư không còn.
Ta đầu Phật lòng tròn lễ-bái,
MỤC-KIỀN-LIÊN con lại xuất-gia,
Học noi gương hạnh Thích-Ca,
Theo Ngài y-bát mà hòa chư-tăng.
Lòng già cũng muốn hằng yên-tịnh,
Nơi cảnh chùa chẳng dính tiếng đời,
Khép vào khuôn-khổ thảnh-thơi,
Không còn bó-buộc ở nơi thế-tình.
Những tưởng rằng Ðạo sanh trường-thọ,
Ngày tụng kinh gõ-mõ không rời,
Ðêm thanh trì niệm cho vơi,
Tịnh an Tâm-Tánh đoạn đời phồn-hoa !
Ðâu ngờ rằng thói ta sân-hận,
Vì khảo-đảo cơ vận thử mình,
Nuốt lòng trơ-tráo tâm-sinh,
Về nhà mãi nghĩ ngặt mình canh-thâu.
Nên mưu-kế ta đầu-độc hết,
Ðể ngã đời cho chết đường tu,
Liếc dao nhọn bén thật nhu,
Giết con chó để cúng từ trai-tăng.
Nhưng thịt chó là phần hương-quả,
Ðem cúng-dường tất cả sãi-sư,
Ðắn đo moi óc tâm-tư,
Ta làm thật khéo dâng chư tu-hành.
Nào ngờ rằng máu tanh của chó,
Ðã nhúng vào đâu có thảnh-thơi,
Sư-trưởng thoát-tục khác đời,
Nhìn thấy ám khí ở nơi mắt trần !
Biết rằng ta trong phần giả-dối,
Bèn gọi đến để nói chúng tăng,
Bánh bao đem cúng trai-tăng,
Ðổi thành bánh thật dần dần nuốt trôi.
Ôi ! Tội lỗi tày trời gây-tạo,
Ta hả-dạ phủi áo đi về,
Phen này sư-sãi não-nề,
Thọ dùng thịt chó mỏi-mê tâm-thần.
Nhưng Phục-Nguyên nghe dần ta kể,
Máu hại người nhập thể vào tim,
Ðến khuya ta bỗng lim-dim,
Ðầu trâu mặt ngựa gông kềm trói thân !
Ðem ta đến nơi phần u-tối,
Bảo rằng ta tội-lỗi quá sâu,
Cớ sao tu đến trọc đầu,
Tánh còn hung ác ngõ-hầu hại sư ?
Ta chối-cãi tâm-tư quấy động,
Bởi sư chùa chẳng giống như ta,
Lời qua tiếng lại không hòa,
Nên lòng sân-hận gây ra tội-mình !
Ta cãi rằng thật tình giết chó,
Ðãi sư chùa thấy đó tu sao ?
Nếu người thiệt-tướng nhìn vào,
Biết là ta hại đời nào có ăn.
Thì quỉ-sứ dẫn lần hồn-phách.
Ra sau chùa để trách ngông-ngang,
Bánh bao thịt chó đổ càng.
Lấy làm chứng-cớ rồi mang ta hành !
Ta ở ngục lòng sanh ác-niệm,
Bọn sãi chùa vì tiếm-vị ta,
Nên ngày đêm mãi khóc la,
Luôn miệng mắng-chửi rằng là ác tâm.
Càng mắng-chửi thêm phần tra-khảo,
Lột xiêm-y nha-trảo đánh bừa,
Bắt ta quì mãi sớm trưa,
Bàn chông rướm máu ngăn-ngừa tội đe !
Trói tay ta một bè quỉ-sứ.
Ðầu đội máu tội dữ gây ra,
Miệng luôn luôn nóng sáng lòa,
Bởi do sân-hận phát ra đều-đều.
Hồn chó dại bao nhiêu vây lại.
Cắn vào thân ta chảy máu hồng
Ôi thôi ! Buốt lạnh nơi lòng,
Ðến khi tỉnh-ngộ chuyện xong hết rồi.
Ngục vô-gián vậy thời khép chặt,
Linh-hồn ta thắt ngặt cơn nghèo,
Mong sao nơi chốn cheo-leo,
Nhờ ơn Phật-Tổ ân-dìu rưới chan.
Ta phóng tuởng đem sang con dại,
Mục-Kiền-Liên tu tại Vệ-Thành,
Bắt luồng tư-tưởng phát sanh,
Dùng oai thần-lực ngọn-ngành rõ thông.
Bèn dập đầu trọn lòng tỏ rõ,
Ðộ cho mẹ đã hóa thân,
Ở nơi ngục lạnh bao lần xiết rên !
Ta bỏ xác đã đền tội-lỗi
Nhưng phần hồn trồng cội nghiệp sâu,
Mục-Liên có báu minh-châu,
Vào mười cửa-ngục ngõ-hầu tìm ta.
Ðến Vô-Gián khóc òa trước mặt !
Hỡi mẹ già ! Thành thật rõ lời :
Cớ sao mẹ ở trên đời,
Nay đà thác xuống chơi-vơi Diêm-Phù ?
Sao mẹ cũng công-phu đầy-đủ,
Lại đọa-đày lắm dữ nghiệt-cay,
Xin mẹ phân rõ thiệt ngay,
Cho lòng con trẻ hôm nay rõ-ràng ?!
Ta thấy con bàng-hoàng hồn muội,
Òa khóc ròng buồn-tủi tấm-thân,
Linh-hồn ngục-tối bần-thần,
Ngày đêm tra-khảo mấy lần thảm-thương !
Vì mẹ tu cúng-dường sư-sãi,
Bằng thịt chó ở tại nơi chùa.
Phước không biết cảnh mà mua.
Tội đâu đeo-đẳng a dua vào tròng !
Tuy công-tu mà lòng điên-đảo,
Tuy-giác-ngộ, nhưng tạo hận-sân,
Cho nên gốc tội lớn lần;
Ngày nay đội máu quằn thân khốn nàn !
Nghe bấy lời hai hàng rơi lệ,
Mục-Kiền-Liên nguyện thệ cứu ta,
Ðến từng cửa ngục Diêm-La,
Xin Ngài cho mẹ được hòa với con.
Ta than-thở van-lơn quỉ-sứ,
Quá đói lòng dụ-dự muốn ăn.
Mục-Liên đem bới cơm phần,
Cho ta đỡ đói sống dần oai-thiên.
Nhưng cơm đến miệng liền hóa lửa,
Cháy lòng ta chưa rửa tội hình.
Thành than một cục như in,
Làm sao nuốt đặng muôn nghìn khổ-đau !
Rồi bỗng có máu trào ra miệng,
Ta đớn-đau thành tiếng khóc ròng !
Mục-Liên vật-vã lăn tròn,
Cớ sao mẹ bị bao cơn hành-hình ?
Rồi ôm mẫu mà nhìn than thở,
Biết làm sao tháo-gỡ oan-khiên ?
Do mẹ sanh niệm chẳng hiền,
Thôi nay quày-quả con liền hỏi ra !…
Về Bạch Thầy hỏi qua cớ sự,
Dùng pháp nào hóa dữ làm lành,
Ðể con cứu mẹ bao hành …
Công-ơn báo-hiếu đã sanh thân này ?
Ta ôm con ngất-ngây chết điếng,
Thấy con mình hiển-hiện mặt-mày,
Nhưng mà đau nhức nơi tay,
Miệng thời chẳng nói tiếng rày đặng đâu !
Khắp châu thân xiết đau ê nhức !
Tám bốn ngàn lỗ rực nóng ran,
Lửa nung chó sắt quét càn,
Cắn ta vật-vã kinh-hoàng bao phen !
Ta cũng muốn tội đền cho đủ,
Nhưng hành-hình nghiệp dữ đớn đau !
Xiết rên chết giấc lộn-nhào,
Rồi hồn sống dậy biết bao oại-oằn !
Ngày sống chết mấy lần không rõ,
Ðầu đội chậu máu tuôn-tràn,
Tanh-hôi cam-chịu nào an thân già !
Nguồn-ân ban-rải hoằng-khai chơn-truyền.
Con kỉnh Cha.
TVK :
BÀI
Cha khuyến-khích con thêm sáng-tỏ,
Dầu xưa kia con có tình-thâm.
Nay con tu-học phi-phàm,
Cha hài lòng lắm bao năm dựng gầy !
Mong cho con đường ngay đúng chỗ,
Sợ con mình sa hố bẫy-hầm,
Nay lòng già tỏ tình-thâm,
Con hiền gắng-gỏi độ tầm thế-gian !
Cha biết ý con sang cứu-thế,
Nhưng lòng Cha không dễ nào nguôi !
Thương con nặng nợ nếm mùi,
Âu lo xác trẻ bùi-ngùi lòng Cha !
Cha biết cảnh con hòa với tục,
Thì bao điều đến lúc trái-ngang,
Mặc-dầu con chẳng thở-than !
Nhưng Cha am-hiểu bao hàm ẩn-danh.
Con dưới thế trọn-lành tu-học,
Ðộ cho người sớm gặp Ðạo Khai,
Làm cho nở mặt rạng mày;
Mẹ Cha danh sáng đủ-đầy hôm nay.
Nhưng con gắng qua ngày qua bữa,
Bước đường con đi rửa tội-tình !…
Chính là tự rước chông-chinh !…
Liệu lường cố-gắng tự mình vượt qua.
Ðừng ỷ y ắt là gặp khổ !
Chớ ỷ tài đến chỗ thiệt thân !
Con ơi! Cố gắng tinh-thần,
Ðể mà triêm-nghiệm cân-phân lời vàng.
Con nay lướt vô-ngần lượng sóng !
Vững tay chèo con chống gió Tây;
Heo mây hiu thổi hay hay,
Chính là Cha đến kề tai con hiền,
Con cố-gắng gìn yên tâm-tánh,
Trọn tu-hành đức-hạnh song-toàn,
Cứu đời con gắng chìu-lòn,
Chí trai vùng-vẫy mở-mang mối-giềng.
Khi những lúc tịnh thiền trắc-trở,
Con cố-tâm giải-mở oan-khiên,
Nghiệp nhân nào có đặng hiền !
Lòng già thổn-thức nay khuyên con hành.
Ðường độ đời bạo sanh thái-quá,
Con cố-gắng phụng-họa thế-gian,
Giữ-gìn thân-xác vẹn-toàn;
Có thân mới đạt đạo-vàng con ơi !
Nếu không xác vậy thời chẳng được,
Ở dương-gian tội-phước hai điều,
Nay con gầy-tạo chắt-chiu,
Lòng Cha mừng lắm khi nêu gương lành !
Không uổng công tạo thành xác trẻ;
Không phí ngày lạnh tẻ nuôi con,
Thân Cha tuy phải hao-mòn,
Nhưng nay am hiểu con bòn quả-công.
Ðộ cửu-huyền còn trong ngục-tối,
Thoát ra vòng, tìm lối Thiên-khai,
Nay Cha cũng tỏ hình-hài,
Sáng bừng rỡ-rạng chẳng phai bao giờ !

Ðó danh-hiệu Phục-Nguyên của con, Cha cũng mừng lắm ! Thôi Cha chỉ có bấy nhiêu lời, con có cần hỏi điều chi thì bày-tỏ cho Cha biết để Cha về trên? Vì Cha không có tiếp với con được, khi nào con có thỉnh Cha về thì Cha mới tiếp. Vì hôm nay là ngày báo-hiếu nên Cha mới về đây, như con có nhắn gởi-gấm hoặc bày-tỏ điều chi thì con nói ra ?
PN : Con kỉnh Cha ! Con thường xuyên cầu-nguyện cho Cha Mẹ, cửu-huyền thất-tổ được siêu-thăng lên nữa; con trọn-vẹn hy-sinh giả thân này và phát nguyện lớn rằng: Xuống thế-gian này mãi mãi, độ chừng nào 92 ức nguyên-nhân được giải-thoát hết rồi, con mới giải-thoát sau, nếu sai lời thệ-nguyện thì hồn phách của con phải bị tiêu-diệt ra tro bụi – Do phát-nguyện lớn, con mới rốt-ráo việc tu-hành và hy-sinh giả thân đi độ đời, vì tình-thương nhân-loại, đó cũng là nguyện lòng hiến-dâng sự hy-sinh để cho Cha Mẹ và chung cửu-huyền thất-tổ được siêu-thăng. Con kính xin Cha an-tâm trên bước đường “TU-THÂN HÀNH-ÐẠO LẬP-ÐỨC BỒI-CÔNG” của con đã quyết định vậy.
TVK :

BÀI
Sanh thành dưỡng-dục cù-lao,
Ðáp đền ân-trọng làm sao cứu đời !
Nay Cha đã dứt rồi đau-khổ !
Bỏ xác trần thoát chỗ dương-gian,
Nhờ con nhẹ bước sang thoàn,
Ðể hòa hư-khí mở-mang linh-hồn.
Dưỡng-dục trẻ lớn khôn thể-xác,
Ân đáp đền hội-hạp Thiêng-liêng,
Nay con danh-hiệu PHỤC-NGUYÊN,
Thì Cha mừng lắm tỏ liền ý thanh !
Nhớ xưa vẫn tập-tành con trẻ,
Nay lớn khôn là kẻ cứu đời,
Ðộ chung thất-tổ chơi-vơi;
Cửu-huyền siêu-thoát khỏi nơi mịt-mờ !
Song-thân sẽ Nam-Mô chí-nguyện,
Giải-thoát qua tục biển trầm-kha,
Ấy là báo-đáp Mẹ Cha;
Lấy tu trả hiếu ngày qua tháng tàn !
Lo cho trẻ hai hàng giọt lệ,
Cám-cảnh già sinh-kế hẹp-hòi !
Ðành ngơ mặt trẻ buông trôi,
Ngày nay nghe rõ những lời mến thương !
Con gầy chí bước đường đạo-pháp,
Hợp lòng Cha đền-đáp thâm-ân,
Khuyên con vững dạ chuyên-cần,
Nhắc lòng cho trẻ bao phần tiến thêm.
Con vững chí lâu bền mới đặng.
Chí làm trai gánh nặng hai vai,
Nay con dìu kẻ miệt-mài,
Xứng-danh bổn-phận hoằng-khai độ đời.
Càng rạng-rỡ con thời cố giữ;
Càng bước cao con tự lo tròn,
Chớ đừng nặng gánh hao-mòn :
Xác trần yếu-kém khó toàn đạo khai !
Bấy nhiêu lời Cha đây dặn trẻ,
Rán giữ-gìn con sẽ nên danh,
Nay Cha cũng cố tập-tành,
Không còn mong nhớ trẻ xanh lạc-loài.
Thôi Cha lui đến ngày cạn cuối
Mừng cho con qua buổi ngặt-nghèo,
Con ơi ! Cuộc sống bọt-bèo,
Dâu là thật tướng đeo theo làm gì ?
Gắng tu đi, mê trì xóa bỏ,
Cố moi lòng, thoát rọ trầm-luân !
Nay Cha đã đến bát-tuần,
Ðủ đầy lắm đó, rất mừng cho con.
Thôi Cha thăng.
PN : Con kỉnh Cha.
Dậu thời, ngày 15 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ (10-08-1989)
THANH-ÐỀ BỒ-TÁT THUYẾT BÁO-HIẾU CÙ-LAO
THI
THANH lương giáng điễn đến đàn tiền,
ÐỀ-bạt trần-ai hữu-phúc-duyên,
BỒ-đạo giữ lòng nên Phật Thánh,
TÁT thành yếng-sáng giải khiên-triền.

