Hiển thị các bài đăng có nhãn Tứ Phủ Công Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tứ Phủ Công Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2021

TỨ PHỦ THÁNH CÔ



TỨ PHỦ THÁNH CÔ


Bài viết này nói về thân thế của các Thánh Cô trong Tứ Phủ Thánh Cô. Tứ Phủ Thánh Cô gồm Thập Nhị Thánh Cô (Mười hai cô). Trong Đạo Mẫu, Tứ Phủ Thánh Cô đứng sau Ngũ Vị Tôn Ông, Tứ Phủ Chầu bà, Tứ Phủ Quan Hoàng, đứng trên Tứ Phủ Thánh Cậu.

1. Cô Đệ Nhất Thượng Thiên


  • Cô Nhất Thượng Thiên. Cô cũng vốn là con Vua Cha dưới Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thiên Cung Công Chúa trên Thiên Đình. 
  • Có người nói rằng cô cũng với Cô Chín hầu cận bên cạnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên (tức Mẫu Liễu Hạnh) lại có nơi quan niệm cô là Tiên Cô kề cận, tay biên tay chép kề bên Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (tuy nhiên do có quan niệm là Mẫu Đệ Nhất cũng chính là chầu cho nên hai ý kiến này hầu như là thống nhất với nhau). 
  • Cô giá ngự trong cung tòa, cận bên Mẫu cho nên khi đến các đền phủ người ta thường có lời tấu để cô kêu thay lạy đỡ trước cửa Vua Mẫu Đình Thần Tứ Phủ. Khi thanh nhàn cô cưỡi gió cưỡi mây rong chơi khắp chốn, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa cho đến tận Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Định...

  • Cô là tiên cô thần thông lục trí, cô chấm đồng người nết na thảo hiền rồi đem về tiến Mẫu trong Đền Mẫu Sòng Sơn. Cô Nhất khá ít khi ngự đồng, chỉ những người sát căn cô mới hay hầu cô hoặc trong các dịp khai đàn mở phủ Cô Nhất về chứng đồng tân lính mới. Khi ngự về Cô Nhất mặc áo màu đỏ (áo gấm hoặc áo lụa thêu phượng), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây), thắt khăn và vỉ lét đỏ. Cô làm lễ khai cuông rồi múa quạt. Cô Nhất thường được thờ vào ban Tứ Phủ Thánh Cô ở trong các bản đền.
Cũng có một số người nói rằng có đền cô là Đền Cô Nhất ở trong đất Nghệ An giáp Thanh Hóa với món đặc sản bánh ngào.

2.Cô Đôi Thượng Ngàn


  • Cô Đôi Thượng Ngàn vốn là con Vua Đế Thích trên Thiên Cung, được phong là Sơn Tinh Công Chúa. Sau cô giáng sinh xuống đất Ninh Bình làm con gái nhà một chúa đất ở chốn sơn lâm.

  • Thần tích về Cô Đôi Thượng Ngàn: Khi ấy tỉnh Ninh Bình có một vị quan lang họ Hà người Mường, ông nổi tiếng khắp vùng về nhân đức, phát tâm thiện nguyện, cứu giúp dân nghèo. Hai ông bà đã vào chạc ngũ tuần, nhưng vẫn chưa có một mụn con cho vui cửa vui nhà. Hai ông bà bèn lập đàn tế trời, cầu khẩn. Ngọc Hoàng trên thiên giới cảm cách mà nghe được những lời này mới sai cô xuống hạ giới, đầu thai làm con ông bà để thưởng cho cái đức độ, tiết tháo của ông. Mười hai tháng sau bà bẩm thụ thiên khí mà có thai, sinh ra cô. Khi cô sinh hạ có một đôi chim khách đến đậu trước cửa nhà cô mà hót mãi không thôi, như mừng đấng tiên nữ giáng sinh phàm trần. Năm cô lên bốn tuổi, gia định vị quan lang chuyển tới làm quan ở Huyện Cao Phong, châu Mai Đà, tỉnh Hưng Hóa. Ở trên vùng cao, nước sinh hoạt thiếu thốn, dưới chân núi Đầu Rồng lại có con suối nước thần, nước trong mát quanh năm, người dân ở đó thường ra suối gánh nước về dùng, cô cũng thường ra đó gánh nước về giúp đỡ ông bà.

  • Thời gian thấm thoát đã trôi qua, năm đó cô mười hai tuổi mà đã xinh đẹp tuyệt trần da trắng, tóc mượt, mặt tròn, lưng ong thon thả. Đức Mẫu Thượng Ngàn muốn thử lòng người trần gian, độ cho người có tâm, bèn hóa thành một bà lão đói khát, bệnh tật nằm lả ở gốc cây đa dưới chân núi Rồng. Bà nằm đó kêu rên từng tiếng khó nhọc, cầu mong sự giúp đỡ của mọi người qua lại, thế nhưng chẳng ai chịu ra tay cứu giúp bà. Đúng vừa lúc cô ra suối gánh nước thấy bà lão đáng thương, cô động lòng thương cảm bèn quỳ xuống vực bà ngồi dậy, cho bà uống nước. Bất chợt tự nhiên trời đất tối xầm, mây đen kéo tới, gió bụi cuốn lên mù mịt bà lão hiện thành Tiên Chúa Thượng Ngàn và nói với cô: "Ta là đức Diệu Tín Thiền Sư Lê Mại Đại Vương (tức Mẫu Thượng Ngàn), thấy con là người ngoan ngoãn, hiền lành, đức độ. Kiếp trước con là tiên nữ trên tiên giới, nghe lệnh Ngọc Hoàng mà hạ phàm báo ân cha mẹ. Nay ta độ cho con thành tiên trở về bên hầu cận bên cạnh ta, để cứu giúp nhân gian". Đoạn Thánh Mẫu rút cây gậy khắc đầu rồng bên mình ra trao cho cô. Cô nhận cây gậy rồi trở về nhà, bốn ngày sau thì hóa.

Đền chính của Cô Đôi Thượng Ngàn

Nổi lên trên cả là hai ngôi đền thờ cô thuộc địa phận Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) gắn với truyền thuyết sinh hóa của Cô. Đền Bồng Lai (còn gọi là đền Bồng Lai Hạ) ở Nho Quan, Ninh Bình là nơi Cô được giáng sinh và Đền Bồng Lai Thượng ở Cao Phong, Hòa Bình là nơi Cô hóa.
Cô Đôi Thượng Ngàn còn được thờ tại Đền Cô cách đền Mẫu Đông Cuông khoảng 500m. Ngôi đền này được xây dựng với quan niệm rằng cô là tỳ nữ bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn. Khu du lịch tâm linh Hàn Sơn - Thanh Hóa cũng có một ngôi đền thờ Cô. Ngoài ra, Cô Đôi Thượng Ngàn chủ yếu được phối thờ tại các cung Tứ Phủ Thánh Cô hoặc một ban riêng ở các đền phủ.