Này Pháp đàn ! Xin cho Thanh-Ðề hỏi, pháp-danh cùng chư-tăng quí tánh như thế nào ? Hôm nay, Thanh-Ðề lần đầu tiên giáng-hạ đàn-tiền theo lời yêu-cầu của Ngài Tiên-Trưởng, nên đến đây giảng dạy bài pháp về sự TU-HÀNH cùng sự KÍNH HIẾU VỚI CHA MẸ để được ân-đức như thế nào? Cùng sự sân-hận đưa con người đến mức tội-lỗi ra sao sẽ bị đền tội bằng cách gì, thì hôm nay Thanh-Ðề cũng vì cơ giáo-hóa chúng-sanh, muốn giác-tỉnh nhơn-loại đang trong cơn mê sống cuồng; đang trong lúc hoạn-nạn khốn-khổ, cùng đang mất hết bản-năng thiện-lương nhân tánh của con người để trở về với chơn-thật đầu tiên là chí-thiện, chí-hư đó. Này pháp đàn! Xin cho Thanh-Ðề biết rõ pháp danh của mình cùng như thế nào tạo ra đàn-tiền này, thì được lợi ích gì, làm chi? Xin cho Thanh-Ðề hiểu rõ mà giảng-giải trong phần chơn-lý đưa con người đến mức tu-hành, giải-thoát vậy.
PN :

THI
PHỤC bổn Anh-nhi dứt nghiệp trần,
NGUYÊN-lành tịnh-luyện kết kim-thân.
PHÁP-mầu diệu-bí hòa linh-thể,
ÐÀN tiếp thiêng-liêng cứu-thế nhân !
HỰU
Cứu-thế nhân, kỳ-tam khai đạo,
Do ý Cha chơn-giáo xiển-dương,
Quyền-năng siêu-xuất thanh-bường.
Tạo nguồn thiên-lực tùy phương độ đời.
Kỉnh bạch Ngài thuyết lời bày rõ,
Ðể lý truyền sáng-tỏ viên-minh,
Cùng chung cứu-khổ trần-tình,
Khõa màn nghiệp-chướng vô-minh đọa đày !
Tiếp Thiêng-liêng hoằng-khai chơn-lý;
Gieo chánh-truyền phục-vị bổn-nguyên,
Sau này phổ-hóa trần-miền,
Nương theo giáo-pháp tùy duyên học-hành.
Giờ thanh-tịnh trọn-lành linh chiếu,
Kỉnh bạch Ngài hoát khiếu huyền-quang.
PHỤC-NGUYÊN pháp-bảo đàn-tràng,
Tiếp chư Thánh Phật vén màn siêu-vi,
Hòa hữu-vô thực-thi chơn-giáo,
Giúp cho đời thông đạo chánh-truyền,
Ngày nay phục-bổn lai-nguyên,
Ðể mà cứu-khổ trần-duyên mạt-kỳ !

Kỉnh bạch Ngài !
TÐ : Vậy là Thanh-Ðề biết rõ pháp-danh Phục-Nguyên đó như thế nào cùng hiểu rõ thanh-ý khi lập đàn-tràng thì Thanh-Ðề hôm nay đến đây cũng vì lời thỉnh-cầu của Ngài tiên-Trưởng (Xích-Thái-Cổ) làm sáng-tỏ thêm về sự BÁO-HIẾU hoặc TU-HÀNH theo lề-lối như thế nào mà song-thân thoát cảnh lao-ngục của Diêm-Vương hoặc Cửu-Huyền Thất-Tổ đặng siêu-thăng? Bởi do sự tu-hành của mình đó Phục-Nguyên pháp đàn !
Hôm nay Thanh-Ðề tiếp đàn xin kệ bài pháp cho Phục-Nguyên hiểu rõ ý nghĩa thâm-sâu vi-mật của Phật-pháp như thế nào ?

THI
“BÁO-HIẾU CÙ-LAO” duỡng-dục tròn,
Hành-trình tu-học phải lòng chơn.
Nhứt thời hiểu rõ mầu-vi đạo,
Chẳng đặt sân si với giận-hờn !
BÀI
Vì một phút lòng còn nóng-nảy,
Ta tu-hành với sãi cùng sư,
Tùng theo mật-pháp lòng từ,
Qui-y xuống tóc lao-lư không còn.
Ta đầu Phật lòng tròn lễ-bái,
MỤC-KIỀN-LIÊN con lại xuất-gia,
Học noi gương hạnh Thích-Ca,
Theo Ngài y-bát mà hòa chư-tăng.
Lòng già cũng muốn hằng yên-tịnh,
Nơi cảnh chùa chẳng dính tiếng đời,
Khép vào khuôn-khổ thảnh-thơi,
Không còn bó-buộc ở nơi thế-tình.
Những tưởng rằng Ðạo sanh trường-thọ,
Ngày tụng kinh gõ-mõ không rời,
Ðêm thanh trì niệm cho vơi,
Tịnh an Tâm-Tánh đoạn đời phồn-hoa !
Ðâu ngờ rằng thói ta sân-hận,
Vì khảo-đảo cơ vận thử mình,
Nuốt lòng trơ-tráo tâm-sinh,
Về nhà mãi nghĩ ngặt mình canh-thâu.
Nên mưu-kế ta đầu-độc hết,
Ðể ngã đời cho chết đường tu,
Liếc dao nhọn bén thật nhu,
Giết con chó để cúng từ trai-tăng.
Nhưng thịt chó là phần hương-quả,
Ðem cúng-dường tất cả sãi-sư,
Ðắn đo moi óc tâm-tư,
Ta làm thật khéo dâng chư tu-hành.
Nào ngờ rằng máu tanh của chó,
Ðã nhúng vào đâu có thảnh-thơi,
Sư-trưởng thoát-tục khác đời,
Nhìn thấy ám khí ở nơi mắt trần !
Biết rằng ta trong phần giả-dối,
Bèn gọi đến để nói chúng tăng,
Bánh bao đem cúng trai-tăng,
Ðổi thành bánh thật dần dần nuốt trôi.
Ôi ! Tội lỗi tày trời gây-tạo,
Ta hả-dạ phủi áo đi về,
Phen này sư-sãi não-nề,
Thọ dùng thịt chó mỏi-mê tâm-thần.
Nhưng Phục-Nguyên nghe dần ta kể,
Máu hại người nhập thể vào tim,
Ðến khuya ta bỗng lim-dim,
Ðầu trâu mặt ngựa gông kềm trói thân !
Ðem ta đến nơi phần u-tối,
Bảo rằng ta tội-lỗi quá sâu,
Cớ sao tu đến trọc đầu,
Tánh còn hung ác ngõ-hầu hại sư ?
Ta chối-cãi tâm-tư quấy động,
Bởi sư chùa chẳng giống như ta,
Lời qua tiếng lại không hòa,
Nên lòng sân-hận gây ra tội-mình !
Ta cãi rằng thật tình giết chó,
Ðãi sư chùa thấy đó tu sao ?
Nếu người thiệt-tướng nhìn vào,
Biết là ta hại đời nào có ăn.
Thì quỉ-sứ dẫn lần hồn-phách.
Ra sau chùa để trách ngông-ngang,
Bánh bao thịt chó đổ càng.
Lấy làm chứng-cớ rồi mang ta hành !
Ta ở ngục lòng sanh ác-niệm,
Bọn sãi chùa vì tiếm-vị ta,
Nên ngày đêm mãi khóc la,
Luôn miệng mắng-chửi rằng là ác tâm.
Càng mắng-chửi thêm phần tra-khảo,
Lột xiêm-y nha-trảo đánh bừa,
Bắt ta quì mãi sớm trưa,
Bàn chông rướm máu ngăn-ngừa tội đe !
Trói tay ta một bè quỉ-sứ.
Ðầu đội máu tội dữ gây ra,
Miệng luôn luôn nóng sáng lòa,
Bởi do sân-hận phát ra đều-đều.
Hồn chó dại bao nhiêu vây lại.
Cắn vào thân ta chảy máu hồng
Ôi thôi ! Buốt lạnh nơi lòng,
Ðến khi tỉnh-ngộ chuyện xong hết rồi.
Ngục vô-gián vậy thời khép chặt,
Linh-hồn ta thắt ngặt cơn nghèo,
Mong sao nơi chốn cheo-leo,
Nhờ ơn Phật-Tổ ân-dìu rưới chan.
Ta phóng tuởng đem sang con dại,
Mục-Kiền-Liên tu tại Vệ-Thành,
Bắt luồng tư-tưởng phát sanh,
Dùng oai thần-lực ngọn-ngành rõ thông.
Bèn dập đầu trọn lòng tỏ rõ,
Ðộ cho mẹ đã hóa thân,
Ở nơi ngục lạnh bao lần xiết rên !
Ta bỏ xác đã đền tội-lỗi
Nhưng phần hồn trồng cội nghiệp sâu,
Mục-Liên có báu minh-châu,
Vào mười cửa-ngục ngõ-hầu tìm ta.
Ðến Vô-Gián khóc òa trước mặt !
Hỡi mẹ già ! Thành thật rõ lời :
Cớ sao mẹ ở trên đời,
Nay đà thác xuống chơi-vơi Diêm-Phù ?
Sao mẹ cũng công-phu đầy-đủ,
Lại đọa-đày lắm dữ nghiệt-cay,
Xin mẹ phân rõ thiệt ngay,
Cho lòng con trẻ hôm nay rõ-ràng ?!
Ta thấy con bàng-hoàng hồn muội,
Òa khóc ròng buồn-tủi tấm-thân,
Linh-hồn ngục-tối bần-thần,
Ngày đêm tra-khảo mấy lần thảm-thương !
Vì mẹ tu cúng-dường sư-sãi,
Bằng thịt chó ở tại nơi chùa.
Phước không biết cảnh mà mua.
Tội đâu đeo-đẳng a dua vào tròng !
Tuy công-tu mà lòng điên-đảo,
Tuy-giác-ngộ, nhưng tạo hận-sân,
Cho nên gốc tội lớn lần;
Ngày nay đội máu quằn thân khốn nàn !
Nghe bấy lời hai hàng rơi lệ,
Mục-Kiền-Liên nguyện thệ cứu ta,
Ðến từng cửa ngục Diêm-La,
Xin Ngài cho mẹ được hòa với con.
Ta than-thở van-lơn quỉ-sứ,
Quá đói lòng dụ-dự muốn ăn.
Mục-Liên đem bới cơm phần,
Cho ta đỡ đói sống dần oai-thiên.
Nhưng cơm đến miệng liền hóa lửa,
Cháy lòng ta chưa rửa tội hình.
Thành than một cục như in,
Làm sao nuốt đặng muôn nghìn khổ-đau !
Rồi bỗng có máu trào ra miệng,
Ta đớn-đau thành tiếng khóc ròng !
Mục-Liên vật-vã lăn tròn,
Cớ sao mẹ bị bao cơn hành-hình ?
Rồi ôm mẫu mà nhìn than thở,
Biết làm sao tháo-gỡ oan-khiên ?
Do mẹ sanh niệm chẳng hiền,
Thôi nay quày-quả con liền hỏi ra !…
Về Bạch Thầy hỏi qua cớ sự,
Dùng pháp nào hóa dữ làm lành,
Ðể con cứu mẹ bao hành …
Công-ơn báo-hiếu đã sanh thân này ?
Ta ôm con ngất-ngây chết điếng,
Thấy con mình hiển-hiện mặt-mày,
Nhưng mà đau nhức nơi tay,
Miệng thời chẳng nói tiếng rày đặng đâu !
Khắp châu thân xiết đau ê nhức !
Tám bốn ngàn lỗ rực nóng ran,
Lửa nung chó sắt quét càn,
Cắn ta vật-vã kinh-hoàng bao phen !
Ta cũng muốn tội đền cho đủ,
Nhưng hành-hình nghiệp dữ đớn đau !
Xiết rên chết giấc lộn-nhào,
Rồi hồn sống dậy biết bao oại-oằn !
Ngày sống chết mấy lần không rõ,
Ðầu đội chậu máu tuôn-tràn,
Tanh-hôi cam-chịu nào an thân già !
Nguồn-ân ban-rải hoằng-khai chơn-truyền.
Con kỉnh Cha.
TVK :
B ÀI
Cha khuyến-khích con thêm sáng-tỏ,
Dầu xưa kia con có tình-thâm.
Nay con tu-học phi-phàm,
Cha hài lòng lắm bao năm dựng gầy !
Mong cho con đường ngay đúng chỗ,
Sợ con mình sa hố bẫy-hầm,
Nay lòng già tỏ tình-thâm,
Con hiền gắng-gỏi độ tầm thế-gian !
Cha biết ý con sang cứu-thế,
Nhưng lòng Cha không dễ nào nguôi !
Thương con nặng nợ nếm mùi,
Âu lo xác trẻ bùi-ngùi lòng Cha !
Cha biết cảnh con hòa với tục,
Thì bao điều đến lúc trái-ngang,
Mặc-dầu con chẳng thở-than !
Nhưng Cha am-hiểu bao hàm ẩn-danh.
Con dưới thế trọn-lành tu-học,
Ðộ cho người sớm gặp Ðạo Khai,
Làm cho nở mặt rạng mày;
Mẹ Cha danh sáng đủ-đầy hôm nay.
Nhưng con gắng qua ngày qua bữa,
Bước đường con đi rửa tội-tình !…
Chính là tự rước chông-chinh !…
Liệu lường cố-gắng tự mình vượt qua.
Ðừng ỷ y ắt là gặp khổ !
Chớ ỷ tài đến chỗ thiệt thân !
Con ơi! Cố gắng tinh-thần,
Ðể mà triêm-nghiệm cân-phân lời vàng.
Con nay lướt vô-ngần lượng sóng !
Vững tay chèo con chống gió Tây;
Heo mây hiu thổi hay hay,
Chính là Cha đến kề tai con hiền,
Con cố-gắng gìn yên tâm-tánh,
Trọn tu-hành đức-hạnh song-toàn,
Cứu đời con gắng chìu-lòn,
Chí trai vùng-vẫy mở-mang mối-giềng.
Khi những lúc tịnh thiền trắc-trở,
Con cố-tâm giải-mở oan-khiên,
Nghiệp nhân nào có đặng hiền !
Lòng già thổn-thức nay khuyên con hành.
Ðường độ đời bạo sanh thái-quá,
Con cố-gắng phụng-họa thế-gian,
Giữ-gìn thân-xác vẹn-toàn;
Có thân mới đạt đạo-vàng con ơi !
Nếu không xác vậy thời chẳng được,
Ở dương-gian tội-phước hai điều,
Nay con gầy-tạo chắt-chiu,
Lòng Cha mừng lắm khi nêu gương lành !
Không uổng công tạo thành xác trẻ;
Không phí ngày lạnh tẻ nuôi con,
Thân Cha tuy phải hao-mòn,
Nhưng nay am hiểu con bòn quả-công.
Ðộ cửu-huyền còn trong ngục-tối,
Thoát ra vòng, tìm lối Thiên-khai,
Nay Cha cũng tỏ hình-hài,
Sáng bừng rỡ-rạng chẳng phai bao giờ !

Ðó danh-hiệu Phục-Nguyên của con, Cha cũng mừng lắm ! Thôi Cha chỉ có bấy nhiêu lời, con có cần hỏi điều chi thì bày-tỏ cho Cha biết để Cha về trên? Vì Cha không có tiếp với con được, khi nào con có thỉnh Cha về thì Cha mới tiếp. Vì hôm nay là ngày báo-hiếu nên Cha mới về đây, như con có nhắn gởi-gấm hoặc bày-tỏ điều chi thì con nói ra ?
PN : Con kỉnh Cha ! Con thường xuyên cầu-nguyện cho Cha Mẹ, cửu-huyền thất-tổ được siêu-thăng lên nữa; con trọn-vẹn hy-sinh giả thân này và phát nguyện lớn rằng: Xuống thế-gian này mãi mãi, độ chừng nào 92 ức nguyên-nhân được giải-thoát hết rồi, con mới giải-thoát sau, nếu sai lời thệ-nguyện thì hồn phách của con phải bị tiêu-diệt ra tro bụi – Do phát-nguyện lớn, con mới rốt-ráo việc tu-hành và hy-sinh giả thân đi độ đời, vì tình-thương nhân-loại, đó cũng là nguyện lòng hiến-dâng sự hy-sinh để cho Cha Mẹ và chung cửu-huyền thất-tổ được siêu-thăng. Con kính xin Cha an-tâm trên bước đường “TU-THÂN HÀNH-ÐẠO LẬP-ÐỨC BỒI-CÔNG” của con đã quyết định vậy.
TVK :

BÀI
Sanh thành dưỡng-dục cù-lao,
Ðáp đền ân-trọng làm sao cứu đời !
Nay Cha đã dứt rồi đau-khổ !
Bỏ xác trần thoát chỗ dương-gian,
Nhờ con nhẹ bước sang thoàn,
Ðể hòa hư-khí mở-mang linh-hồn.
Dưỡng-dục trẻ lớn khôn thể-xác,
Ân đáp đền hội-hạp Thiêng-liêng,
Nay con danh-hiệu PHỤC-NGUYÊN,
Thì Cha mừng lắm tỏ liền ý thanh !
Nhớ xưa vẫn tập-tành con trẻ,
Nay lớn khôn là kẻ cứu đời,
Ðộ chung thất-tổ chơi-vơi;
Cửu-huyền siêu-thoát khỏi nơi mịt-mờ !
Song-thân sẽ Nam-Mô chí-nguyện,
Giải-thoát qua tục biển trầm-kha,
Ấy là báo-đáp Mẹ Cha;
Lấy tu trả hiếu ngày qua tháng tàn !
Lo cho trẻ hai hàng giọt lệ,
Cám-cảnh già sinh-kế hẹp-hòi !
Ðành ngơ mặt trẻ buông trôi,
Ngày nay nghe rõ những lời mến thương !
Con gầy chí bước đường đạo-pháp,
Hợp lòng Cha đền-đáp thâm-ân,
Khuyên con vững dạ chuyên-cần,
Nhắc lòng cho trẻ bao phần tiến thêm.
Con vững chí lâu bền mới đặng.
Chí làm trai gánh nặng hai vai,
Nay con dìu kẻ miệt-mài,
Xứng-danh bổn-phận hoằng-khai độ đời.
Càng rạng-rỡ con thời cố giữ;
Càng bước cao con tự lo tròn,
Chớ đừng nặng gánh hao-mòn :
Xác trần yếu-kém khó toàn đạo khai !
Bấy nhiêu lời Cha đây dặn trẻ,
Rán giữ-gìn con sẽ nên danh,
Nay Cha cũng cố tập-tành,
Không còn mong nhớ trẻ xanh lạc-loài.
Thôi Cha lui đến ngày cạn cuối
Mừng cho con qua buổi ngặt-nghèo,
Con ơi ! Cuộc sống bọt-bèo,
Dâu là thật tướng đeo theo làm gì ?
Gắng tu đi, mê trì xóa bỏ,
Cố moi lòng, thoát rọ trầm-luân !
Nay Cha đã đến bát-tuần,
Ðủ đầy lắm đó, rất mừng cho con.
Thôi Cha thăng.
PN : Con kỉnh Cha.

Dậu thời, ngày 15 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ (10-08-1989)
THANH-ÐỀ BỒ-TÁT THUYẾT BÁO-HIẾU CÙ-LAO
THI
THANH lương giáng điễn đến đàn tiền,
ÐỀ-bạt trần-ai hữu-phúc-duyên,
BỒ-đạo giữ lòng nên Phật Thánh,
TÁT thành yếng-sáng giải khiên-triền.

Này Pháp đàn ! Xin cho Thanh-Ðề hỏi, pháp-danh cùng chư-tăng quí tánh như thế nào ? Hôm nay, Thanh-Ðề lần đầu tiên giáng-hạ đàn-tiền theo lời yêu-cầu của Ngài Tiên-Trưởng, nên đến đây giảng dạy bài pháp về sự TU-HÀNH cùng sự KÍNH HIẾU VỚI CHA MẸ để được ân-đức như thế nào? Cùng sự sân-hận đưa con người đến mức tội-lỗi ra sao sẽ bị đền tội bằng cách gì, thì hôm nay Thanh-Ðề cũng vì cơ giáo-hóa chúng-sanh, muốn giác-tỉnh nhơn-loại đang trong cơn mê sống cuồng; đang trong lúc hoạn-nạn khốn-khổ, cùng đang mất hết bản-năng thiện-lương nhân tánh của con người để trở về với chơn-thật đầu tiên là chí-thiện, chí-hư đó. Này pháp đàn! Xin cho Thanh-Ðề biết rõ pháp danh của mình cùng như thế nào tạo ra đàn-tiền này, thì được lợi ích gì, làm chi? Xin cho Thanh-Ðề hiểu rõ mà giảng-giải trong phần chơn-lý đưa con người đến mức tu-hành, giải-thoát vậy.
PN :

THI
PHỤC bổn Anh-nhi dứt nghiệp trần,
NGUYÊN-lành tịnh-luyện kết kim-thân.
PHÁP-mầu diệu-bí hòa linh-thể,
ÐÀN tiếp thiêng-liêng cứu-thế nhân !
HỰU
Cứu-thế nhân, kỳ-tam khai đạo,
Do ý Cha chơn-giáo xiển-dương,
Quyền-năng siêu-xuất thanh-bường.
Tạo nguồn thiên-lực tùy phương độ đời.
Kỉnh bạch Ngài thuyết lời bày rõ,
Ðể lý truyền sáng-tỏ viên-minh,
Cùng chung cứu-khổ trần-tình,
Khõa màn nghiệp-chướng vô-minh đọa đày !
Tiếp Thiêng-liêng hoằng-khai chơn-lý;
Gieo chánh-truyền phục-vị bổn-nguyên,
Sau này phổ-hóa trần-miền,
Nương theo giáo-pháp tùy duyên học-hành.
Giờ thanh-tịnh trọn-lành linh chiếu,
Kỉnh bạch Ngài hoát khiếu huyền-quang.
PHỤC-NGUYÊN pháp-bảo đàn-tràng,
Tiếp chư Thánh Phật vén màn siêu-vi,
Hòa hữu-vô thực-thi chơn-giáo,
Giúp cho đời thông đạo chánh-truyền,
Ngày nay phục-bổn lai-nguyên,
Ðể mà cứu-khổ trần-duyên mạt-kỳ !

Kỉnh bạch Ngài !
TÐ : Vậy là Thanh-Ðề biết rõ pháp-danh Phục-Nguyên đó như thế nào cùng hiểu rõ thanh-ý khi lập đàn-tràng thì Thanh-Ðề hôm nay đến đây cũng vì lời thỉnh-cầu của Ngài tiên-Trưởng (Xích-Thái-Cổ) làm sáng-tỏ thêm về sự BÁO-HIẾU hoặc TU-HÀNH theo lề-lối như thế nào mà song-thân thoát cảnh lao-ngục của Diêm-Vương hoặc Cửu-Huyền Thất-Tổ đặng siêu-thăng? Bởi do sự tu-hành của mình đó Phục-Nguyên pháp đàn !
Hôm nay Thanh-Ðề tiếp đàn xin kệ bài pháp cho Phục-Nguyên hiểu rõ ý nghĩa thâm-sâu vi-mật của Phật-pháp như thế nào ?

THI
“BÁO-HIẾU CÙ-LAO” duỡng-dục tròn,
Hành-trình tu-học phải lòng chơn.
Nhứt thời hiểu rõ mầu-vi đạo,
Chẳng đặt sân si với giận-hờn !
BÀI
Vì một phút lòng còn nóng-nảy,
Ta tu-hành với sãi cùng sư,
Tùng theo mật-pháp lòng từ,
Qui-y xuống tóc lao-lư không còn.
Ta đầu Phật lòng tròn lễ-bái,
MỤC-KIỀN-LIÊN con lại xuất-gia,
Học noi gương hạnh Thích-Ca,
Theo Ngài y-bát mà hòa chư-tăng.
Lòng già cũng muốn hằng yên-tịnh,
Nơi cảnh chùa chẳng dính tiếng đời,
Khép vào khuôn-khổ thảnh-thơi,
Không còn bó-buộc ở nơi thế-tình.
Những tưởng rằng Ðạo sanh trường-thọ,
Ngày tụng kinh gõ-mõ không rời,
Ðêm thanh trì niệm cho vơi,
Tịnh an Tâm-Tánh đoạn đời phồn-hoa !
Ðâu ngờ rằng thói ta sân-hận,
Vì khảo-đảo cơ vận thử mình,
Nuốt lòng trơ-tráo tâm-sinh,
Về nhà mãi nghĩ ngặt mình canh-thâu.
Nên mưu-kế ta đầu-độc hết,
Ðể ngã đời cho chết đường tu,
Liếc dao nhọn bén thật nhu,
Giết con chó để cúng từ trai-tăng.
Nhưng thịt chó là phần hương-quả,
Ðem cúng-dường tất cả sãi-sư,
Ðắn đo moi óc tâm-tư,
Ta làm thật khéo dâng chư tu-hành.
Nào ngờ rằng máu tanh của chó,
Ðã nhúng vào đâu có thảnh-thơi,
Sư-trưởng thoát-tục khác đời,
Nhìn thấy ám khí ở nơi mắt trần !
Biết rằng ta trong phần giả-dối,
Bèn gọi đến để nói chúng tăng,
Bánh bao đem cúng trai-tăng,
Ðổi thành bánh thật dần dần nuốt trôi.
Ôi ! Tội lỗi tày trời gây-tạo,
Ta hả-dạ phủi áo đi về,
Phen này sư-sãi não-nề,
Thọ dùng thịt chó mỏi-mê tâm-thần.
Nhưng Phục-Nguyên nghe dần ta kể,
Máu hại người nhập thể vào tim,
Ðến khuya ta bỗng lim-dim,
Ðầu trâu mặt ngựa gông kềm trói thân !
Ðem ta đến nơi phần u-tối,
Bảo rằng ta tội-lỗi quá sâu,
Cớ sao tu đến trọc đầu,
Tánh còn hung ác ngõ-hầu hại sư ?
Ta chối-cãi tâm-tư quấy động,
Bởi sư chùa chẳng giống như ta,
Lời qua tiếng lại không hòa,
Nên lòng sân-hận gây ra tội-mình !
Ta cãi rằng thật tình giết chó,
Ðãi sư chùa thấy đó tu sao ?
Nếu người thiệt-tướng nhìn vào,
Biết là ta hại đời nào có ăn.
Thì quỉ-sứ dẫn lần hồn-phách.
Ra sau chùa để trách ngông-ngang,
Bánh bao thịt chó đổ càng.
Lấy làm chứng-cớ rồi mang ta hành !
Ta ở ngục lòng sanh ác-niệm,
Bọn sãi chùa vì tiếm-vị ta,
Nên ngày đêm mãi khóc la,
Luôn miệng mắng-chửi rằng là ác tâm.
Càng mắng-chửi thêm phần tra-khảo,
Lột xiêm-y nha-trảo đánh bừa,
Bắt ta quì mãi sớm trưa,
Bàn chông rướm máu ngăn-ngừa tội đe !
Trói tay ta một bè quỉ-sứ.
Ðầu đội máu tội dữ gây ra,
Miệng luôn luôn nóng sáng lòa,
Bởi do sân-hận phát ra đều-đều.
Hồn chó dại bao nhiêu vây lại.
Cắn vào thân ta chảy máu hồng
Ôi thôi ! Buốt lạnh nơi lòng,
Ðến khi tỉnh-ngộ chuyện xong hết rồi.
Ngục vô-gián vậy thời khép chặt,
Linh-hồn ta thắt ngặt cơn nghèo,
Mong sao nơi chốn cheo-leo,
Nhờ ơn Phật-Tổ ân-dìu rưới chan.
Ta phóng tuởng đem sang con dại,
Mục-Kiền-Liên tu tại Vệ-Thành,
Bắt luồng tư-tưởng phát sanh,
Dùng oai thần-lực ngọn-ngành rõ thông.
Bèn dập đầu trọn lòng tỏ rõ,
Ðộ cho mẹ đã hóa thân,
Ở nơi ngục lạnh bao lần xiết rên !
Ta bỏ xác đã đền tội-lỗi
Nhưng phần hồn trồng cội nghiệp sâu,
Mục-Liên có báu minh-châu,
Vào mười cửa-ngục ngõ-hầu tìm ta.
Ðến Vô-Gián khóc òa trước mặt !
Hỡi mẹ già ! Thành thật rõ lời :
Cớ sao mẹ ở trên đời,
Nay đà thác xuống chơi-vơi Diêm-Phù ?
Sao mẹ cũng công-phu đầy-đủ,
Lại đọa-đày lắm dữ nghiệt-cay,
Xin mẹ phân rõ thiệt ngay,
Cho lòng con trẻ hôm nay rõ-ràng ?!
Ta thấy con bàng-hoàng hồn muội,
Òa khóc ròng buồn-tủi tấm-thân,
Linh-hồn ngục-tối bần-thần,
Ngày đêm tra-khảo mấy lần thảm-thương !
Vì mẹ tu cúng-dường sư-sãi,
Bằng thịt chó ở tại nơi chùa.
Phước không biết cảnh mà mua.
Tội đâu đeo-đẳng a dua vào tròng !
Tuy công-tu mà lòng điên-đảo,
Tuy-giác-ngộ, nhưng tạo hận-sân,
Cho nên gốc tội lớn lần;
Ngày nay đội máu quằn thân khốn nàn !
Nghe bấy lời hai hàng rơi lệ,
Mục-Kiền-Liên nguyện thệ cứu ta,
Ðến từng cửa ngục Diêm-La,
Xin Ngài cho mẹ được hòa với con.
Ta than-thở van-lơn quỉ-sứ,
Quá đói lòng dụ-dự muốn ăn.
Mục-Liên đem bới cơm phần,
Cho ta đỡ đói sống dần oai-thiên.
Nhưng cơm đến miệng liền hóa lửa,
Cháy lòng ta chưa rửa tội hình.
Thành than một cục như in,
Làm sao nuốt đặng muôn nghìn khổ-đau !
Rồi bỗng có máu trào ra miệng,
Ta đớn-đau thành tiếng khóc ròng !
Mục-Liên vật-vã lăn tròn,
Cớ sao mẹ bị bao cơn hành-hình ?
Rồi ôm mẫu mà nhìn than thở,
Biết làm sao tháo-gỡ oan-khiên ?
Do mẹ sanh niệm chẳng hiền,
Thôi nay quày-quả con liền hỏi ra !…
Về Bạch Thầy hỏi qua cớ sự,
Dùng pháp nào hóa dữ làm lành,
Ðể con cứu mẹ bao hành …
Công-ơn báo-hiếu đã sanh thân này ?
Ta ôm con ngất-ngây chết điếng,
Thấy con mình hiển-hiện mặt-mày,
Nhưng mà đau nhức nơi tay,
Miệng thời chẳng nói tiếng rày đặng đâu !
Khắp châu thân xiết đau ê nhức !
Tám bốn ngàn lỗ rực nóng ran,
Lửa nung chó sắt quét càn,
Cắn ta vật-vã kinh-hoàng bao phen !
Ta cũng muốn tội đền cho đủ,
Nhưng hành-hình nghiệp dữ đớn đau !
Xiết rên chết giấc lộn-nhào,
Rồi hồn sống dậy biết bao oại-oằn !
Ngày sống chết mấy lần không rõ,
Ðầu đội chậu máu tuôn-tràn,
Tanh-hôi cam-chịu nào an thân già !
GẶP NGÀI PHẬT TỔ
Về trần-gian gặp Ngài Phật-Tổ,
Mục-Kiền-Liên xin độ mẹ hiền,
Thưa Thầy con tỏ nhân-duyên
Xin người dạy pháp, con nguyền vâng theo,
Cứu cho mẹ hiểm-nghèo nguy ngập,
Vì cớ sao tới-tấp lửa nung,
Cơm thành than đỏ cháy trong miệng người ? !
Phật khi ấy mỉm cười từ-tốn,
Bèn giảng rằng nơi chốn Diêm-Phù,
Mẹ ngươi tuy nói là tu,
Nhưng lòng sân-hận mịt-mù gây oan !
Tội ngũ-nghịch trong hàng giới-cấm,
Hại người tu ăn mặn trở đời,
Nay mẹ ngươi ở chơi-vơi,
Mục-Kiền-Liên khóc òa la lớn,
Dập bái đầu nơi chốn đàn-tràng,
Xin Thầy hộ-niệm bảo-an,
Mẹ con hết tội nhẹ-nhàng xác-thân !
Con cầu-nguyện mười phần vi-diệu,
Nguyện tu-hành điễn chiếu Diêm-Cung,
Ðộ cho mười cửa hãi-hùng !
Không còn quả-báo mới dùng thoát sanh.
Lời nguyện con thiệt lành bao-quát,
Xin Thầy dạy cải ác làm hiền,
Tuy rằng mẹ tạo oan-khiên,
Lòng con những muốn đáp liền thâm-ân.
Khuyên từ-mẫu lần-lần cải-hóa,
Lòng con nay xin tạ ơn Thầy,
Nguyện tu cho đến ngày mai,
Hết đường tội phước thì rày thoát sanh.
Lời nguyện hóa trọn-lành rộng lớn,
Phần chư Thiên đều hớn-hở ra,
Ðến đây lời thuyết Thích-Ca,
Là đến đây ngày Rằm tháng bảy,
Mười phương Tăng hội đấy đủ-đầy,
Ðó ngày dương khí-chuyển xoay,
TRUNG-MỒ CHIẾU-DIỆU hoằng-khai chánh-truyền.
Là ngày ấy đủ duyên độ mẹ,
Sắm trai đàn lẹ lẹ mau mau,
Thọ thực báo-đáp đủ màu,
Cúng-dường giải-tỏa khổ-đau nghiệt hành.

Ðó Phục-Nguyên !
PN : Vâng
TÐ : Ta nói đến đây nhưng chưa hết đâu, còn đến phần Ngài Thích-Ca dạy Mục-Kiền-Liên cúng-dường chư Thiên, chư Phật vào ngày Rằm tháng bảy, tức là ngày báo-hiếu mà cũng là ngày Trung Thiên Giáo-chủ độ chư Thiên cùng chư chúng-sanh về đồng hội hết, thế cho nên ta hôm nay chỉ có bấy nhiêu lời tỏ rõ, nhưng vì Ðồng-tử cũng quá yếu, nên ta hẹn với Phục-Nguyên pháp đàn đến ngày mai ta sẽ kể đến phần “thọ-thực báo-hiếu của Mục-Kiền-Liên”. Ta sẽ kể tội-tình của ta bị hành-hình nơi Ngục A-Tỳ tức là Ngục Vô-Gián đó.
PN : Kính Ngài, vâng !
TÐ : Thôi ta thăng.
PN : Kính Ngài.