Truyền thuyết khác về Cô Đôi Thượng Ngàn


Sau này Cô Đôi quyết chí đi theo hầu Đức Diệu Tín Thuyền Sư Lê Mại Đại Vương (chính là Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang) học đạo phép để giúp dân. Rồi khi về thiên, cô được theo hầu cận ngay bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông Tuần Quán được Mẫu Bà truyền cho vạn phép, giao cho cô dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ (nên có khi còn gọi là Cô Đôi Đông Cuông), cũng có người cho rằng cô về theo hầu cận Chầu Đệ Nhị. Lúc thanh nhàn Cô Đôi Thượng Ngàn về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà, trong ba gian đền mát, cô cùng các bạn tiên nàng ca hát vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò, có khi cô biến hiện ra người thiếu nữ xinh đẹp, luận đàm văn thơ cùng các bậc danh sĩ, tương truyền cô cũng rất giỏi văn thơ, làm biết bao kẻ phải mến phục.
Cô Đôi Thượng Ngàn cũng là tiên cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang, người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, nhược bằng có nợ mà không mau trả lễ cô lại bắt đền nặng hơn. Cô Đôi Thượng Ngàn rất hay ngự về đồng, vì danh tiếng cô lừng lẫy ai ai cũng biết đến, đệ tử cô đông vô số và cô cũng hay bắt đồng.
Khi cô về ngự thường mặc áo lá xanh hoặc quầy đen và áo xanh (ngắn đến hông), trên đầu có dùng khăn (khăn von hoặc khăn vấn) kết thành hình đóa hoa, cũng có một số nơi dâng cô áo xanh, đội khăn đóng (khăn vành dây) và thắt lét xanh, hai bên có cài hai đóa hoa. Cô về đồng thường khai cuông rồi múa mồi, múa tay tiên hái tài hái lộc cho đồng tử.




3. Cô Ba Thoải Cung (Cô Bơ Bông)



Cô Bơ Bông ( hay còn gọi là Cô Ba Thoải Cung) vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công Chúa. Có người còn nói rằng, Cô Bơ Bông là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm.


Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai.
Đến ngày 2/8 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kì vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban. Cô lớn lên trở thành người thiếu nữ xinh đẹp, tưởng như ví với các bậc tài nữ từ ngàn xưa, lại giỏi văn thơ đàn hát. Đến khi cô vừa độ trăng tròn thì cũng là lúc nước nhà phải chịu ách đô hộ của giặc Minh, cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc” sau này).
Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.
Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn
Đền Cô Bơ là nơi thắng cảnh “trên bến dưới thuyền”, nơi giao của Ngũ huyện kê: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe” cũng với danh tiếng anh linh của tiên cô nên khách thập phương đến chiêm bái, cầu xin nhân duyên, khoa cử, làm ăn rất đông đúc. Thuyền bè dưới bến sông qua lại đều phải đốt vàng mã kêu cô, rồi những người đến kêu cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm, võng lụa thuyền rồng.

Một thần tích khác về Cô Bơ Bông

Theo cuốn "Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên" được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông tóm tắt như sau:
Vào khoảng năm 1432, vua Lê Lợi có một đêm mộng thấy một nữ thủy thần báo mộng: "Ta là con gái vua Thủy tề đây. Nhà vua còn nhớ là nợ ta một lời hẹn ước hay không? Bây giờ nghiệp đế vương đã thành sao chưa thấy trả". Vua Lê Lợi giật mình tỉnh dậy mới nhớ lại chuyện cũ. Ngày xưa, vào những năm đầu khởi nghĩa, Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp cô gái xinh đẹp, đoan trang đang tỉa ngô được cô cứu thoát.
Vua Lê Lợi để tỏ biết ơn cô, có nói với cô rằng: " Ta có một cháu trai tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn. Sau này kháng chiến thành công ta sẽ gả cháu ta cho cô." Người mà Lê Lợi nhắc đến chính là tướng quân Lê Khôi, cháu trai của Lê Lợi (Tướng Lê Khôi chính là một trong các hiện thân của Quan Hoàng Mười được thờ tại đền Củi ngày nay). Cô gái ấy chính là hiện thân của Cô Bơ.
Tương truyền rằng, sau thắng lợi, Vua Lê Lợi có quay lại tìm cô gái nhưng không thấy. Như vậy lời hứa gả cô cho tướng Lê Khôi đã không được thực hiện.
Sau giấc mơ, biết cô gái tỉa ngô nơi xưa chính là con gái vua thủy tề, hiện thân lên cõi trần để giúp vua xây dựng nghiệp lớn, vua Lê Lợi đã phong cô là "Thượng Đằng Thần" và cho xây dựng đền Cô, để tưởng nhớ công lao của Cô.


4. Cô Tư Ỷ La, Cô Tư Địa Phủ


Cô Tư Ỷ La cũng vốn là con vua Đế Thích chính cung. Theo lệnh vua cha, cô theo hầu Mẫu Thượng Ngàn tại đất Tuyên Quang. Về sau, nơi Mẫu giá ngự đó, người ta lập đền Mẫu Ỷ La nên cô cũng được gọi là Cô Tư Ỷ La. Tương truyền rằng, Mẫu bà rất yêu quý, thường cho Cô Tư kề cận bên mình. Vậy nên đúng như các tư liệu ghi lại thì chính xác là Cô Tư hầu cận Mẫu Thượng Ngàn chứ không phải cô hầu cận Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai như chúng ta vẫn thường nghĩ. Ngoài ra Cô Tư còn có một danh hiệu khác là Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ. Qua ước đoán, có thể suy ra rằng danh hiệu này là do Cô Tư đã từng giáng hiện tại đất Tây Hồ, Hà Nội rong chơi, và điển hình nhất là hiện nay vẫn có ban thờ Cô Tư tại đình Tứ Liên; một ngôi đình cổ nằm ở gần Phủ Tây Hồ, Hà Nội.
Trong hàng Tứ Phủ Tiên Cô, Cô Tư Ỷ La thường hiếm khi thấy ngự về đồng nên nếu nói về y phục cũng như cung cách khi hầu giá Cô Tư hiện giờ là rất khó. Tuy nhiên theo phỏng đoán của người viết thì có thể khi hầu giá Cô Tư Ỷ La thường mặc xiêm áo màu vàng nhạt, cô có thể khai cuông và múa mồi hầu Mẫu (đây chỉ là ý kiến cá nhân đưa ra để mọi người tham khảo). Hiện nay Cô Tư vẫn được coi là thờ chính cung hầu Mẫu Thượng Ngàn trong đền Mẫu Ỷ La thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, như đã nói ở trên, Cô Tư còn được thờ vọng trong Đình Tứ Liên ( xưa gọi là Đình làng Ngoại Châu), phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Khi các thanh đồng hầu tráng mạn đến giá Cô Tư,