Ngọ thời, ngày 16 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ (17-08-89)
TIẾP BỒ-TÁT THANH-ÐỀ

Thanh-Ðề hôm nay đến đây tiếp cuộc kể chuyện của mình để cho Pháp-Ðàn hiểu rõ mà lấy đó làm gương soi-sáng cho người đời nhìn thấy lòng độc-ác hung-dữ sẽ đưa đến mức hình-phạt nào như dưới Ðịa-Ngục; cũng sẽ làm đau-khổ vì bị những hình-phạt đó Pháp-Ðàn !
PN : Vâng !
TÐ : Nhưng may-mắn là Thanh-Ðề còn có Mục-Kiền-Liên vì hiếu-thảo mà đền-đáp trọng-ân

THI
THÍCH-CA giảng rõ tội-tình gieo,
Phá cảnh âm-u chịu hiểm-nghèo !
Bằng cách ăn-năn cùng sám-hối,
Nguyện lòng đầu Phật lấy gương treo.
BÀI
KIỀN-LIÊN về đến Vệ-Thành,
Cầu xin cứu-độ nguyện-lành lớn thay !
Nay mẹ con đến ngày tận số,
Chịu cực-hình nơi chỗ U-minh,
Ðộng-lòng con trẻ nghĩ tình,
Làm sao cứu mẹ giữ-gìn linh-chơn ?
Nên Từ-Phụ lời hơn tiếng thiệt,
Giảng lý Ðạo hiểu biết sâu-xa,
Mẹ ngươi tâm thói ác-tà,
Phạm trong Giới-Cấm vậy là sát-sanh.
Lòng chung độc máu tanh của chó,
Trở hại mình đâu có sai-ngoa,
Ðó là nhân-quả lý ra,
Gieo gì gặt nấy khổ-a khôn-lường !…
MỤC-KIỀN-LIÊN thảm-thương cho mẹ,
Dập bái đầu nay trẻ thành-tâm,
Mẹ con gây nỗi lỗi-lầm,
Con xin Từ-phụ ơn thâm dạy truyền !
Bằng cách nào để yên thân mẹ,
Thoát ngục hình mau lẹ hỡi Thầy ?
Biết bao chó sắt bủa vây,
Làm sao cứu gỡ giờ này Thầy ơi ?!
Con xin nguyện một đời đầu Phật,
Luôn giữ gìn vi-mật giới-răn,
Nguyện trong chư chúng cùng Tăng,
Ðồng chung giải-thoát muôn-phần vui-tươi.

Ðó Phục-Nguyên !
PN : Vâng !
TÐ : Mục-Kiền-Liên dập đầu với Phật-Tổ để cầu-khẩn cho ta thoát đường tội-lỗi đọa-lạc nơi diêm-cung, nhưng vì căn tội quá sâu, ta phải chịu hành-hình một thời gian ngắn nữa để trả hết những nghiệp quả do tội ác mình gây ra. Mặc dầu ta phạm sát-sanh, chư tăng chưa độ dùng, nhưng vì phạm sát-sanh nên hồn oan của chó vây quanh ta; cũng vì ta nguyền-rủa những sư-sãi tu-hành cũng là một cái tội nặng về phần Khẩu-nghiệp đó Phục-Nguyên !
PN : Vâng !
TÐ: Thế cho nên, trong khi tu-hành, ta cũng khuyên này Pháp-đàn, lời nói rất nên là quan-trọng, cũng như là lao, nếu mà phóng thì phải nhắm cho đến đích mà phóng, còn không thì lao sẽ tự trở lại đâm lấy mình là như vậy đó! Vì lúc ta bị bắt xuống Ðịa-ngục thọ quả báo hành-hình mà ta còn phỉ-báng; ta còn chửi-rủa chúng-tăng, thế cho nên, đó là một cách hình-phạt để cho ta biết “Ăn-Năn Sám-Hối”. Vì mỗi ngày lưỡi ta bị kéo ra rồi cắt, ta khóc chết giấc mấy lần. Song tự-nhiên lưỡi trở lại lành, rồi đến cắt nữa, mãi như vậy cuộc hành hình của ta rất ư là đau-khổ thảm-khóc bi-thương, nên Mục-Kền-Liên thấy ta động lòng xót-thương để chư Tăng Phật cầu độ linh-hồn ta được siêu-thăng giải-thoát đó Phục-Nguyên Pháp-đàn !
PN : Vâng !
TÐ :

BÀI
Ðộng lòng đệ-tử dập đầu,
Thích-Ca Từ-Phụ dàu-dàu chỉ răn.
Ta là Ðấng sống hằng cứu-giúp.
Ðức Từ-Bi chẳng lúc nào ngơi,
Vì ngươi ta dạy mấy lời,
Hạnh tu cố-gắng sáng ngời linh-quang.
Ðộ mẹ ngươi thoát nàn đọa khổ !
Lấy đức-hạnh giác-ngộ bao người,
Ðể công phước báu chẳng vơi,
Ðến Rằm tháng bảy cung Trời mở toang.
Là ngày ấy ngươi mang lễ-vật,
Dọn Trai-Tăng cho thật đủ-đầy,
Chí-thành khẩn-nguyện Ðông-Tây.
Bốn phương, tám hướng về đây chứng lòng.
Nguyện của người thật trông rộng-lớn,
Cố noi gương đến chốn bến bờ,
Phận mình là đứa con thơ,
Phải mau cứu mẹ thoát giờ khổ-đau !
Công sanh-đẻ máu bào rơi-lệ !
Nuôi nấng con chẳng kể nhọc-nhằn,
Tình-thương mẫu tử sáng ngần,
Không gì khỏa-lấp đền ân kiếp này !
Tình cha mẹ vì ai lắm khổ ?
Vì con thơ bán lộ cũng đi;
Mặc dầu hiểm-trở khốn-nguy !
Kiếm tiền nuôi sống vậy thì cho con.
Thân xác mẹ hao-mòn tê-tái,
Chín tháng hơn trường-trải nặng-nề !
Nếu con hiếu-hạnh mọi-bề,
Sanh ra suông sẻ ê-hề vui lây.
Ngược bằng không nghiệt cay đau-đớn,
Sanh trẻ ra hỗn-độn tâm-thần,
Muôn điều rũ-riệt xác-thân,
Có khi thác xuống Huỳnh-Tuyền chẳng hay !
Nghe mấy lời của Thầy dạy dỗ,
Mục-Kiền-Liên giác-ngộ thật mừng,
Nay con xin nguyện đồng cùng,
Xuống nơi Ðịa-ngục vẫy-vùng cứu-tai !
Cho mẹ con thoát ngay cảnh giả,
Trở về trần lã-chả châu rơi !
Tịnh tâm để biết vậy thời,
Ðến ngày Tự-Tứ bao nơi đổ về.
Ðó Phục-Nguyên Pháp-đàn !

PN : Thưa vâng !
TÐ : Vì ngày Rằm tháng bảy, ngày báo-hiếu cũng gọi là ngày Tự-Tứ đó, chỉ duy nhất trong ngày đó là dùng oai-năng của mười phương chư Phật để thoát sanh những vong-hồn u-tối, do vì mỗi vị có một hạnh-nguyện cứu-rỗi cho nhân-sanh. Có vị cứu hữu hình, có vị hạnh-nguyện cứu vô-hình, cho nên trong ngày hôm đó những hạnh-nguyện cứu phần vô-hình thì trong mười cửa Ðịa-ngục được thoát lên để cùng hưởng an-lạc chia vui với những Bồ-Tát cùng chư Phật giáng lâm xuống thế mà hưởng điễn lành, giúp trong cảnh u-tối đó có một nguồn năng-lực sức sống làm thay-đổi những tội-lỗi mà mình đã gây ra, cùng ăn-năn sám hối và tỉnh ngộ trở lại con đường chí-chơn tu học đó Phục-Nguyên Pháp đàn !
PN : Vâng !
TÐ: Bởi vì trong lúc đó, thì tâm-thần ta cũng quá ư mê-muội! Phần chịu cực-hình đau-khổ quá! Sống rồi chết, chết rồi sống, một ngày không biết mấy lượt, cho nên tâm thân ta đau-đớn đến tột cùng, đến nỗi không còn biết chuyện gì nữa, mà cũng chẳng còn thiết cái gì hết! Nhưng chuyện muốn không phải theo ý mình được. Vì thế, lúc ta gặp Mục-Kiền-Liên dưới Ðịa-ngục, mặc-dầu mừng-rỡ, ta vì bị cắt lưỡi quá đau-đớn! Nên ta đâu nói việc đã xảy ra như thế nào, vào lúc ngay ngày Rằm tháng bảy mà !
Mục-Kiền-Liên xuống cùng với chư Tăng Phật trong mười phương để đồng-hộ-lực cho ta thoát-cảnh tai-nàn! Nhờ điễn oai-năng hộ-lực đó, nên ta được tỉnh tâm-thần rồi từ ấy ta mới trực-giác ngộ trong lúc ta bị oằn-oại đó, ta liền sám-hối ngay và phát-nguyện lớn rằng: ta sẽ tu trì phải được rốt-ráo đến mức giải thoát, đồng thời độ tất cả những phần đau-khổ ở cõi vô-hình còn lại nơi Diêm-cung đó Phục-Nguyên pháp-đàn.
PN : Vâng !
TÐ : Vì ta đã thọ-nhận cảnh đau-khổ đó quá ư khủng khiếp rồi! Nên ta mới biết cảnh đau khổ là dường nào! Ta cũng đồng nguyện-độ, rồi nhờ oai-năng Mục-Kiền-Liên cho thành cùng nhờ oai-năng chư Phật chiếu mầu-nhiệm thần-lực phóng hào-quang xuống nơi chỗ ta bị hành-hình đó, nên ta được xóa hết tội-lỗi, trở về sự bình-thường coi như người không có lỗi. Nhưng sau đó ta đã xét thấy rằng kiếp người phải chịu biết bao nhiêu là sự đau-khổ! Vả lại, lúc ta bị hành hình, ta mới thấy hết tất cả những việc xót-xa đau-đớn thống-khổ bi-thương! Nên hạnh-nguyện của ta là sẽ độ hết chúng-sanh đồng trở về Phật-tánh, nhờ hạnh-nguyện lớn ấy, nên ta được giải-thoát kiếp hóa-sanh và ta cũng còn đang tu để tiến lên nữa đó Pháp-đàn !
PN : Vâng !
TÐ : Hôm nay ta tiếp đến đây, ta xin ngưng, chiều nay ta sẽ tiếp thêm phần Mục-Kiền-Liên xuống cửa ngục gặp mẹ mà cứu độ bằng cách dùng thần-lực phóng hào-quang để cho ta thoát cảnh khổ-đau mà trở về nơi chốn an-nhàn dứt nghiệp quả-báo đó Phục-Nguyên, thì ta sẽ thuyết vào thời đàn sau.
PN : Vâng !
TÐ : Hôm nay vì nhờ Ngài Tiên-Trưởng, nên ta tiếp với Ngài, Ngài có cho ta biết rằng: Tiên-Trưởng thỉnh-cầu ta đến đây để tiếp vào đàn, có Pháp-đàn là Phục-Nguyên, nên ta mới biết danh-hiệu đó. Trong nhã-ý của Ngài Tiên-Trưởng cho ta hay rằng vì người muốn Xiển-dương chơn-truyền giáo-lý được sáng-tỏ về phần BÁO-HIẾU của Mục-Kiền-Liên, nên Ngài Tiên-Trưởng có dời thỉnh ta đến đây cùng với Mục-Kiền-Liên nữa, để đóng-góp vào những lời chơn-lý hầu làm đuốc khêu sáng cho thế-gian nhìn đó mà làm gương tu hành chín-chắn, biết sợ luật quả-báo, lấy đó mà răn-đe mình chớ phạm vào những lỗi như thế nữa, phải không này Pháp-đàn ?
Vì Ngài Tiên-Trưởng đã thỉnh cầu ta đến đây để giảng rõ trong những cửa ngục sẽ bị xử tội-nhân bằng cách nào, nhưng tại sao số ta chưa đến tới số tử-hình vậy mà tại sao ta phải bị hành-hình đó này Phục-Nguyên Pháp-đàn? Ta sẽ giải tỏ hết trong chiều nay nếu Phục-Nguyên có tiếp đàn thì ta sẽ bày tỏ hết vì lòng sân-si, lòng ác niệm của ta bừng cháy dậy trong khi ta thấy những chúng tăng ngạo-nghễ ta bằng cách khinh-bai ta, bằng cách coi rẻ ta. Thế cho nên, ta phải trả thù bằng cách giết chó làm bánh bao để mục-đích duy-nhất là ta sẽ cho tất cả chúng tăng phạm vào giới cấm, mà một khi phạm vào giới cấm thì sẽ bị đọa vào Ðịa-ngục. Nhưng ta đâu có ngờ rằng khi lửa sân si của mình nóng cháy thì nó tự đốt mà thiêu rụi mình trước, phải không Phục-Nguyên ?!
PN : Vâng, bạch Ngài đúng như vậy !
TÐ : Cho nên ta sẽ tiếp đàn vào chiều nay hoặc Phục-Nguyên có mời thỉnh ta, ta sẽ đến đây giảng tiếp theo như ý Ngài Tiên-Trưởng có lòng cầu thỉnh ta đó.
PN : Kính bạch Ngài! Phục-Nguyên có lòng thành-tâm thỉnh Ngài chiều nay tiếp-tục cho đầy đủ trọn bộ chơn-lý nói về BÁO-HIẾU TRỌNG-ÂN vậy.
TÐ : Khi chưa giáng đàn, thì ta chưa biết như thế nào, sao gọi là giáng đàn? Hôm nay ta đến đây là do lời thỉnh mời của Ngài Tiên-Trưởng, Ngài đã nói rằng Pháp-đàn, pháp-danh Phục-Nguyên cũng đang tu hạnh “TỪ-BI”, thế cho nên Ngài Tiên-Trưởng mời ta đến để giảng về đường tội-lỗi cùng phước-báu mà mình đã gây ra thì mình hưởng lấy, phải không đó Pháp-đàn ?
PN : Bạch Ngài đúng vậy !
TÐ : Cho nên ta hứa sẽ giảng hết phần này vì theo Ngài Thích-Ca thì, “gieo nhân thì sẽ gặt quả”, đó là lý nhân-quả đó Pháp-đàn !
PN : Vâng !
TÐ : Lần đầu tiên ta giáng-hạ, ta thấy hạnh-tu của Pháp-đàn cũng có nguyện-lực lớn để cứu-rỗi nhân-sinh, ta cũng mong mỏi cho Pháp-đàn được tiến-triển thêm để cầu lấy sự an-lạc cho chúng-sinh nơi thế-giới hữu-hình đã dẫy-đầy sự khổ-đau khôn ít ! Ta cũng nguyện chúc cho Pháp-đàn noi theo gương khổ-hạnh của các bậc tu tiền bối, hoặc chư Phật, chư Tiên để lấy đó mà làm gương răn mình trong phạm vi tu học, từ đó mới mở rộng về phần độ lực chúng-sinh thoát đường trầm-luân bể-ái, mà trở về con đường giải-thoát cứu-cánh Niết-Bàn đó Phục-Nguyên Pháp-đàn !
PN : Vâng !
TÐ : Thôi ta xin thăng.

Dậu thời, ngày 16 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ
TIẾP NGÀI THANH-ÐỀ BỒ-TÁT

TÐ : Thể theo lời hứa, ta giáng đàn xuống đây thuyết ngày BÁO-HIẾU của Ngài Mục-Kiền-Liên, pháp-chủ hãy định-tâm mà lắng nghe!…

BÀI
Trong khi ấy chúng-tăng dự-hội,
Mười phương đến liễu cội đủ-đầy,
Lễ nghi trang-trọng thức trai,
Bày ra các vật vui-vầy biết bao !
Mục-Kiền-Liên nhìn vào tưởng-tượng,
Phóng hào-quang muôn-trượng chói-lòa,
Chủ đàn có Phật Thích-Ca,
Với cúng lớp lớp hằng-hà chúng-tăng.
Ðều hộ-niệm tinh-thần thí-pháp,
Lễ Trai-Tăng đền-đáp TRỌNG-ÂN !
THANH-ÐỀ nhẹ xác lâng-lâng,
Hóa dùng độ thực nuốt phần cơm chay.
Nhờ lực-điễn từ-oai Phật-Tổ,
Giáng xuống chốn loang-lổ tối-đen,
Ta nhìn khiếp-vía một phen,
Cớ sao áng-sáng chiếu chen mặt mày ?!
Nào có hiểu Như-Lai trợ-lực !
Và Nhãn-quang tiếp sức Kiền-Liên,
Tự nhiên gông trói xích-xiềng,
Dần dần tan biến, hườn-nguyên linh-hồn.
Rồi bàn chông mất luôn chẳng thấy,
Còn chậu máu nhìn đấy đi đâu ?
Lắng lòng ta sợ lúc đầu,
Nhưng khi chợt-tỉnh ta cầu Chư-Thiên.
Nay Thanh-Ðề tròn duyên con trẻ,
Phá Xích-xiềng vì lẽ tuần-hoàn,
Nhân-duyên đầy đủ trai đàn,
Cũng nhờ công-sức bố-ban diệu-hườn.
Thành-tâm kỉnh mười phương chư-Phật,
Chứng chiếu lòng giải-thoát từ đây.
Không còn ngu-muội mê-say,
Trở về nguyên-bổn hoằng-khai độ hồn.
Cầu nguyện hết các hồn lạnh-lẽo,
Dưới ngục-tuyền khô-héo từng giờ,
Nay nhờ tu-học con thơ,
Thanh-Ðề thoát chốn mịt-mờ chứa-chan !
Ta độ thực với hàng quỉ-sứ,
Chúng bái ta thứ tự mọp quì,
Thấy vầy ta bỗng ai-bi !
Bởi vì phận-sự mấy khi trái lời.
Ta khuyên nhủ một hồi tư-tưởng,
Gọi các hồn còn vướng quả-nhân,
Mau mau sám-hối nhẹ lần,
Về trần-báo thức thân-nhân tu-trì.
Ðể lực điễn đồng qui trợ đó !
Cho linh-hồn thoát rọ khổ-đau !
Hôm nay ta thoát trần-lao,
Nguyện-cầu khắp chúng thanh cao tu-trì.
Nguyện một kiếp qui-y nhứt bổn.
Không sân-hận tồn-đọng lưng-vơi,
Thăng-thiên về đến cửa trời.
Tham-thiền nhập-định nghỉ-ngơi an-thần.

Ðó này Pháp-chủ đàn tiền. Vì ta nhờ thọ-thực của hồng-từ Phật-Tổ, cùng nhờ oai-năng của các chúng-tăng đồng trì hộ-niệm. Thế cho nên xạ thần-lực điễn từ đến chốn Diêm-cung nơi ngục vô-gián để cứu-rỗi ta; từ đó ta được nhẹ-nhàng thơ thới không còn nặng trì như lúc ban đầu; đầu phải đội máu, ngồi bàn chông đó Pháp-chủ !
PN : Vâng !
TÐ : Sau đó, ta giải-thoát khỏi cảnh ngục-tù, ta chợt thương lại các oan-hồn mịt-mù chìm-đắm vì không có thân-nhân tu-hành, hoặc vì quyến-thuộc chẳng biết phương thức để độ hồn thoát khỏi cảnh khổ-đau! Nên ta xin với vì chủ-ngục, cho ngày hôm nay là ngày của mười-phương Chư-Phật đồng hội để cùng cứu-rỗi trần gian với ngục-tối; thì cũng nhân dịp ngày hôm nay cho các hồn được trở về với trần-gian mà kêu-gọi hoặc báo-thức cho thân-nhân hoặc quyến-thuộc của mình để hộ-trì bằng cách tu-hành hoặc thành-tâm tư-tưởng lo cứu Cửu-Huyền Thất-Tổ hoặc thân nhân, đó pháp-chủ đàn tiền.
PN : Vâng !
TÐ : Bởi thế, từ ấy mới có ngày BÁO-HIẾU của Mục-Kiền-Liên mà cũng là ngày mở cửa-ngục là vì nghĩa ấy, Pháp-chủ đàn tiền hiểu hay không ?
PN : Bạch Ngài Thanh-Ðề Phục-Nguyên đã rõ !

TÐ : Kệ rằng :
Mục-Kiền-Liên cứu mẹ,
Thoát khỏi cảnh đảo điên !
Ta về thuyết kệ bài tâm-pháp,
Ðể người tỉnh ngộ trọn tu yên.
BÀI
Mục-Kiền-Liên cứu mẹ khỏi ra !…
Biết bao hấp-lực Thích-Ca trợ thần.
Thanh-Ðề nhiều tội xác-thân,
Chúng-tăng mắng quấy thêm phần bải-buôi
Máu tanh giết chó làm vui,
Biết bao sư-sãi nếm mùi oan-tâm !
Vì đâu một phút lỗi-lầm ?
Lửa thiêng nung đốt cháy mầm sân-si !
Thỏa lòng hả-dạ một khi,
Vui mừng hớn-hở ra đi trở về.
Phen này chùa sãi ê-chề,
Lầm tay mụ góa Thanh-Ðề ác-gian !
Ðó răn cảnh-cáo hai hàng,
Vì tu còn nghĩ thế-gian trần-tình.
Khi ta chẳng đoái mắt nhìn,
Phen này Bà sẽ rập-rình hại bây.
Bánh bao lễ vật sắm bày;
Hương-đăng trà-quả dâng đầy cúng trai.
Nguyện-cầu cội-phước thanh-bai,
Trong lòng hí-hởn mau quày quả chơn.
Trở về nguôi hết giận-hờn,
Trả thù xong đấy đâu còn giận ai !
Nhưng mà nhân đã quá dầy ;
Quả đơm trái xấu lần này nặng đeo !
Không còn nóng-giận bồng theo,
Thanh-Ðề đánh giấc mà trèo lên trên.
Ðang đưa gió mát đắp mền,
Lâng-lâng hồn-phách chìm quên sự tình.
Thấy hai quỉ-sứ dắt mình,
Cho rằng tới số về dinh Diêm-đài.
Thanh-Ðề liền khoát hai tay.
Số ta cao lắm không ai dẫn hồn.
Bây mau chạy lẹ thì hơn,
Bằng không Bà đánh không còn cái răng !
Diêm-La quỉ dữ dậm chân,
Tròn xoe đôi mắt trói gông Thanh-Ðề.
Bà này hung-ác gớm ghê,
Dẫn về cửa ngục mọi bề khảo tra.
Ta nay xuống Diệm Sum-La,
Gọi Trời kêu đất khóc la tối ngày.
Tội gì mà dẫn xuống ngay ?
Số chưa có tận sao bây bắt hồn ?
Diêm-Vương giở sổ gọi hồn,
Thanh-Ðề tội ác, tâm hờn dạ gian.
Sao Bà hung-hiểm nghinh-ngang ?
Ðã tu đầu Phật lại bàn sát-sanh !
Máu loang mùi thịt hôi-tanh ;
Ðem dâng cúng Phật uế sanh nặng-nề !
Phải bà tên gọi Thanh-Ðề ?
Mau mau hồn tỉnh gần kề Diêm-Vương.
Ta nay đã thác đoạn-trường !
Dạ rằng: ta có hại phường chúng-Tăng.
Vì tu tâm dạ bất cần,
Khinh-khi Bà lắm học hành kinh chi ?
Ðể cho Bà khóc lâm-ly !
Tu sao còn nặng vậy thì giả ngôn ?
Bao lời mắng-nhiếc vẫn còn,
Cho rằng Bà đã thiệt hơn với Thầy.
Diêm-Vương vỗ án bàn ngay !
Lớn mồm lắm chuyện không ngay tâm lòng !
Ví dầu các sãi nghinh-ngông,
Nhưng tu tròn phận thì không chuyện gì ?
Sao Bà quì Phật qui-y,
Trở lòng gian ác mấy khi bình-thường ?
Ta quay lại mắng Diêm-Vương,
Luật gì ức hiếp không thương người già ?
Ta tu độc niệm Di-Ðà,
Ngày qua tháng lụn dọn nhà Như-Lai.
Vì chư Sư-sãi khinh-tài,
Luôn mồm miệt-thị xéo-dày bổn-tâm !
Diêm-Vương mà lại bắt lầm,
Thanh-Ðề tu học bao năm chay-trường.
Diêm-Vương quở-mắng khôn-lường !
Gọi hai quỉ dữ lấy thương đánh bừa.
Ðánh cho thói ác răn-chừa;
Ðánh cho ngươi biết lọc-lừa thói gian !
Ðã tu niệm tưởng Niết-Bàn,
Sao tâm dạ sói hại hàng Tăng-Ni ?
Khóc ròng đau-đớn ai-bi !
Sẵn lòng ta mắng khinh-khi Diêm-Phù.
Ðã tu đồng-đẳng cùng tu,
Cớ sao kẻ trọng người bù không thương ?
Diêm-Vương giải-tỏa mọi đường,
Mặc người ta cứ lấy thương làm đầu.
Nếu ai gây tội cao-cầu,
Công-bằng định-luật khó hầu thoát qua.
Mình tu phải giữ hạnh-hòa,
Từ-bi làm gốc Di-Ðà khuyến-nhân.
Tu-tâm tích-đức chớ hờn,
Kệ người khinh rẻ chớ sờn làm chi ?
Lòng người sân-giận ngu-si,
Quên lời Phật dạy mình vì thế-nhân.
Người tu đầu cuối mọp phần,
Ðó là gương hạnh phải cần rèn trau !
Cạo đầu sao lại nhìn cao ?
Mất đi đức độ dạ nào an-vui !
Nay ta cho đó nếm-mùi;
Hành-hình đánh-phạt rồi trui phần hồn !
Thanh-Ðề mê-sảng mất khôn,
Vì roi đánh trúng phách hồn đớn-đau !
Rên la lăn lộn làm sao,
Diêm-Vương gọi quỉ nhốt vào tối đen !
A-Tỳ Vô-Gián không đèn,
Ngày đêm tra-khảo bao phen lạnh-lùng !
Không còn suy-nghĩ, thung-dung,
Bàn chông máu đỏ hãi-hùng xiết-bao !
Ðầu ta đội chậu máu-đào,
Lưỡi thường bị cắt nhức đau vô cùng !
Một ngày mấy buổi vẫy-vùng,
Cho ra phân xé lung-tung thân già !
Ban đầu còn đặng khóc-òa,
Từ từ ngất lịm hồn ma dật-dờ,
Trước tiên đánh đủ giấc giờ,
Rồi luôn bừa quét không chờ lịnh trên.
Gọi rằng gây tội phải đền,
Hại người tu Phật nào nên con người !
Ta khóc rồi lại nhăn cười,
Bởi vì đau-đớn đủ mùi trói-trăn !
Ðến khi một buổi tỉnh thần,
Ta liền nhớ lại thanh-bần cảnh xưa.
Mẹ con tu-học sớm trưa,
Ra vào niệm Phật muối dưa chay lòng.
Mục-Liên huệ hoát bên trong,
Theo Thầy độ hóa trần-hồng nhân-sinh.
Thế-Tôn họ Thích hữu-hình,
Trước là Thái-Tử đoạn tình lìa Cha !
Ngài là danh thể Thích-Ca,
Tham-thiền thâm-diệu tìm ra đạo-mầu.
Kiền-Liên đệ tử đứng đầu,
Noi gương Thầy dạy tiếp bầu oai-năng.
Ta liền gợi tưởng tinh thần,
Gọi con đến mẹ một lần cuối thôi !
Mục-Liên lúc ấy đang ngồi,
“Tham-Thiền Nhập-Ðịnh” bồi-hồi trong tâm.
Cớ sao theo Phật bao năm,
Nay lòng xao-xuyến duyên phần gì đây ?
Bèn xin nhờ lực oai Thầy,
Chuyện gì xảy đến giờ này thế ni ?
Thích-Ca hiểu rõ chia-ly,
Gọi lần “Nhập-Ðịnh” xuất đi Chơn-Thần.
Mẹ ngươi bị đọa tấm thân !
Nay nhờ lực-pháp thần-thông đến người.
Mục-Liên chuyển pháp luân-vơi,
Xuất hồn đến viếng tại nơi Diêm-Phù.
Cảnh này thật quả âm u,
Mẹ ơi! Hỡi mẹ tạo tù khổ-kham !
Con nay là đấng phi-phàm,
Xuất thần gặp mẹ xẹt lằn điễn-quang.
Ở đâu con mẹ đôi đàng ?
Mẹ ơi ! Hỡi mẹ trong hàng quỉ ma !
Nhưng mà cớ sự xảy ra ?
Tuần-tra xét hỏi thật là rối ren.
Không cho xuống chỗ tối đen,
Oai-thần năng-lực sao chen trong này ?
Mục-Liên bèn nhập về Thầy,
Bái đầu với Ðấng quyền-oai vô cùng.
Thầy ơi! Xuống cõi mông-lung,
Con đà chẳng biết phải dùng pháp chi ?
Bao lần quỉ dữ cản đi,
Làm sao gặp mẹ hỏi tri sự tình ?
Thích-Ca Từ-Phụ phân-minh,
Thần-thông “Lục-Ðộ” cởi nghìn oan-khiên !
Vì người có cội túc-duyên,
Với ta hay học cần chuyên Bồ-Ðề.
Nay niệm Thần-Chú giải-mê,
Tổng-trì sáu chữ quay về hư-linh.
Di-Ðà Phật trước sinh mình,
Diêm-Vương cửa ngục vị tình mở ra.
Nói rằng đệ-tử Thích-Ca,
Thần-thông “LỤC-DIỆU” điều-hòa oai-năng.
Nay con dùng “Bổn Chơn-Thần”,
Xuống đây thăm mẹ một lần khúc nôi.
Minh-châu ngọc tỏa sáng ngời,
Lấy oai Xá-lợi người coi thể nào !
Mục-Liên hớn hở vui sao,
Dập đầu bái tạ Thầy trao bửu-truyền.
Lộn vòng đi xuống Huỳnh-tuyền.
Ðể thăm mẹ khổ ưu-phiền bao năm !
Dâng lên ngục trưởng chuỗi tầm,
Bồ-Ðề thập bát diệu-thâm của Thầy.
Di-Ðà lục-tự rất hay,
Xin người cho gặp mẹ nay tỏ-tường.
Xem qua, xem lại Diêm-Vương,
Gọi hai quỉ-sứ dẫn đường mà đi.
Mục-Liên hăm-hở mấy khi,
A-Tỳ vào ngục ai-bi thảm-nàn !
Nhìn mẹ lệ đổ hai-hàng,
Mẹ ơi! Cớ sự thau vàng ra sao ?
Việc chi mà quá khổ-đau ?!
Thân già cằn-cổi máu-đào tuôn rơi !
Con nay nhờ lực oai trời,
Ðến đây thăm mẹ ở nơi A-Tỳ.
Thanh-Ðề áo-não ai-bi,
Nhìn con nước mắt vậy thì trào ra !
Má nhăn da hóp khóc òa !
Con ơi! Nay mẹ hồn đà thác oan !
Nhìn con mẹ ngẩn bàng-hoàng,
Con ơi! Họa đói thân tàn xác-xơ,
Một ngày tra-khảo mấy giờ;
Một giờ đánh-đập không ngơ phút nào !
Mục-Liên thấy mẹ xác-xao,
Dập đầu la khóc nỗi nào tả hơn !
Mẹ ơi! Nói rõ nguồn-cơn !
Cho con trẻ biết thiệt-hơn thế nào ?
Thanh-Ðề xúc-động máu trào,
Thôi con cho mẹ cơm vào miệng đi !
Ròng-rã chịu đánh ù-lì,
Ðói lòng mẹ quá, nói gì khốn-a !
Mục-Liên đoạn trở đi ra !
Diêm-Vương ngục trưởng xin mà bát cơm.
Trở vào tay đở bát ôm.
Con ơi! Ðút mẹ cho tròn buổi nay.
Mẹ nay bị trói hai tay,
Làm sao ăn đặng cơm rày hỡi kia ?!
Mục-Liên nước mắt đằm-đìa !
Mẹ ơi! Cơm tẻ phân-chia vào mồm.
Nhưng khi cơm đến miệng tròn.
Hóa thành lửa cháy như rơm phừng-phừng !
Mục-Liên thấy vậy hãi-hùng !
Ngẩn-ngơ rơi chén mà vùng đổ cơm.
Mẹ ơi ! Vì hỡi đỏ lòm ?
Sao mà mẹ chịu miệng mồm thành than ?