5. Cô Năm Suối Lân


Cô Năm Suối Lân vốn là tiên nữ trên trời, theo lệnh cô giáng trần là người thiếu nữ dân tộc Nùng ở xứ Lạng. Có tích lại kể rằng Cô Năm là người thị nữ thân cận bên Chầu Năm Suối Lân ( lúc sinh thời khi chầu còn là công chúa) nên cô cũng được tôn hiệu là Cô Năm Suối Lân hay Cô Năm Sông Hoá. Sau này được sắc phong hiển thánh, Cô Năm vẫn được coi là tiên cô kề cận bên cửa Chầu Năm, cô được coi là tiên cô trông giữ bản đền Suối Lân. Ngoài ra cô còn được coi là vị thánh trấn tại cửa rừng Suối Lân (cung rừng này một cửa vào là cửa Suối Lân do Cô Năm Suối Lân trấn giữ, cửa ra là cửa Thất Khê do Cô Bé Đèo Kẻng trấn giữ), vậy nên, ai đi chiêm bái trên đất Lạng đều phải qua bái yết cửa Chầu Năm và Cô Năm Suối Lân. Dòng Suối Lân do Cô Năm cai quản bốn mùa trong xanh, nước thông về sông Hoá, tương truyền rằng đây là dòng suối thiêng của cô, nước suối xanh mát bốn mùa không bao giờ cạn, nếu ai có bệnh tật đến xin nước suối cửa cô, uống vào sẽ thuyên giảm, nhược bằng, người nào không biết mà xuống suối tắm hay rửa chân tay, làm ô uế dòng suối của cô sẽ bị cô hành cho sốt nóng mê sảng. Phép anh linh của Cô Năm Suối Lân còn được biết qua việc nếu có kẻ nào báng nhạo cô sẽ “xát lá han” làm cho kẻ đó luôn ngứa ngáy không yên, rồi cô cho đi lạc đường rừng.
Trong hàng thánh cô, thường thấy Cô Năm Suối Lân ít khi ngự đồng hơn Cô Sáu Lục Cung, thường chỉ người nào có sát căn quả về cửa Cô Năm hoặc khi về đền Suối Lân thì có thấy thỉnh bóng Cô Năm ngự đồng. Khi hầu về giá Cô Năm Suối Lân, thường người ta mặc xiêm y như màu áo của Chầu Năm (nhưng là áo ngắn vạt), đó có thể là màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá cây, cô chít khăn củ ấu, bên mình có túi vóc, dao quai. Ngự đồng cô khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay Cô Năm Suối Lân được phụng thờ là thánh cô trấn giữ cửa Suối Lân Sông Hoá, cung thờ cô được đặt cạnh ngay đền chính của cửa Chầu Năm Suối Lân (huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn).


6. Cô Sáu Lục Cung, Cô Sáu Sơn Trang


Cô Sáu Lục Cung cũng vốn là thánh cô nguyên tích là người Nùng ở đất Hữu Lũng, Lạng Sơn. Có thuyết thì nói rằng Cô Sáu là tiên cô kề cận bên cửa Chúa Thượng Ngàn ở đất Trang Châu (chưa xác định rõ), còn lại đa phần đều thống nhất rằng Cô Sáu là người kề cận Chầu Lục Cung Nương nên cô mới được gọi là Cô Sáu Lục Cung hay còn có danh khác là Cô Sáu Sơn Trang. Khi nhân dân lập đền thờ phụng Chầu Bà, vẫn thỉnh Cô Sáu là cô trấn bản đền Lục Cung. Ngoài ra, theo một số tích cũ kể lại, Cô Sáu Lục Cung sinh thời là người con gái xinh đẹp nết na, lại có tài chữa bệnh, cô thường đi khắp rừng sâu núi thẳm để hái thuốc cứu người vậy nên khi hiển thánh, Cô Sáu vẫn thường được muôn dân tôn là tiên cô có tài chữa bệnh cứu người, dân chúng khắp nơi về cửa cô để xin thuốc tiên trị bệnh. Cô Sáu Sơn Trang cũng nổi tiếng đành hanh trên đời, nghiêm khắc trừng trị kẻ nào nhạo báng cửa cô.


Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Sáu Lục Cung rất hay về ngự đồng. Các thanh đồng đạo quan thường thỉnh bóng Cô Sáu Sơn Trang ngự đồng không chỉ có khi về đền Lục Cung, về đất Lạng Sơn mà cả khi khai đàn mở phủ hay trong cả những dịp hầu vui, đón tiệc tiên thánh. Cô Sáu ngự đồng thường mặc áo lam hoặc áo tím chàm (ngắn vạt rộng tay). Cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi như các tiên cô trên Thượng Ngàn khác. Hiện nay Cô Sáu Lục Cung chính là thánh cô trấn giữ bản đền Lục Cung Chín Tư, cung thờ cô được xây ngay cạnh chính cung đền Chầu Lục Cung Nương (Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn).
(Mời các bạn click vào đường link này Đền Cô Sáu Lục Cung để xem thêm về Cô Sáu Lục Cung)


7. Cô Bảy Tân La, Cô Bảy Kim Giao, Cô Bảy Mỏ Bạch



Cô Bảy Kim Giao còn gọi là Cô Bảy Mỏ Bạch. Cô vốn cũng là một tiên cô người dân tộc Mọi ở đền Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên. Theo một số tích nói rằng cô cũng là người kề cận bên Chầu Bảy nên cũng được gọi là Cô Bảy Kim Giao hay còn có hiệu khác là Cô Bảy Tân La ( khi cô được theo hầu cận Chầu Bảy tại đền Tân La). Tương truyền rằng cô cũng là vị thánh cô có công giúp người dân Mọi biết trồng trọt chăn nuôi rồi cô cũng có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Vậy theo một số tài liệu thì chính xác Cô Bảy là Cô Bảy Kim Giao hay Cô Bảy Tân La (theo hầu Chầu Bảy Kim Giao) chứ không phải là Cô Bảy Tân An (theo hầu Ông Bảy Bảo Hà ) như một số người vẫn nói. Còn có sự tích nói rằng, đêm đêm cô thường hội họp cùng các bạn tiên nàng, mắc võng đào giữa hai cây kim giao rồi cùng đàn hát.


Trong hội đồng Thánh Cô, Cô Bảy Kim Giao là một trong số các cô ít khi ngự đồng nếu không nói là hầu như không thấy. Vậy nên nếu để nói đến y phục và cung cách hầu giá Cô Bảy là rất khó, theo phỏng đoán của người viết thì có thể giá Cô Bảy Kim Giao mặc áo tím hoặc chàm xanh, cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay, Cô Bảy vẫn được thờ làm cô bản đền tại chính cung Đền Kim Giao (Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên) và còn cả tại đền Tân La ( Dốc Lã, Bảo Khê, Hưng Yên). Khi hầu tráng mạn đến giá Cô Bảy Kim Giao


8. Cô Tám Đồi Chè


Có một số ý kiến thống nhất rằng: Cô Tám Đồi Chè giáng sinh dưới thời Lê Thái Tổ dấy binh khởi nghĩa, cô là người thiếu nữ trồng hái búp chè tại vùng Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hoá. Cô cũng có công giúp vua trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm nên khi thác hoá về trời, cô được phong công lập đền thờ, trấn giữ một bên bến song Đò Lèn, Phong Mục. Cô sinh thời là người con gái đảm đang nết na tần tảo, hái búp chè xanh trên đồi thường dung làm thuốc chữa bệnh nên mọi người thường tôn hiệu là Cô Tám Đồi Chè. Khi thanh nhàn, cô thường đủng đỉnh dạo chơi khắp vùng Hà Trung, Thanh Hoá, cũng có khi cô hiện hình bẻ lái con thuyền độc mộc trên dòng sông Mã.
Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Tám Đồi Chè hiếm khi về ngự đồng, chỉ có người nào sát về Cô Tám hoặc khi hầu đón tiệc tháng 6 tại các đền ở vùng Thanh Hoá. Cô Tám Đồi Chè ngự đồng thường mặc áo xanh quầy đen ( có nơi là áo tím hoa cà ) . Cô Tám cũng khai quang sau đó múa mồi, sau đó thường là múa tay tiên các điệu như người đi hái chè trên non. Hiện nay đền thờ Cô Tám Đồi Chè được thờ riêng tại đền cô thuộc đất Phong Mục, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, nếu đi từ đền Cô Bơ sang thì qua đò Lèn, đền cô rất khang trang nhưng ít người biết tới.


9. Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín Thượng Ngàn


Đền Cô Chín Sòng Sơn tại Phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Nếu từ Hà Nội về Thanh Hóa thì đền Mẫu Sòng nằm ở bên phải đường thì đền Cô Chín Sòng nằm bên trái. Hai đền chỉ cách nhau khoảng 500 m.
Tương truyền, Cô Chín là hầu cận của Chầu Cửu, Mẫu Cửu. Có tài liệu cho rằng Cô Chín là hầu cận của Mẫu Thoải.
Theo truyền thuyêt, Cô Chín Sòng Sơn vốn là một tiên nữ trên Thiên Đình, có một lần vô tình đánh vỡ một chén ngọc nên Ngọc Hoàng giáng xuống hạ giới để theo hầu Mẫu Liễu Hạnh. Khi được giáng trần Cô đã bôn ba bốn phương khắp ngả trời Nam, sau về đến đất Thanh Hóa thấy cảnh lạ vô biên, cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát, lấy gỗ cây sung làm nhà, còn cây si mắc võng. Nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ. Có lẽ vì vậy, người ta sau này hay dâng Cô Chín võng đào.
Hiện chưa thấy tài liệu nào là cô giáng sinh vào một nhân vật nào trên trần gian. Như vậy, thân thế của Cô nghiêng về phía thiên thần.
Cô Chín Sòng Sơn là một thánh cô có nhiều quyền phép. Những người có căn Cô Chín thường có khả năng xem bói, chữa bệnh và gọi hồn. Tuy nhiên, trong khi giáng hầu Cô Chín chỉ hay cho thuốc chữa bênh.
Cô Chín rất hay ngự đồng. Hết các thanh đồng khi Hầu Thánh đều có hầu giá Cô Chín. Khi giáng hầu Cô Chín thường mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai và cô múa quạt tiến Mẫu. Đôi khi Cô cũng múa cờ tiến Vua, cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa, rồi lại múa cánh tiên. Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật: Nón đỏ, hài hoa, vòng hồng hay võng đào.
Có lẽ Cô Chín là một Thánh Cô nổi tiếng nhất trong các Thánh Cô nên hầu hết các đền, phủ đều có thờ Cô. Tại các đền phủ, Cô Chín có thể có ban thờ riêng hoặc thờ chung với Cô Bơ hoặc thờ chung trong Cung Tứ Phủ Thánh Cô; hoặc Cô được thờ ở một Lầu Cô riêng biệt: Cung Cô Chín đền Mẫu Sòng Sơn, cung Cô Chín Phủ Quảng Cung.
Cô Chín ngoài thờ chính tại Đền Cô Chín Sòng Sơn còn có các đền Cô Chín Thượng Bắc Giang, Đền Cô Chín Suối Rồng, đền Cô Chín Tây Thiên....


10. Cô Mười Mỏ Ba ( hay Cô Mười Đồng Mỏ)


Cô Mười Đồng Mỏ theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba, giúp vua đánh giặc Ngô, khi ngự về cô mặc áo vàng cầm cung kiếm cưỡi trên mình ngựa theo chầu bà xông pha trận mạc, sau này cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười.
Thần tích về Cô Mười hiện nay hầu như không có. Người viết chưa sưu tầm được thêm.