Này Phục-Nguyên Pháp-đàn! Hôm nay ta kể đến đây nếu Pháp-đàn cho ta kể, thì ta kể tiếp, còn không thì ta xin thăng.
PN : Kỉnh Bạch Ngài! Nếu thuận duyên xin Ngài kể tiếp cho đầy đủ hết, để làm bài học quí báu mà giúp-ích cho thế gian vậy, xin Ngài tiếp.
TÐ : Xin Pháp-đàn cho ta ra ngoài một chút, vì hàng Bồ-Tát ta tuy rằng đã giải thoát, nhưng khi gợi lại cảnh cũ ta cũng diễn-tưởng như cảnh đó hiện ra trước mắt. Cho ta nghỉ một chút rồi ta vào kể tiếp cảnh áo-não này phải không Pháp-đàn ?!
PN : Kính vâng Ngài !
TÐ : Ta xin kể tiếp

KỆ
Mẹ ơi ! Con chẳng dám dòm.
Sao miệng mẹ hóa một chòm lửa thui.
Xúc lòng cảm-động bùi-ngùi,
Mẫu-thân gây tội chôn vùi linh-căn !
Nay con còn trẻ như măng,
Xin mẹ hãy kể lần phăng từ đầu.
Rồi con quì bái dập đầu,
Là Thầy Từ-Phụ ngõ-hầu đỡ-nâng.
Sao con lòng-dạ bâng-khuâng,
Mẫu-từ nông-nỗi con dần tái tâm !
Nhói đau tim trẻ nát bầm;
Ruột gan như thắt ai đâm vào mình !
Thấy mẹ chẳng đặng làm thinh,
Dù con Bồ-Tát xá tình cứu-tai !
Mẹ ơi! Tội mẹ đã gây,
Thân già chịu lắm nghiệt-cay thảm-nàn !
Con cầu với Phật vái-van,
Ðể cho hình-phạt trở sang thân mình.
Giúp mẹ an-lạc nhẹ-nhàng,
Dù cho con trẻ ngổn-ngang bấy-chầy.
Con đây quyết sẽ về Thầy,
Xin người hóa độ lời này giải-oan !
Mẹ ơi! Cố gắng bình-an,
Hẹn mẹ con trở lại đàn Diêm-Cung.
Ðem đủ thứ vật mẹ dùng,
Tâm con khẩn-nguyện cho chung muôn-loài.
Nay con đáo trở trần-ai,
Gặp Thầy van-vái Như-Lai hạnh nguyền.
Ðể cho con sẽ thay phiên,
Chịu hình phạt khổ nhãn-tiền trái-ngang !
Thay mẹ lòng-dạ thanh-nhàn.
Công tu của trẻ đưa sang mẹ hiền.
Về trần phút chốc nhập liền,
Song-mâu mắt nhắm tham-thiền định tri …
Vùng la khóc toát ai-bi !
Con về đây đến kịp kỳ xiết ban.
Thầy ơi! Diệu-hữu Niết-Bàn,
Phải nơi Cực-lạc Nhãn-tàng chơn-kinh ?
Phật rằng: “ngươi đã viên-minh”,
“Bồ-Ðề thấu rõ tự mình sáng-soi.
“Quyết tu thì chớ buông-trôi,
“Tâm-Trung Thường-Trụ” tứ thời diệu-dung”
Nay con xin báo cáo chung :
“Tăng-Ni đồng-đẳng cùng dùng pháp môn.
Thầy là Từ-Phụ Thế-Tôn.
Muôn loài vạn-vật lời chơn khuyết-tình.
Xin cho đệ-tử bạch-minh,
Ðôi lời bàn giải trọn tình mẹ con.
Càng đông chư chúng thần-thông,
Dập đầu khẩn-nguyện cởi lòng oan-khiên.
Bởi vì thân-mẫu buồn-phiền,
A-Tỳ ngục tối luân-phiên hành-hình !
Nay lòng xót dạ ngặt mình,
Con xin thế chỗ hữu-hình mẹ con !
Ðền-ơn báo-đáp vuông-tròn,
Trọn phần hiếu-tử sắt-son vì đời.
Nguyện tu cứu khổ trần-vơi,
Nay mẹ mắc cảnh bời-rời Âm-cung.
Xin Thầy cho đệ-tử dùng,
Pháp-môn chuyển-hóa không-trung đổi thành.
Lặng-thinh mầu-nhiệm tinh-anh ;
Thế-Tôn lẳng-lặng tác thành oai-năng !
Thần-thông lục-diệu “Sống-Hằng”.
Cho chư Tăng-chúng thêm phần minh-khai.
Mục-Liên cứ giẫy khóc hoài,
“Sao Thầy chẳng tỏ vậy rày nỗi đau ?!
“Thầy ôi! Ðệ-tử dạt-dào !
“Ðau lòng con trẻ lời nào tỏ phân !”
Thích-Ca Nhập-Ðịnh lâng-lâng,
Tham-thiền im tiếng vô ngần điễn ban.
Rồi người khoác áo nhẹ-nhàng,
Cà-sa sửa đổi Kim-Cang sáng lòa.
“Mục-Liên sự khổ phôi-pha,
“Trên đời ai cũng mẹ cha làm đầu.
“Mẹ ngươi căn tội quá sâu”,
“Diêm-Vương ngục lạnh nát đầu xương rơi !
“Ðó là nhân-quả luật trời,
“Làm sao hoán chuyển vậy thời đổi trao”.
Nay ta dạy pháp bảy màu,
“Thần-thông lục-diệu đem vào “Cư Trung”.
“Biết rằng phải hiếu trọng tùng,
“Phận mình là đấng đại-hùng chớ quên.
“Xây nền đạo-đức làm nên,
“Từ-bi hạnh nguyện đáp-đền thâm ân.
“Cứu mẹ bằng điễn chơn-thần;
“Cứu mẹ bằng sự chuyên-cần qui-y.
“Trang-nghiêm Xá-lợi mâu-ni,
“Oai-thần xuất-chúng giải-nguy mẹ hiền.
“Hôm nay ngươi đủ hạnh-duyên,
“Ta xin kể lại lời truyền dạy răn.”
Mục-Liên nghe đấy bâng-khuâng,
Cớ sao Thầy dạy tâm-thần tịnh-an ?
Bây giờ lòng-dạ xốn-xang,
Nghĩ về thân mẫu hai hàng lệ rơi !
“Sao Thầy kêu trẻ cứu đời,
“Mặc mẹ bị đọa chơi-vơi ngục-hình ?
“Thầy ơi! Dạy rõ viên-minh,
“Cho lòng đệ-tử câu kinh Bồ-Ðề.
“Mẹ con đang gặp não-nề !
“làm sao an-dạ quay về không-trung ?
“làm sao đến cảnh thung-dung,
“Xin Thầy dạy rõ con dùng phép chi ?
“Cứu mẹ thoát cảnh khốn-nguy !
“Cho tròn hiếu-tử phút ni tu hành.
Im-lặng phăng-phắc thanh-thanh,
Trăng vàng tỏa chiếu nơi thành Tỳ-La.
“Ta nay bổn hiệu Thích-Ca,
“Cho ngươi pháp chuẩn hiếu-hòa cứu tai.
“Hoàng-anh ton hót bên tai,
“Bồ đề xào-xạc lộ khai lá vàng.
“Sanh-tử chẳng giữ được an,
“Ấy là định-luật chứa-chan tình người
“Hôm nay an dạ yên vui,
“Ngày mai đau-khổ nếm mùi ai-bi !
“Nay thời trong cảnh khốn-nguy !
“Mai thời an-lạc có chi đau sầu ?
“Căn duyên lý trợ từ đầu,
“Cớ gì u-uất buồn rầu thế kia !
“Người tu chẳng tạc sử bia,
“Tóc trần đã xuống sớm, khuya niệm trì …
“Ái-ân phút-chốc chia-ly,
“Có ngày sum-hợp vậy thì cũng tan.
“Lấy chi mang nỗi bàng-hoàng,
“Mẹ cha quyến-thuộc họ-hàng cũng trôi !
“Mục-Liên đừng khóc đi thôi,
“Nay ta giải tỏ tô-bồi đức ân.
“Thương cha mến mẹ rất cần,
“Ai là chẳng có song-thân sinh mình.
“Nhưng thương, thương cái hữu-hình,
“Nào thương chơn-diệu viên-minh bồ-đề.
“Nay ngươi u-uất não-nề !
“Thương mẹ thân-xác ê-chề khóc vang.
“Nín đi ta dạy kim-Cang,
“Khúc nôi tường-thuật hòa-chan đêm này.
Lung-linh áng sáng hay hay,
Trăng đà cao ngọn có Thầy Thích-Ca.
Với cùng Tăng-chúng hằng-hà,
Tham-thiền nghe pháp bảo hòa Mâu-Ni.
“Ðời là nơi chốn gian-nguy !
“Ðời tạo thân-xác ra đi không về.
“Ðời là một giấc vàng kê,
“Có gì vui-vẻ mọi-bề an-nhiên ?
“Hôm nay sum-họp đủ-duyên,
“Ngày mai vắng bóng hậu tiền cách chia.
“Nay đà đến lúc về khuya,
“Ngày mai bừng sáng đã chia hai phần.
“Nay con còn đủ xác thân,
“Nhưng khi trút thở lạnh lần oái-oăm !
“Trở về nơi cõi xa-xăm,
“Ruồi lằn dòi bọ đục lần xương tan !
“Có gì con lại chứa-chan ?
“Có gì mà phải lệ tràn đôi mi ?
“Ðây Thầy giảng-dạy kịp kỳ.
“Nhân-duyên con mẹ vậy thì sớm hôm.
“Mẹ con lòng-dạ chẳng chơn.
“Hại người tu Ðạo không còn đức nhân !
“Ác-lai, ác-báo trói chân.
“Hại người phút chốc lấy phần trái-oan !
“Vì tu tâm chẳng Niết-Bàn,
“Từ-bi then-chốt lại tan đi rồi !
“Mẹ ngươi lòng bạc như vôi,
“Quên ân nghĩa-trọng Thầy ngồi giảng răn.
“Mặc dù chung sống chúng Tăng,
“Gặp cơn khảo-đảo tâm-thần phừng lên.
“Lửa si nhiều nỗi uất-hờn,
“Gây ra tội-lỗi phải tồn đọa-sa.
“Giết chó lấy máu đỏ lòa,
“Thịt làm nhân bánh bao đà dâng trai.
“Ðó là phạm tội nặng đầy,
“Hại tăng đầu chúng những ngày xuất-gia.
“Công tu tuôn chảy lơ là,
“Hồn oan phải bị tấn-tra hành-hài !
“Nay ngươi tâm-dạ phôi-phai,
“Ta dạy diệu-pháp đến ngày báo-ân”.
Mục-Liên đảnh-lễ đền ơn.
Thầy là Từ-Phụ đáp đền trọng thay !
“Con nay bái tạ Như-Lai,
“Xin Thầy giảng tiếp một bài hiếu-ân.
“Làm sao vẫn kính song-thân,
“Cho tròn phước-báu vẹn phần sáng trong”.
“Người là đệ-tử đạt thông
“Nhãn Nhĩ Tỉ Thiệt Thân” không nhuốm trần.
“Ðây là ta dạy cân-phân,
“Ngươi nên “Thanh-Tịnh” vẹt lần khí đen”.
Mục-Liên mừng-rỡ lời khen :
“Xin Thầy dạy pháp thắp đèn lưu-ly”
“Thành-tâm báo-hiếu hạnh qui,
“Ðến Rằm tháng bảy thực-thi hóa-hoằng.
“Trai Tăng chí kỉnh số đông,
“Mười phương chư Phật cũng đồng hồi nguyên.
“Trung-nguơn báo hiếu hạnh thiền,
“Là ngày ân-xá xích-xiềng hồn-oan !
“Ngươi mau trở lại Tây-Phang
“Cầm cây phướng trắng dẫn đàng Trai-Tăng.
“Sắm cho đầy-đủ vật cần,
“Ðựng trong bình bát mười phần tinh-anh
“Ý nghĩa năm chữ ngũ-hành;
“Tức là năm giới cấm sanh hại người.
“Hoa đăng đầy-đủ xinh-tươi,
“Ba chung nước trắng ví bồi “Tam-Huê”.
“Một dĩa gạo muối sum-suê.
“Nghĩa rằng tinh-huyết trở về trái tim.
“Lấy đăng rực-sáng đầu tiên,
“Dọn lên hoa-quả ngẫu nhiên đủ-đầy.
“Hoa thơm năm thứ về đây,
“Khăn lông quần áo hôm nay chứng đàn.
“Ta là Từ-Phụ Nhãn-tàng.
“Hôm ấy sẽ chứng trai đàn của ngươi.
“Mời chung Tăng-chúng người người.
“Hàng hàng lớp lớp vậy thời chú tâm.
“Niệm trì diệu pháp thậm-thâm,
“Vãng-sanh thí thực trưởng mầm Thích-Ca.
“Ðủ-đầy trong số tinh-ba,
“Ngươi thời xuất vía đến hòa mẹ ngươi.
“Minh-châu chiếu sáng rạng-ngời,
“Có bình bát quí y thời đắp theo.
“Ðó ngươi lăn-xả hiểm-nghèo,
“Cho mẹ dùng đở cơm đeo theo bầu.
“Dẫn đầu là ngọc minh-châu,
“Chính là Xá-lợi gồm thâu oai-quyền.

Phục-Nguyên Pháp-Ðàn! Thôi Thanh-Ðề kể đến đây, Thanh-Ðề tạm xin dừng; Thanh-Ðề sẽ kể tiếp trong phần Mục-Liên, vì sẽ đến ngày Rằm tháng bảy là ngày báo hiếu. Lấy đó dự đàn Trai-Tăng có Ngài Từ-Phụ Thích-Ca chứng đàn cùng tất cả chư chúng-Tăng thanh-tịnh an-lạc mầu-nhiệm để trợ thần thêm điễn-lực cho Mục-Liên xuống ngục tối cứu mẹ. Thanh-Ðề xin kiếu lui, sẽ hẹn vào ngày mai kể tiếp nữa.
PN : Kính Ngài vâng !

Ngọ thời, ngày 17 tháng 07 niên Kỷ-Tỵ. (12-08-1989)
Thanh-Ðề xin chào Pháp-chủ

PN : Kỉnh Ngài !
TÐ : Hôm nay Pháp-chủ định-tĩnh nghe Thanh-Ðề kể tiếp phần Mục-Liên cứu mẹ phải không ?
PN : Kỉnh bạch Ngài đúng vậy !
TÐ :