11. Cô Bé Thượng Ngàn


Cô Bé Thượng Ngàn là Tiên Cô mà tên gọi thường được đặt theo tên các địa danh, các đền thờ. Các vị cô bé đều là những bộ nàng trên Tòa Sơn Trang, hầu Mẫu Thượng Ngàn, có rất nhiều cô bé trên khắp các cửa rừng lớn nhỏ. Các cô về mặc quần áo thổ cẩm, chân quấn xà cạp, đeo kiềng bạc, tay cầm ô, vai đeo gùi. Các cô bé gồm:
Cô Bé Thượng Ngàn (Thị Xã Lạng Sơn)
Đây là nơi thờ chính cung của Cô bé Thượng Ngàn. Ngôi đền nằm ngay sát sông Kỳ Cùng.
Cô Bé Suối Ngang (Hữu Lũng)
Đây là ngôi đền nằm trong rừng thuộc xã Phố Vị, huyện Hữu Lũng. Hiện chưa tìm được thần tích của Cô.
Cô Bé Đông Cuông (Yên Bái)
Đây là ngôi đền nằm ngay đường vào đền Mẫu Đông Cuông, chỉ cách đền Mẫu khoảng vài trăm mét. Thần tích của Cô chưa rõ ràng lắm. Tuy nhiên theo văn hầu của Cô thì:
Đông Cuông chính là nơi chôn rau, cắt rốn của Cô:
Đông Cuông chính quán quê nhà
Thiên thai cảnh đẹp 1 tòa Sơn Trang
Mặc dù cô xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc:
Vốn dòng đài các trâm oanh
Ra tay giáo hoá Cứu người giúp dân
Nhưng sinh thời và sau khi hiển thánh, cô là một cô bé nhu mì, thùy mị,đảm đang và hay đàn, hay hát:
Mẫu khen cô bé nhu mì
Nết na thùy mị dịu dàng đảm đang
.......
Ngồi trên đỉnh núi ngắm trăng
Tay cô gảy khúc cung ngâm dịu dàng
Tuy vậy, cô làm việc lại hết sức rõ ràng, phân minh nhưng cũng rất quảng đại. Có tội cô xử, nhưng biết tội, cô tha. Nếu sống nhân, bất nghĩa cô sẽ trừng phạt liền:
Ai mà độc ác bất nhân
Cô liền hóa phép cho thời khốn thay
Biết ra phải tới kêu ngay
Cô cho nước thánh thuốc tiên khỏi liền
Cứu người nửa dại nửa điên
Hiếu thuận thảo hiền cô mới độ cho
Cô hầu cận Mẫu Đông Cuông và luôn tấu đối với Mẫu để ban tài, ban lộc cho các thanh đồng và con nhang, đệ tử
Ban tài tiếp lộc cho đồng
Cô về tấu đối Thánh Bà Đông Cuông
Lộc tài vượng tiến công danh
Lộc cô vô số trên kho thượng ngàn
Cô Bé Chí Mìu:
Đền Cô Bé Chí Mìu nằm ở bản Chí Mìu, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Cô bé Chí Mìu là Cô Bé Thượng Ngàn, do đền Cô nằm ở bản Chí Mìu nên mọi người đều gọi cô theo tên địa danh của đền là Cô Bé Chí Mìu. Cô Bé Chí Mìu được coi là một Cô Bé Thượng Ngàn nổi tiếng nhất tron các cô bé Thượng Ngàn.
Cô Bé Tân An (Lào Cai): Từ rất xa xưa, bên bờ sông Hồng tại thôn Tân An 2 thuộc xã Tân An, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, đã có một ngôi Đền gọi là Đền Cô Tân An (còn gọi là Đền Cô Bé Thượng Ngàn), là nơi thờ tự một nữ chúa có tên húy là Hoàng Bà Xa, tương truyền đã cùng cha là đức quan ngài Hoàng Bảy, có công chinh phạt giặc ác, giữ yên bờ cõi, được cư dân vùng Bảo Hà và Khau Ban (địa danh Văn Bàn cổ xưa) suy tôn là vị Thánh Mẫu. Đối diện bên kia sông là đền Bảo Hà (huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai)- thờ Đức quan ngài Hoàng Bảy. Vì Nguyễn Hoàng Bà Xa là con gái Quan Hoàng Bảy được thờ ở Tân An nên Cô còn được gọi là Cô Bảy Tân An.
Cô Bé Cây Xanh (Bắc Giang)
Cô Bé Cây Xanh theo hầu Mẫu Thượng Ngàn với hiện thân là Quế Mỵ Nương Công chúa. Mỵ Nương Công Chúa là hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn tại vùng Suối Mỡ. Hiện chưa tìm được thần tích về Cô Bé Cây Xanh ở đây.
Để xem chi tiết về cô bé Cây Xanh Bắc Giang các bạn click vào đường link dưới đây:
Cô Bé cây Xanh - Bắc Giang
Cô Bé Cây Xanh ( Tuyên Quang)
Cô Bé Cây Xanh là người hầu cận mẫu Thượng Ngàn tại bản đền Cây Xanh Tuyên quang. Ngôi đền này còn có tên là Đề Cảnh Xanh. Đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn. Hiện chưa phát hiện được thần tích về Cô.
Để xem chi tiết về cô bé Cây Xanh Tuyên Quang các bạn click vào đường link dưới đây: Cô Bé cây Xanh Tuyên Quang
Cô Bé Nguyệt Hồ (Bắc Giang)
Cô bé Nguyệt Hồ được thờ tại cung cô tại Đền Nguyệt Hồ. Hiện chưa phát hiện được thần tích về Cô, chỉ biết Cô là hầu cận của Chúa Nguyệt Hồ.
Cô Bé Minh Lương (Tuyên Quang)
Truyền thuyết kể rằng, vào thời nhà Trần (thế kỷ XV), ở tổng Minh Lương, thuộc xã Lang Quán ngày nay có hai vợ chồng, ông chồng là người Dao, bà vợ là người Mường tuổi đã cao mà chưa có con. Ngày ngày ông bà ra ngòi Lịch xúc tôm tép sống lần hồi. Một hôm, ông ở nhà, bà đi xúc tép như mọi ngày, nhưng xúc mãi không được con gì mà chỉ được hai quả trứng lạ. Bực mình, bà xuống hạ nguồn rồi lên tận thượng nguồn ngòi Lịch xúc vẫn chỉ được hai quả trứng ấy. Bà đành mang về thả vào chum nước dưới cầu thang. Ít lâu sau, bà mang thai và sinh ra một cô bé bụ bẫm, đặt tên là Minh Lương. Cùng lúc đó, hai quả trứng thả trong chum nước dưới cầu thang nở ra hai con rắn. Hai con rắn và Cô bé Minh Lương cùng lớn lên, quấn quýt làm bạn với nhau.
Một buổi chiều, ông bà đi làm về và nhìn thấy hai con rắn quấn chết cô bé. Sẵn con dao rựa đeo bên người, ông tức giận rút dao vừa chém, vừa nói “Mày hại tao à”. Hai con rắn sợ quá chạy trốn, nhưng một con chậm hơn đã bị chém đứt đuôi. Ông đuổi hai con rắn và nói: “Cụt đi hang Mang, Khoang đi hang Đồng”.
Ông bà xót thương cô bé, không nỡ chôn, nên đặt cô nằm ở trên sàn. Đến sáng đã thấy mối đùn lên đắp mộ cho cô bé. Dân làng thấy vậy đều cho là cô đã linh hoá nên lập miếu thờ. Thời kỳ giặc Cờ đen, cô bé Minh Lương đã hiển linh giúp quan quân triều đình thoát khỏi rừng rậm, sau đó dũng mãnh dẹp sạch giặc Cờ đen. Sau đó Cô còn hiển linh bốc thuốc, giúp dân chữa bệnh thoát cơn hiểm nghèo.
Cô Bé Thác Bờ (Hòa Bình)
Cô bé Thác Bờ được thờ ở đền Chúa Thác Bờ Vầy Nưa, Đà Bắc, Hòa Bình. Cô bé Thác Bờ tương truyền là hầu cận của Chúa Thác Bờ. Hiện chưa tìm được thần tích về Cô bé nơi đây.
Cô Bé Sóc (Miền Nam)
Còn gọi là Cô Bé Đen, mặc khăn áo đen và hồng. Về đồng múa mồi, dùng nhang chữa bệnh. Cô đánh phấn màu đen, phấn đỏ cô để ban khen cho thanh đông cô. Hay về đồng tại Miền Nam.
Cô Bé Mỏ Than( Tuyên Quang)
Truyện chuyền miệng kể rằng : Thần Kim Quy thấy mỏ quý của vua cha mẫu mẹ tại đền Mỏ Than. Đã rủ cá Kình ở biển Đông về cùng nhau mang hết mỏ quý ra vùng Nam Hải khi đất ở đây chỉ còn là giữa núi và biển, cá Kình đứng gác bên ngoài, thần Kim Quy xuống hang và khi lên tới gần miệng hang thì ông Cóc (ở gần miếu Sơn Thần) đã nghiến răng báo lên thiên đình cho Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngọc Hoàng củ cô Mười xuống. Cô bé cưỡi trên lưng hai con rồng bay xuống thấy khoảng trời u ám có khí lạnh bay lên. Cô nhảy vội xuống với hai vết chân chẹn lên thần Kim Quy, vết chân phải trượt gót mờ, bàn chân trái đè oằn cổ rùa. Bắt rùa hoá đá (Bách gia trăm họ gọi là quy trị bản đền) thần Kim Quy hoá đá thì cà Kình ở biển Đông cũng hoá đá. (Tất cả các cảnh quan của đền quay về nơi phật ngự phương tây riêng có cá Kình quay về phía Đông Bắc). Nhờ Cô Bé Mỏ mà bách gia trăm họ vẫn còn “mỏ tụ đồng” xưa. Đến Pháp tìm ra mỏ than hay còn gọi là vàng đen của đất nước. Hiện nay còn nuôi dưỡng mỏ kim cương non. Cho nên ở chính nơi đây còn tồn tại truyền thuyết Cô Bé Mỏ Than (hay Cô Bé Mỏ Cây Xanh). Cô bắt ông Ba Mươi phủ phục bên mình, cô xin vua cha mẫu mẹ cho cây xanh bao bọc lấy mỏ và bốn mùa toả bóng mát cho cô hoàn thành việc cha việc mẹ. Ngoài ra cô còn chữa bệnh cho bách gia trăm họ. Nhất là những người dở dại dở điên. Những lúc thư nhàn cô gọi đàn chim ngũ sắc về vây quanh ca hát, lúc đi lúc về cổ thường mang sắc thái màu vàng với âm thanh của tiếng chim vàng anh báo biến, báo hiện. Khi cô đi xa cô thường để lại đôi dải thắt lưng màu đen ở lại (đôi long xà có mào) để giữ đền giữ phủ. Người ta truyền rằng ai nhìn thấy ông rắn có mào là người đó được lên danh lên giá. Nhưng người đó phải là người thực tâm không có tâm tà. Xưa những người đàn bà bụng mang dạ chửa phải đi vòng qua cửa cô cách nữa dặm. bất kể ai qua nơi cô ngự đều phải bỏ nón mũ xin cô thực tâm cô phù hộ. Tà tâm cô cho náo loạn gia trung.


12. Cô Bé Thoải Cung


Cô ngự ở dưới tòa Thoải Cung, Cô rất xinh đẹp, tài giỏi, có thể hô mưa gọi gió... Thần tích về cô hiện chưa sưu tầm được và cũng rõ những nơi nào thờ cô.

Hệ thống thần linh Tứ Phủ: danh hiệu và hàng vị




Hệ thống thần linh Tứ Phủ: danh hiệu và hàng vị


Tín ngưỡng Tứ Phủ là tín ngưỡng dân gian thuần Việt đã có lịch sử hình thành, phát triển hơn nghìn năm tại Việt Nam. Tục thờ hệ thống thần linh Tứ Phủ thể hiện đặc sắc đời sống tâm linh của người Việt xưa và nay, là một nét đẹp văn hóa tinh thần đặc trưng riêng có của dân tộc. Để có cái nhìn toàn diện và chi tiết về tín ngưỡng tâm linh phủ khắp đời sống nhân dân đất Việt, sau đây Oản Cô Tâm sẽ hệ thống toàn bộ các vị thần linh Tứ Phủ bao gồm hàng vị và vai trò của từng vị thánh.




“Tín ngưỡng thờ Mẫu” và “Tín ngưỡng Tam Tứ Phủ” có giống nhau?

Theo quan điểm của tác giả cuốn sách “Tín ngưỡng Tam Tứ Phủ và thờ thánh ở Việt Nam”, rất nhiều người thường hay nhầm lẫn về hai khái niệm này. Về cơ bản “Tín ngưỡng thờ Mẫu” và “Tín ngưỡng Tam Tứ Phủ” có phần giống nhau nhưng, tín ngưỡng thờ Mẫu có phần rộng hơn.



Cụ thể, lớp tín ngưỡng thờ Mẫu phủ rộng khắp miền Bắc Trung Nam Việt Nam, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.

Tại miền Bắc, bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số nữ thần được cung đình hóa và lịch sử hóa để trở thành các Mẫu thần tương ứng thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của triều đình phong kiến với danh xưng như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu,…

Từ thế kỷ 15 trở đi, hình thức thờ mẫu Tam Tứ Phủ được định hình và phát triển với sự xuất hiện của thánh mẫu Liễu Hạnh, mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, … cùng các vị thánh khác thuộc hệ thống thần linh Tứ Phủ.

Ở Trung Bộ, hình thức thờ Mẫu thể hiện qua hình thức thờ Nữ thần và mẫu thần như Tứ Vị Thánh Nương, Bà Ngũ Hành, Thiên Y A Na.

Ở Nam Bộ, tục thờ Mẫu thần và Nữ thần ít rõ ràng hơn với các vị thần được thờ phụng như Bà Ngũ Hành, Tứ Vị Thánh Nương, Bà Chúa Lộc, Bà Tổ Cô, …

Ngoài ra, không giống tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng Tam Tứ Phủ còn thờ các nam thần khác như các vị vua cha, ông hoàng, quan hoàng, thánh cậu, … Sự xen kẽ số lượng nam thần với số lượng nữ thần đồng đều cho thấy Tam Tứ Phủ có sự đồng đều, hài hòa về âm và dương.