KỆ
Thế-Tôn vừa dạy Kiền-Liên,
Vừa ban ánh-sáng diệu-huyền Mâu-Ni.
Này người báo-hiếu thực-thi,
Kiền-Liên đứng nhứt bởi vì thành-tâm.
Hôm nay hội-hợp thâm-trầm,
Nghe lời ta giảng pháp tầm chánh-chơn.
Niết-Bàn vô sắc vô-môn,
Nhãn-tàng không thể không tồn linh-oai.
Mặc cho kẻ tục chê-bai,
Giữ lòng thanh-tịnh giờ ngày rèn trui.
Mặc cho nhân-thế đùa vui,
Phận ta đoạn-tục chôn-vùi tánh tham.
Mặc đời yêu-mến thói phàm,
Lòng ta phảng phất núi lam tuyết mờ.
Giảng xong bài pháp “Huờn-Vô”,
Thế-Tôn Từ-Phụ nhiếp lờ song-mâu.
Tâm-thiền diệu-ứng minh-châu.
Trang-nghiêm tướng-pháp đâu-đâu cũng tường !
Oai-danh vang-dội bốn phương,
Thế-Tôn là đấng tỏa-hương cứu đời.
Không khi nào đặng thảnh-thơi !
Ngày đi khất-thực đêm thời “Ðịnh-Tâm”.
Ðịnh trong im-lặng xa-xăm,
Mục-Liên ôn lại chú-chăm nhiếp lòng.
Nay con nguyện-lực tròn xong.
Cứu cho mẹ thoát não-nồng Diêm-La !
Nghe lời Thầy dạy phôi-pha,
Sắm sang lễ-vật nước trà cúng dưng.
Ðến ngày Tự-Tứ dùng chung,
Bắt đầu mười bốn mời cùng Tăng-Ni.
Cấp-Cô rừng lộc thị-chi.
Dọn vườn Lộc-Uyển đoạn-trì vái-van.
Mục-Liên đảnh-lễ bá-ban,
Mời chung chư Phật tiếp đàn hôm nay.
Dọn vườn sạch-sẽ tịnh-trai,
Chùi-lau tâm-thể đến ngày dâng-hương.
Nay là đạm-bạc chay-tương,
Lễ này báo-hiếu cúng-dường Trai-Tăng.
Vu-Lan đặt-để đủ phần,
Chọn người đầy hạnh đức hằng tịnh chơn.
A-Nan chủ-hội vuông-tròn,
Với Ngài Xá-Lợi bát cơm nhựt phùng.
Có chung Thế-Chí vái cùng,
Duy-Ma-Cật đến hòa tùng hưởng ân.
Tăng-Ni trọn giới chuyên-cần,
Ðến đông đủ mặt thêm phần trang oai !
Giữa đàn đã có Như-Lai,
Tiếp Ngài trợ-lực hoằng-khai Di-Ðà
Thế-Tôn Nhập-Ðịnh hài-hòa
Ðúng giờ Ngọ xuất ngũ hoa khai mầu.
Mục-Liên quì xuống đê-đầu,
Thành-tâm kỉnh-lễ vọng-cầu hư-linh.
Kiền-Liên bái tưởng mẹ mình,
Thanh-Ðề cam-khổ ngục-hình giải-oan.
Như-Lai thí-pháp chay đàn,
Gội nhuần hương đạo màu vàng lưu-ly.
Cà-sa vai khoát Bát-y,
Nhìn về thí-thực niệm-trì Nam-Mô.
Nay ta điều-độ Cấp-Cô,
Quây-quần giữa hội phải vô đàn này.
Gọi rằng thí-thực đàn chay,
Cũng là kỷ-niệm ấy ngày VU-LAN,
Báo đền nghĩa nặng cưu-mang,
Song thân đã khuất nghiệp-oan khổ-sầu !
Nếu đàn vọng-tưởng thâm-bâu,
Cửu-huyền chín-suối ngóc đầu dạy lên.
Bên là Thất-Tổ không quên,
Nhờ ơn lực chuyển đáp đền kiếp-căn !
Trọn tình đáp lễ nghĩa-nhân,
Gương soi đức-hạnh thêm phần từ-bi,
Hai hàng Tăng-chúng đồng quì,
Nguyện cầu vọng sám thiết-nghi chay-đàn
Mục-Liên cầm phướng phất ngang,
Thế-Tôn gọi đến nhập thoàn tịnh yên.
Rồi cho xuất đảnh đi liền,
Mục-Liên lâm giá nơi miền U-minh.
Mẹ ơi! Nhờ đức cứu sinh,
Thế-Tôn Từ-Phụ giúp tình giải-oan !
Con nay sắm đủ chay đàn,
Ðem dâng cúng Phật cùng hàng Tăng-Ni.
Phần này độ thực hòa huy,
Ðem cho mẹ hỡi ăn đi no lòng,
Mừng-mừng tủi-tủi khóc ròng,
Thanh-Ðề nước mắt chảy giòng má nhăn.
Con ơi! Cứu mẹ đỡ phần,
Ðớn-đau rên xiết tinh-thần hoang-mang !
Cơm này chú-nguyện mười phang,
Mẹ dùng cho đặng nhẹ-nhàng mẹ ơi !
Cơm vào đến cổ nuốt thời,
Lâng-lâng mát-mẻ bỗng ngồi lại ngay,
Bàn chông tuy có đâm đầy,
Nhưng không loang-lỗ như ngày đầu tiên.
Lòng ta bỗng thấy nhẹ liền,
Tuy đội chậu máu xích-xiềng vẫn y !
Mẹ ơi ! Mẹ đã no thì,
Giờ xin con đến đặng quì Thế-Tôn.
Cho mẹ xác nhẹ phần hồn,
Bỏ chông, bỏ máu toàn-chơn đủ đầy.
Mục-Liên cảm-động bi-ai !
Mẹ ơi! con đến Diêm-đài xin cho.
Mẹ đừng tư tưởng âu-lo.
Nguyện lòng vì mẫu con bò lại ngay.
Mục-Liên cầm phất nơi tay,
Xua hàng quỉ dữ đứng ngay mặt mình.
Rồi đi từ-tốn lặng thinh,
Diêm-La cõi điện dập mình vái xin
Ơn trên bố-báo chút tình,
Cho mẹ thoát ách hành-hình bấy lâu !
Nay con đủ lễ thâm-bâu,
Thầy là Từ-Phụ năm-châu nhân-loài
Ngày Rằm giờ Ngọ điễn-khai,
Mục-Liên cứu mẹ về ngay dương-trần
Ðệ thành đơn-sớ trọn ân,
Viết tên cho rõ các phần dự chung.
Diêm-vương đọc đấy ngước nhìn,
Lành thay có kẻ hy-sinh cứu người !
Thâm-ơn trọng-báo ai ơi !
Mẹ Cha nghĩa cả chớ rời nơi tâm !
Chuẩn-y chữ ký uyên-thâm,
Ngày nay dứt tội lỗi-lầm gây ra.
Thanh-Ðề vưởng-vất hồn ma,
Trở về dương-thế đồng-hòa duyên con.
Mục-Liên tâm-dạ sắt-son,
Gìn câu hiếu-thảo lớn tròn vô biên !
Dập đầu danh hiệu Kiền-Liên,
Nguyện câu rộng lớn phá xiềng Diêm-Cung.
Ðộ cho bao cảnh nấu-nung;
Ðâm ruột máu đổ hãi-hùng xiết la !
Khi nào chẳng có hồn ma,
Ðến chừng lúc ấy nhập Tòa Bửu-liên.
Nay con là Mục-Kiền-Liên,
Nguyện-cầu khắp cả sanh tiền giải-oan.
Nguyện độ bao kẻ ác loàn
U-minh rực sáng chói-chan lòng này.
Thì là chừng ấy đến ngày
Mục-Liên giải-thoát hoa khai chánh-truyền …
Hôm rày vì mẹ triền-miên,
Nay hồn mẹ thoát xích-xiềng rời ra.
Thôi rời nơi điện Diêm-La,
Dẫn mẹ trở thế Thích Ca bái đầu,
Mẹ ôi! Từ-thiện mất đâu !
Mau mau tu học giải-sầu trần-gian.
Ðến Thầy đền-đáp cưu-mang,
Xin mẹ nguyện hãy tu sang Tây-đài.
Lỗi xưa đã hết từ nay,
Nhưng mẹ phải quyết chọn rày tu tâm.
Trở lại ngục tối đọa thần,
Mục-Liên liền vẫy tay lần mẫu-thân.
Chậu máu biến mất còn đâu ,
Chông gai đều chẳng chân nào chạy đi !
Lành thay thân-mẹ trọn y …
Nhẹ-nhàng sắc-thái bởi vì tâm con !
Mừng thay con mẹ nào hơn !
Mục-Liên hãy dẫn đến nơi hóa-hoằng.
Mẹ ôi! Oai đức kim-thân,
Của Thầy Phật-Tổ tỏ lần Mâu-Ni.
Nay mẹ vô-ngại chân-đi,
Với cùng các chỗ khốn-nghì máu loang !
Thịt mẹ lành-lặn đỏ hồng,
Ðó nhờ ân-đức pháp-môn của Thầy.
Mẹ con mừng-rỡ nắm tay,
Niệm câu Thần-Chú định ngay về trần.
Thanh-Ðề hồn nhập vào thân,
Mừng mừng tủi tủi mấy lần đọa-sa !
Thấy Ngài oai diệu Thích-Ca,
Dập đầu bái tạ thật là phước chung.
Nhờ con có chí tận cùng,
Lo mẹ báo-bổ mà dùng pháp linh
Nay con đề bạt hạ mình,
Thanh-Ðề nguyện xuất gia gìn lý chơn.
Kỉnh Ngài khai-ngộ điểm huờn.
Xuống cho ngọn tóc không còn trần-gian.
Lòng con nay đã tịnh an,
Sân-si tiêu mất qui hàng Phật-tâm.
Xưa gây nghiệp tội nặng trầm.
Nay đà thức-tỉnh gieo mầm nhân sâu.
Mục-Liên quì kế bèn tâu :
Xin Thầy chứng mẹ cạo đầu qui-y
Qui-y thiện-niệm hành-trì,
Không còn quả báo vô-nghì trầm-luân.
Nay con bổn-phận nương tùng,
Thầy đâu trò đó vẫy-vùng độ nhơn
Cầu-nguyện thêm sức vuông tròn,
Vô-biên rộng-lớn mót-bòn đức công.
Ðến chừng tiếng nổ thinh không,
Thế-Tôn nhập tụng diệu-huờn cứu-tai !
Hôm nay ta chứng đàn trai,
Mẹ con sum hiệp đến ngày diên-niên.
Không gì bằng “PHÁP THAM-THIỀN ?”
Không gì bằng “BÁU HOA-LIÊN NHẬP-THẦN ?”
Cứu mẹ là cứu xác-thân,
Nhưng tu TRỌNG-HIẾU ẤY PHẦN CHỦ-TÂM.
Chứng cho Mục-thị một lần,
Mau tu bỏ cảnh hồng-trần nghiệt cay.
Không lo hiện nghiệp trả-vay,
Thanh-Ðề nghe pháp tâm khai huệ bừng.
Tự nhiên thân-thể nhẹ dâng,
Một vòng chói sáng nở bừng vườn hoa.
Canh Tý Nhập-Ðịnh Kiết-dà,
Xuất hồn đi chốn Bửu-Tòa Huyền-linh.
Thảnh-thơi bốn cõi siêu-hình,
“Chơn-Tâm, Chơn-Thức Viên-Minh Bồ-Ðề”.
Không còn ác nghiệp gớm-ghê !
Thất-tình lục-dục dứt về “Hư-Không”,
Mùi thơm nở rộ nơi lòng,
Thêm phần vi-diệu sạch-trong thân-già.
Nay con quì lạy Thích-Ca,
Ðắc thành La-Hán xuất ra cảnh đời.
Mùi hương diệu pháp thảnh-thơi,
Chúng tăng mừng-rỡ đáp lời thế-thiên.
Nhờ ơn con trẻ Kiền-Liên,
Ấy ngày báo-hiếu tinh-chuyên ngày Rằm.
“VU-LAN BỒN” sắm Trai-Tăng,
Nay con đã truất bao lần nghiệt-oan !
Nguyện lên đến cõi Niết-Bàn,
Cầu cho bá tánh dân-gian đồng về.
Nguyện lên đến cõi Niết-bàn,
Cầu cho bá tánh dân-gian đồng về.
Nguyện cho Tăng-chúng khai huê,
Mâu-Ni Bửu-Ngọc nhập về hư-thinh.
Tỏ lòng lý Ðạo không tình,
“Sắc Không, Không Sắc” nào gìn giữ chi ?
“Tâm-Kinh Bát-Nhã” nay qui,
Có Thầy Từ-Phụ chứng-tri vài-hàng.

Ðó này Phục-Nguyên !
PN : Vâng
TÐ :

PHÚ
Nay Thanh-Ðề ta bài báo-hiếu,
Lấy ngày ấy mở khiếu tu-hành,
Làm người phải có rõ ngọn-ngành,
Cùng cội-gốc ân-sanh cha mẹ
Mười tháng tròn nặng mang lạnh tẻ !
Mãn tấm lòng vì trẻ ra đời
Công-lao mẹ nào có thảnh-thơi,
Là tinh-huyết trẻ thời lao-nhọc,
Chín tháng trường xả thân bao-bọc,
Ðể nuôi con tròn khắp thân mình;
Nếu nuôi con hiếu-thuận khi sinh,
Ra đầu xuôi nhẹ mình thư-thái.
Nếu nghiệp-quả và con phải tái,
Con nghịch đầu mẹ hãi-hùng ghê !
Sanh con ra huyết-lệ nặng-nề,
Như đã chết nay về sống lại.
Nếu lâm-bồn huyết ra tuôn chảy,
Thì khó bề mẹ phải tử-vong,
Còn nếu con sạch-sẽ nhẹ trong,
Mẹ vui-mừng thấy lòng thanh-thản
Liếc nhìn con đủ đầy mặt sáng,
Mẹ vui mừng đánh-tản đớn-đau,
Còn sanh con quả báo khi nào,
Mang tật-nguyền ôi sao đau xiết !
Mẹ khóc ròng đêm thâu thút-thít,
Vì thấy con chằng chịt không vui,
Nay Thanh-Ðề giảng pháp lau-chùi,
Phục-Nguyên hỡi ! Chớ vùi chơn-lý
Rồi đào-luyện con nên trường chí,
Bao năm dầy tinh-túy phần con,
Dù thân mẹ gầy héo hao-mòn !
Nhưng miễn con vuông tròn sắc-thái.
Không sợ nhọc kiếm ăn bươn-chải,
Ðể cho con ấm lại tấm-lòng,
Tình thương mẹ chan-chứa biển hồng,
Không có gì núi-sông tuôn-đổ !
Nếu con thuận hiếu thời dạy-dỗ,
Mẹ vui-mừng dù khổ cũng cam,
Dù cho con đủ thói vui ham,
Cha lẫn mẹ cũng làm nuôi sống.
Gặp những con thường chơi lêu-lổng,
Mẹ khổ tâm lệ đọng châu-mày,
Nếu con hiếu cổng mẹ từng ngày,
Lo chăm học miệt-mài đền-đáp.
Tâm-lòng mẹ một lần dứt-khoát,
Vì con mình dào-dạt hy-sinh,
Dù thân tàn cũng chỉ riêng mình,
Ðem ấm no trọn tình mẫu-tử
Nếu con thường hay gây cớ-sự,
Mẹ buồn lòng chẳng giữ thân tàn,
Lệ hằng tuôn má hóp lan-tràn,
Thương con trẻ nghinh-ngang tâm-tánh.
Nếu tròn duyên hòa cùng hữu-hạnh,
Sanh con ra tâm-tánh thật-thà,
Thì mừng rỡ ôm-ấp ngày qua,
Săn-sóc lớn vẹn ra hình thể.
Công của mẹ nào đâu có dễ;
Nghĩa của cha nào để nhẹ lòng,
Bởi thương người tánh-khí nghinh-ngông,
Làm buồn khổ song-thân miên-diễn !
Nay kệ pháp mùi hương diệu-điễn,
Ngày báo-hiếu tinh-tiến hành-trì,
Ðền ơn cúc-dục sanh nhi,
Ðể bồi-báo bởi vì nhục thể.
Ngày qua ngày tìm nhai sinh-kế,
Ðể nuôi con bê-trễ lụn-tàn,
Tìm mọi lẽ hạnh-phúc chu-toàn,
Cho con hưởng mở-mang trí-huệ
BÀI
Phục-Nguyên ghi-nhớ bài này,
Thành tâm báo-hiếu đủ-đầy song-thân.
Ta Thanh-Ðề bao lần gây quả
Xuống Diêm-Ðài phải trả tội mang,
Biết bao trắc-trở khó toàn,
Nhờ con chiếu-cố giải-oan tu-hành.
Mục-Kiền-Liên lòng lành hoát lớn,
Cứu mẹ hiền nơi chốn âm-u,
Bởi do đức hạnh chơn-tu,
Ðền ơn cúc-dục bao thu vì mình.
Công sanh-thành bao tình yêu-mến,
Mục-Kiền-Liên đã đến mẹ hiền,
Dù cho mẹ khổ xích-xiềng,
Nhưng tình con trẻ tính liền giải-oan,
Gương trong-sáng nhơn-gian phải biết,
Này Phục-Nguyên! Tình-tiết rõ-ràng,
Ðến ngày báo-hiếu cưu-mang,
Là RẰM THÁNG BẢY TRAI-ÐÀN LỄ-NGHI.
Cầu CỬU-HUYỀN đã đi lầm-lạc.
Cùng THẤT-TỔ phó-thác cháu con,
Một lòng hiếu-thuận lo tròn,
Công-tu bao quát chí-chơn định-trì.

Ðó Phục-Nguyên !
PN : Kỉnh bạch Ngài vâng !
TÐ : Trong khi Mục-Kiền-Liên đến điều độ cho Ta trở về trần-gian, không phải nhờ một công-đức của Mục-Kiền-Liên nhưng là nhờ ân-đức của Ðức-Thế-Tôn cùng các chư Tăng đều có một tịnh lòng trang-nghiêm đầy-đủ oai-đức nên cứu ta thoát khỏi cảnh trần-ai ngục khổ, thì hôm nay ta - Thanh-Ðề Bồ-Tát - cũng nguyện sẽ vì chúng-sanh mà thiết-lễ trai-đàn lập lại tất cả những giai-đoạn đã đi qua trong ngục-tối để cho chúng-sanh lấy đó làm đầu-đề mà tu-hành rốt-ráo hầu cứu-rỗi Cha Mẹ, Cửu-Huyền Thất-Tổ nơi ngục tối vậy.
Thôi ta xin thăng, hẹn sẽ tiếp đàn chiều nay.
PN : Kính bạch Ngài vâng !