Như vậy, với hệ thống các vị thần linh được thờ tự tại thần điện Việt Nam, gọi là Tín ngưỡng Tam Tứ Phủ hay Tứ Phủ có phần chính xác hơn.

Vậy cụ thể hệ thống các vị thần linh bao gồm những ai? Bạn đọc cùng theo dõi trong nội dung sau đây.


1. Bồ Tát


Nhiều người thường cho rằng Tứ Phủ Vạn Linh hoàn toàn không liên quan đến Đạo Phật. Trái ngược lại, Đạo Phật lại có vị trí quan trọng trong hệ thống Tứ Phủ. Thường thấy tại các ngôi đền thuộc Tứ Phủ thường đặt tượng thờ Bồ Tát thờ tự, cung kính. Ngoài ra trong các bài văn khấn Tứ Phủ cũng thỉnh đến Bồ Tát.



Khi dâng lễ Bồ Tát nên chuẩn bị thức lễ chay, nếu có hoa thì nên là những loại hoa có màu sắc trang nhã như hoa huệ, hoa sen, …



2. Đức Vua Cha

Đức Vua Cha là những vị thần đứng đầu bốn miền: Trời – Đất – Núi – Nước trong vũ trụ. Các ngài có quyền năng tối linh, ra lệnh cho các vị thần khác. Các ngài có đền thờ riêng. Tại các ngôi đền khác, ngài có ban thờ riêng nhưng không phải tại vị trí cao nhất. Bởi vị trí cao nhất, theo quan niệm thờ tự tại đền điện Việt Nam, thì vị trí này là hậu cung luôn là nơi thờ Tam tòa Thánh Mẫu.

Các vị Đức Vua Cha đại thánh bao gồm:

Vua Cha Thiên Phủ (vùng trời) – Danh hiệu: Ngọc Hoàng Thượng Đế – Màu sắc đại điện: màu vàng
Vua Cha Thủy Phủ (vùng sông nước) – Danh hiệu: Vua Cha Thủy Quốc Động Đình – Màu sắc đại diện: màu trắng.
Vua Cha Nhạc Phủ (vùng rừng núi) – Danh hiệu: Đức Thánh Tản Viên, Tản Viên Sơn Thánh – Màu sắc đại diện: màu xanh.
Vua Cha Địa Phủ (vùng đất): hiện chưa có tài liệu nào ghi chép về vị thánh nắm giữ ngôi vị này trong tín ngưỡng Tứ Phủ.

3. Thánh Mẫu


Thánh Mẫu bao gồm 4 vị thánh mẫu có quyền phép tối cao theo Tứ Phủ Vạn Linh và 3 vị thánh mẫu hay Tam Tòa Thánh Mẫu theo Công đồng Tam Phủ. Giống như Đức Vua Cha, mỗi vị thánh mẫu mang quyền phép phụ trách mỗi vùng riêng biệt gồm vùng trời, núi rừng, vùng nước và vùng đất. Tại các ngôi đền trên đất Bắc, Tam Tòa Thánh Mẫu được thờ tự phổ biến và được đặt tại vị trí cao nhất và cung kính nhất tại cấm cung hay hậu cung. Các mẫu thường có có các thánh cô theo hầu và giúp việc (Tứ Phủ Thánh Cô sẽ được nêu ở mục sau). Nếu dâng lễ hay hầu thánh mẫu thường có nhiều quy tắc phức tạp hơn những vị thánh khác. Bạn đọc tham khảo cụ thể tại mỗi bài đọc viết chi tiết về mỗi vị thánh mẫu.

Tứ Phủ Thánh Mẫu bao gồm các vị:

  • Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên (Thiên Phủ) – Danh hiệu: Thanh Vân Công Chúa – Màu sắc: màu xanh hoặc màu đỏ, màu hồng.
  • Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên (Địa phủ) – Danh hiệu: Liễu Hạnh Công Chúa – Màu sắc: màu đỏ
  • Mẫu Đệ Tam Thủy Cung (Thoải phủ) – Danh hiệu: Xích Lân Công Chúa – Màu sắc: màu trắng
  • Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Sơn Lâm Công Chúa – Màu sắc: màu xanh

Tam Tòa Thánh Mẫu là 3 trong 4 vị thánh mẫu trên gồm:
  • Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên (Thiên Phủ) – Danh hiệu: Liễu Hạnh Công Chúa – Màu sắc: màu đỏ
  • Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: La Bình Công Chúa – Màu sắc: màu xanh
  • Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ (Thoải Phủ) – Danh hiệu: Xích Lân Công Chúa – Màu sắc: màu trắng

4. Hội đồng Quan Lớn

“Năm dinh quan lớn, mười dinh các quan” là câu văn khấn để thỉnh hội đồng quan lớn bao gồm 10 vị tôn quan có công giúp Vua Cha Bát Hải Động Đình đánh giặc ngoại xâm thời vua Hùng Vương thứ 18. Các ngài thay mặt Mẫu cai quản 4 cõi Thiên Địa Thủy Nhạc.

Tuy nhiên, trong hệ thống thần linh Tam Tứ Phủ lại chia ra các vị thuộc Ngũ Vị Tôn Quan và các vị thuộc Lục Phủ Tôn Ông. Có thể bởi tại một số bản thần tích nói rằng Ngũ Vị Tôn Ông là con của Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng hạ cùng một lúc vào nước Nam làm 5 trong 10 vị tướng của Vua Cha Bát Hải Động Đình để giúp Vua Cha đánh thắng giặc ngoại xâm trên 8 cửa biển thời Hùng Vương thứ 18.

Còn 5 vị tướng còn lại của Vua Cha Bát Hải Động Đình được xếp vào hàng Lục Phủ Tôn Ông, từ quan đệ Lục đến Quan Đệ Thập và ít được thờ tại các đền thờ thuộc Tứ Phủ. Trong đó, Quan Điều Thất và Quan Triệu Tường thường hay được thỉnh về đồng sau hàng Ngũ Vị Tôn Quan.

4.1 Ngũ Vị Tôn Quan

1. Đệ Nhất Tôn Quan quyền cai Thiên Phủ – Danh hiệu: Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên, Đệ Nhất Tôn Ông, Đức Thánh Cả – Màu sắc đại diện: Màu đỏ

2. Đệ Nhị Tôn Quan quyền cai rừng núi Lâm Cung – Danh hiệu: Quan Thanh Tra Giám Sát, Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn – Màu sắc đại điện: màu xanh lá.