Dậu thời ngày 17 tháng 07 niên Kỷ Tỵ
ÐỨC THANH-ÐỀ BỒ TÁT TIẾP

TÐ: Xin chào Pháp-chủ !
PN: Kỉnh chào Ngài !
TÐ: Thể theo lời hứa nên Thanh-Ðề giáng điễn tiếp đàn thuyết-giảng cho trọn ngày “BÁO-HIẾU VU-LAN” Mục-Kiền-Liên cứu mẹ đó Pháp-đàn !
PN : Vâng !
TÐ : Chẳng hay qua bao lần giáng điễn, Pháp đàn có rút ra cho mình một nguồn sống Ðạo nào hay chăng
PN : Kỉnh bạch Ngài! Phục Nguyên đã triệt thấu được những lời của Ngài giảng dạy
TÐ :

BÀI
Mấy lần giáng-điễn đàn tiền,
Thuyết đề-tài nói Kiền-Liên trọn lành.
Ðáp đền nghĩa-cử ân-sanh,
Noi-gương cho thế mà hành đức cao.
Người tu sao nỡ dạ nào,
Quên câu báo-hiếu khổ-đau trọn đời ?
Hy-sinh vì trẻ ai ôi !
Song-thân cực-khổ nào lời thở-than !
Luôn lòng cầu-nguyện vái-van,
Bình-yên con trẻ đứng hàng phẩm nêu.
Chăm lo sáng tối sớm chiều,
Gió-sương vật-lộn chắt-chiu con mình.
Một đời trang-trải hy-sinh,
Lo cho con dại nở mày rạng-danh.
Áo cơm mền chiếu thật lành,
Mẹ cha có thiếu cũng dành cho con.
Công-ơn nghĩa nặng Thái-Sơn;
Phận con báo-hiếu đừng quên ân dầy !
Thấy con vui cũng vui lây,
Con buồn Cha mẹ u-hoài buồn theo !
Lỡ may vận rủi khổ nghèo,
Mẹ Cha sướt-mướt thương eo con khờ !
Mai chiều điểm bạc sương mờ,
Cũng lo cho trẻ bây giờ ra sao ?
Dù con làm đến chức cao,
Mẹ Cha cũng nhớ hôm nào nâng-niu !
Lo cho đầy-đủ nuông chìu,
Con đòi gì cũng bao điều nương theo.
Nay ta thuyết-giảng lành nêu,
Ghi lòng cho thế hạnh dìu hiếu gương.
Mẹ Cha như tấm trải đường;
Lót cho con trẻ ngày thường mà đi.
Khi con khôn lớn học thi.
Ðua đòi theo bạn những gì xa-hoa.
Bậc làm Cha Mẹ rầy la,
Con thời ngỗ-nghịch ắt là không nghe.
Học theo thói xấu bạn-bè,
Mẹ Cha khuyên-nhủ dặt-dè nghe con !
Cải lời giận-lẩy buồn-hờn.
Không nghe thì chớ lại còn nói ngoa.
Thấy con tánh-hạnh tiêu-pha,
Mẹ Cha dạy-dỗ con xa điều này.
Nào nghe thâu-thập lời hay,
Mắng càn Cha Mẹ với Thầy dạy răn.
Lỡ khi mắng-chửi tục-tằn,
Song-thân khuyên-nhủ bao lần chẳng vâng.
Làm điều ngoe-ngoảy bất cần,
Luôn hờn giận-lẩy tấm-thân héo-xào
Muốn gì cũng muốn được cao,
Mẹ cha dù đói bỏ nào con thơ.
Thương con ấp-ủ từng giờ
Miếng ăn giấc ngủ dặn-dò cho con.
Dù đi ở mướn chiều-lòn,
Miễn cho con đủ vuông-tròn thời thôi.
Dù cho quần-áo tả-tơi,
Lo sao con trẻ ra đời vinh-quang.
Dù cha mẹ khổ luận-bàn,
Không cho con biết những hàng thở-than !
Ðể con sung-sướng xuê-xang,
Ra đường hãnh-diện với hàng bạn trung.
Mẹ Cha dù đói lạnh-lùng !
Lo cho con ấm chăn mùng trải giăng.
Phần mình tuy đói bất cần,
Miễn sao con được ấm phần thì thôi.
Dù cho lao-lực mồ-hôi !
Cũng lo cho trẻ chỗ ngồi danh vang.
Phận cha cùng mẹ không màng,
Suốt đời dâng hiến tâm-can trẻ khờ,
Nay phận ta nói con thơ,
Răn lòng thuận-thảo ngày giờ hành-y.
Một lòng đừng có khinh-khi,
Mẹ cha dù thế nào chi cũng còn !
Dù cho bị đánh phải đòn,
Nhưng luôn vâng-dạ lòng son hiếu mình.
Lễ cung kỉnh trọn giữ in
Ðền ơn báo-bổ công sinh ra người.
Làm con luôn nở nụ cười,
Ðể Cha Mẹ thấy vui-tươi sum vầy.
Dù cho bị mắng nghiệt-cay,
Ðành câm lặng nín chớ rày trả treo.
Nay con đừng dạ bọt-bèo.
Mẹ Cha già-yếu con đèo dưỡng nuôi !
Mục-Liên gương hạnh ai ôi !
Tu-hành cứu me trọn lời hiếu vâng.
Tu mà đến bậc Kim-Thân,
Nhưng đầy đủ đức song-thân báo đền.
“CÙ-LAO DƯỠNG-DỤC KHÔNG QUÊN”
“DỤNG-CÔNG TU-HỌC BÁO-ÐỀN SONG-THÂN”.
THI
Mục-Liên “BÁO-HIẾU TRỌNG-ÂN” duyên;
Thí pháp Trai-Tăng cứu mẹ hiền.
Rải điễn oai-năng chư chúng hội,
Thanh-Ðề thoát ngục khổ triền-khiên !

BÀI
Nay nhắc lại muôn nghìn tê-tái,
Cảnh U-minh còn hãi vấn-vương,
Xiết bao cay-đắng đoạn-trường,
Người qua các ải Diêm-Vương kinh hồn !
Mười cửa ngục dập-dồn rên-xiết,
Tội phải đền tình-tiết bày ra,
Một khi hồn thác làm ma,
Về đầu Diêm-Chúa rên la ích gì !
Khi còn thế vậy thì tranh-cạnh,
Xuống Diêm-đài rùn lạnh ớn xương !
Làm sao kể hết thảm-thương,
Những điều cực-khổ là thường nơi đây !
Còn trên thế luôn hay chải-chuốc,
Xuống Diêm-phù lạnh buốt giá run,
Biết bao hình-phạt hãi-hùng !
Dương-trần có thấy xin tùng làm gương.
Dù ở thế phi-thường cũng vậy,
Ngai vua cao vẫn đấy tuyền-đài,
Hành tra khảo-kẹp hình-hài,
Luật minh tội phước phân hai cộng-đồng
Dù ở thế học-thông sáng-suốt,
Xuống Diêm-phù chung cuộc mà thôi,
Lấy phần quả-báo dập-dồi,
Nào phân-biệt thấp hay ngồi chỗ cao.
Là ở thế anh-hào vang tiếng,
Thác tuyền-đài lai viếng Ngục-Môn,
Ðiều-tra hành xác thần-hồn,
Làm đau sự khổ dập-dồn oan-khiên.
Hay ở thế võ-biền sung-sức,
Sống vang-lừng là bực trượng-phu,
Một khi thác xuống âm-u,
Cũng đồng hoang-lạnh Ngục-Tù khảo-tra.
Hay ở thế gần xa nức tiếng,
Bậc giàu-sang vì miếng đỉnh-chung,
Khi tàn hơi thác lạnh lùng !
Một gò, một đống nhà chung Diêm-phù !
Hoặc là kẻ ngao-du bốn-bể,
Lấy danh oai ngọc-bệ kim-giai,
Là trang hiền-sĩ chí tài,
Một mai thác xuống tuyền-đài nghiệp vong !
Cũng đành chịu nằm trong định-luật,
Tội với phước có mức chia hai,
Không biết đâu sáng ngày dài,
Chỉ vào u-tối Diêm-Ðài khóc rên !
Hoặc ở thế làm nên việc cả,
Người quì mọp tiếng lạ đồn xa;
Thác xuống nơi cõi Diêm-La,
Căn hình hài tội vậy mà như nhau.
Có những kẻ má-đào danh sắc,
Nức hương phàm đầy mật hoa thơm,
Làm cho nam tướng bồn-chồn,
Nhưng khi đã thác anh-hồn ra ma !
Cũng đều chịu luật hòa âm cảnh,
Bị xích-xiềng vành-vạnh người ơi !
Xuống đây chẳng nói được lời,
Tùy theo tội dữ quỉ thời răn-đe.
Hoặc có kẻ hay khoe lịch-lãm,
Khi thác rồi ảm-đạm xiết bao !
Xuống cảnh tăm-tối khổ-đau,
Cũng gò một mối dạt-dào thê-lương !
Hay đầy-đủ những phường ca hát,
Mua vui đời đổi-chác miếng ăn,
Có khi sống cảnh cơ-bần,
Hoặc là giàu có không cần phân ra.
Khi thác xuống Diêm-La, Ngục-Tối,
Cũng đồng chung tội-lỗi phải đền,
Không gì kẻ trước người trên,
Mà nương tay đánh những tên hành-hình.
Không có trọng chữ vinh cao-cả,
Xuống đây rồi đều khỏa xác thân,
Ban đầu sáng-suốt tinh-thần,
Nhưng khi thọ án trăm phần kêu la !
Vang những tiếng gần xa rên-xiết,
Cuộc hành-hình ác biết dường bao !
Ðể cho thấm-thía cơn đau !
Rồi hài tội thế thấp-cao phân rành.
Chỉ có bậc hiền-lành tu-sĩ,
Suốt một đời chức-vị không mang,
Lâm chung tụng-niệm Niết-Bàn,
Nên dù có thác trần-gian nhẹ-nhàng.
Tuy xuống cảnh ngỗn-ngang sợ-hãi !
Luận công tội, thì thấy công-hơn,
Diêm-Vương cho uống Linh-Ðơn,
Hoàn hồn xuất vía cõi chơn nhập vào.
Nhưng phải bậc tu nào thật tướng,
Còn giả-dối vào ngưỡng A-Tỳ,
Ngục này ở núi Thiết-Vi,
Biết bao sắt lửa nung thì cháy đen !
Ngày sấm-chớp bao phen thảm-khốc !
Xác hành-hình lại lóc thịt ra,
Bộ xương trắng hếu tanh pha.
Kéo lưỡi mà cắt, đâm lòa hai ngươi !
Xuống cảnh này, ôi thôi khó nói,
Khuyên người đời sám-hối mau mau,
Kẻo không quả-báo lộn-nhào,
Làm sao chối-cãi khi vào Diêm-La !
Có nghiệt-cảnh đài pha chiếu thấy,
Tội của mình tà-vạy khi xưa,
Hành cho nết cũ phải chừa;
Hành thân biết ác mới vừa, tỉnh mau !
Vào ngục tối làm sao cải đặng ?
Càng cãi thời tội nặng chất-chồng,
Ðâu có tấm chắn bình-phong,
Hầu che tội thế não-nồng đã gây.
Khuyên chung hết những ai ở thế,
Noi gương hiền thực-thể Mục-Liên,
Tu học thì phải cần-chuyên,
Ngoài đời cũng đượm tiếng hiền gần xa.
Ðừng để tánh ác-tà vạy động,
Hằng nuôi-dưỡng khuất bóng trễ rồi !
Thương đời ta nói bao lời,
Thanh-Ðề chiếu cố ở nơi trần-miền.
Kỳ mạt-pháp Mục-Liên độ rỗi,
Các linh-hồn căn-tội quá sâu,
Thanh-Ðề viếng cảnh dãi-dầu,
Cũng tua giúp khách ngõ-hầu đi lên.
Mau thức-tỉnh xây nền đạo-đức,
Cố vươn mình làm bực Tiên-Thiên,
Kẻo không lãnh quả chẳng hiền;
Trăm đau ngàn khổ đảo-điên thần hồn !
Khi tu phải bảo-tồn linh-tánh,
Tánh Như-Lai là cảnh Niết-Bàn,
Lập tâm nuôi chí vững-vàng,
Công-năng tịnh-luyện qua thoàn Long-Hoa.
Kẻo không thôi phải hòa ma-quỉ,
Cõi lạnh-lùng càng nghĩ càng ghê,
Nay ta danh-hiệu Thanh-Ðề,
Xin cáo chung hết đi về “Hư-Không”.

Này Pháp-đàn ! Hôm nay ta vì chúng sanh; ta vì kỳ mạt-pháp, lời đại-nguyện của Mục-Kiền-Liên mà độ-rỗi hết tất cả những phần vô-hình được siêu-thăng, thì mới giải thoát cho mình. Thế cho nên, ta phải giải chơn-lý cho người đời hiểu rõ nguồn-gốc tội lỗi mà tu tiến để không còn những oan-hồn ở dưới ngục-tối Diêm-Vương hầu không còn cảnh hành-hình ghê rợn nữa, phải không Phục-Nguyên Pháp-đàn? PN : Bạch Ngài vâng !
TÐ : Ðó là ta cũng giúp cho trần-thế tỉnh ngộ và Mục-Liên cũng sớm mau giải-thoát vậy. Thôi, còn có điều chi Pháp-đàn cứ tự nhiên hỏi,
còn không thì ta xin trở về cảnh “Hư-Không”?
PN :

BÀI
Kỉnh Thanh-Ðề Thiêng-liêng điễn chiếu,
Nơi đàn tiền thông-hiểu huyền-vi,
Cảm ơn cùng Ðấng Từ-Bi,
Mấy ngày giáng-hạ hòa qui cho trần.
Nay Phục-Nguyên chí-chân cứu-khổ,
Ðem lời Ngài truyền độ khắp nơi,
Cho người tỏ-ngộ kịp thời,
Lý-chơn thiết-yếu huệ khơi tâm-mình.
Ðể giác-tỉnh hồi-sinh tu-học,
Hằng hồi-quang tẩy-lọc thói phàm,
Ðịnh lòng phục-bổn “Qui-Tam”
Không còn nghiệp-chướng khổ-kham hành-trì.
Kỉnh bạch Ngài huyền-vi Bồ-Tát !
Hữu-hạnh thay dào-dạt lời truyền ! …
Hòa cùng hữu-thể Phục-Nguyên,
Xiển-dương chánh-pháp thâm-uyên Tam Kỳ.
Hiệp thiên-điễn siêu-vi cứu-khổ,
Ðể lập-công tận-độ Cửu-Huyền;
Cùng chung Thất-Tổ huờn-nguyên,
Giải bao khổ nghiệp xích-xiềng Diêm-La !
Kỉnh Thanh-Ðề chan hòa cứu-khổ,
Kỳ mạt này trang-độ thế-nhân,
Tình-thương tất cả trần-hoàn,
Bởi vì mê-muội ngổn-ngang tâm-lòng !
Do thất hiếu nên không sáng Ðạo,
Ngỗ-nghịch luôn, lộn-lạo nghĩa tình …
Hằng ngày quả-báo vô-minh,
Cũng vì bỏ hiếu đắm mình trầm-kha !
Nay Phục-Nguyên chan-hòa tất cả,
Bạch với Ngài phụng-họa lời truyền,
Sau này phổ-độ tùy-duyên,
Quay về hiếu-tử chú-chuyên học-hành.
Thỉnh Tam-giáo điễn thanh vi chiếu,
Thiên-Phục-Nguyên am-hiểu rõ-rành,
Hiệp cùng các Ðấng trọn-lành,
Di-Ðà, Phật-Tổ y-hành lý-chơn.
Kỉnh bạch Ngài Thanh-Ðề Bồ-Tát !
TÐ : Thế thì quí-hóa phải không Pháp-đàn ?
PN : Bạch Ngài vâng !
TÐ : BÀI

Ta có mấy lời khuyên Pháp-chủ,
Gắng tu-hành đầy-đủ công-năng,
Ðể mà cứu-độ song-thân,
Cửu-Huyền chờ-đợi dưới tầng ngục-oan !
Tu-luyện kỹ Kim-Cang ánh-sáng,
Xá-Lợi chiếu tỏ-rạng khúc-nôi,
Trở thành Ðại-Ðế bực ngôi,
Tô-bồi công-quả trong thời hạ-nguơn.
Vì hạ-nguơn người không thiện-tánh,
Dấy ác-tà tạo cảnh não-nề,
Mẹ cha chẳng trọng đầu-đề,
Mang tội bất-hiếu khó về Thiên-Cung.
Thôi mấy lời ta cùng hòa vận,
Hỡi Phục-Nguyên! Cố-gắng hành-trì,
Trọn lòng “Ðạo-Pháp” huyền-vi,
TRAI-TĂNG THIẾT-YẾU NHỮNG KHI ÐĂNG-ÐÀN.
Ðộ tất cả trần-gian đang khổ !
Ðộ oan-hồn nơi chỗ lạnh-lùng !
Lấy vãng-sanh, là pháp chung,
Cầu cho thí-thực đặng dùng siêu-linh.
Kỳ mạt-hậu vô-hình tiếp điễn,
Hưởng đủ-đầy để tiến lên cao,
Không còn nơi cõi lộn-nhào,
Thoát ra biển khổ dạt-dào thiết-tha !
Thôi ta có bấy nhiêu lời, ta thăng đàn.
( HẾT)