3. Đệ Tam Tôn Quan quản cai miền sông nước – Danh hiệu: Quan Lớn Đệ Tam – Màu sắc đại điện: màu trắng.

4. Đệ Tứ Tôn Quan quyền cai đất bằng – Danh hiệu: Quan Đệ Tứ Khâm Sai quyền cai Tứ Phủ – Màu sắc đại diện: màu vàng.

5. Đệ Ngũ Tôn Quan quản cai Sông Tranh – Danh hiệu Quan Lớn Tuần Tranh – Màu sắc đại diện: màu lam, xanh nhạt hoặc tím than.
4.2 Lục Phủ Tôn Ông

6. Quan Lớn Đệ Lục – Màu sắc đại diện: màu đỏ.

7. Quan Lớn Đệ Thất – Danh hiệu: Quan Điều Thất – Màu sắc đại diện: màu đỏ

8. Quan Lớn Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm – Màu sắc đại diện: màu vàng.

9. Quan Lớn Đệ Thập Triệu Tường – Danh hiệu: Quan Hoàng Triệu – Màu sắc đại diện: màu vàng.

5. Quan Nam Tào – Bắc Đẩu


Quan Nam Tào – Bắc Đẩu là các vị thần trông coi các ngôi sao trong hai chòm sao Nam Tào và Bắc Đẩu. Các ngài không xuất hiện trong nghi thức hầu đồng và cũng không có đền thờ riêng. Tuy nhiên, các ngài được phối thờ tại nhiều đền điện thuộc hệ thống thần linh Tứ Phủ và hiện chưa có màu sắc đại diện.

1. Quan Nam Tào

2. Quan Bắc Đẩu

6. Nhị Vị Quỳnh Quế Công Chúa

Quỳnh Hoa Công Chúa và Quế Hoa Công Chúa là hai vị hầu cận Mẫu Thượng Thiên hay Tam Tòa thánh mẫu được gọi chung là Nhị vị Quỳnh Quế Công Chúa.

“Ban cho chúa ở chầu bà Liễu tiên

Vâng lệnh truyền sớm trưa chầu trực”

Tuy nhiên, trong nghi thức hầu đồng hiện nay không có các giá Chầu Quỳnh Chầu Quế.

7. Thập Nhị Vị Chầu Bà

Thập nhị vị Chầu Bà còn được nhân gian gọi là thập nhị Tiên nương. Đây là hàng vị gồm mười hai vị chầu bà cai quản khắp vùng bốn phương tám hướng trải từ vùng rừng đến vùng nước. Các vị đều được coi là hóa thân, người phục vụ trực tiếp của Tứ Vị Thánh Mẫu. Nhân dân thường coi Tứ Vị Chầu Bà là đại diện cho thần linh Tứ Phủ. Dù vậy, số lượng các vị thánh mẫu tăng lên con số 12.

Một số vị Chầu Bà thường về giáng đồng nên được con nhang đệ tử biết rõ về thần tích, rõ ràng về nơi thờ tự riêng. Một số Chầu Bà thì bị hạn chế về mặt thông tin tìm hiểu.

Hệ thống Thập Nhị Vị Chầu Bà gồm:

  • Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (Thiên phủ) – Màu sắc đại diện: màu đỏ
  • Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Ngôi Kiều Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu xanh
  • Chầu Đệ Tam Thoải Phủ (Thoải Phủ) – Danh hiệu: Thủy Điện Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu trắng.
  • Chầu Đệ Tứ Khâm Sai (Địa phủ) – Danh hiệu: Chiêu Dung Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu vàng.
  • Chầu Năm Suối Lân (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Suối Lân Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu xanh lam hoặc xanh thiên thanh.
  • Chầu Lục Cung Nương (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Lục Cung Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu lam.
  • Chầu Bảy Kim Giao (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Tân La Công Chúa. Màu sắc đại diện: màu tím hoặc xanh.
  • Chầu Tám Bát Nàn (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Nữ Tướng Bát Nàn – Màu sắc đại diện: màu vàng.
  • Chầu Chín Cửu Tỉnh – Màu sắc đại diện: màu đỏ (một số nơi là màu hồng)
  • Chầu Mười Đồng Mỏ (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Nữ Tướng Đồng Mỏ Chi Lăng – Màu sắc đại diện: màu vàng.
  • Chầu Bé Bắc Lệ (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Bắc Lệ Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu đen hoặc xanh chàm.
  • Chầu Bản Đền – Danh hiệu: Thủ Điện Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu hồng, màu xanh hoặc màu trắng.

8. Thập Vị Ông Hoàng

Dưới hàng Chầu Bà là Thập Vị Ông Hoàng. Thập vị Ông Hoàng đều có gốc tích là con trai Vua Cha Bát Hải Động Đình, tuy nhiên các thần tích Thập Vị Ông Hoàng thường được địa phương hóa mà gắn với một nhân vật lịch sử thường là các danh tướng có công dẹp loạn cứu nước, đóng góp vào công cuộc khai sáng, mở mang đất nước, giúp đỡ nhân dân ổn định cuộc sống. Trong số 10 ông thì có ba ông thường về giáng đồng gồm Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bẩy, Ông Hoàng Mười. Bởi vậy, đây cũng là ba ông hoàng được nhân dân biết đến nhiều hơn cả so với các Ông Hoàng còn lại.
  • Ông Hoàng Cả (Thiên Phủ) – Danh hiệu Ông Hoàng Quận/ Lê Lợi – Màu sắc đại diện: màu đỏ.
  • Ông Hoàng Đôi (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh lá.
  • Ông Hoàng Bơ (Thoải Phủ) – Màu sắc đại diện: màu trắng.
  • Ông Hoàng Tư (Địa Phủ) – Danh hiệu: Ông Hoàng Khâm Sai – Màu sắc đại diện: màu vàng.
  • Ông Hoàng Năm – Màu sắc đại diện: màu xanh ngọc
  • Ông Hoàng Lục – Màu sắc đại diện: màu đỏ, hoặc đen hoặc xanh.
  • Ông Hoàng Bảy (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Ông Bảo Hà, Ông Hoàng Bảy Bảo Hà – Màu sắc đại diện: màu lam hoặc tím chàm.
  • Ông Hoàng Bát (Thoải Phủ) – Bao gồm 2 vị là Ông Hoàng Bắc Quốc mặc áo vest kiểu Tàu và Ông Hoàng Bát Nùng mặc áo vàng khi ngự đồng.
  • Ông Hoàng Chín (Thiên Phủ) – Danh hiệu: Ông Chín Cờn Môn hoặc Ông Chín Thượng Ngàn – Màu sắc đại diện: Ông Chín Cờn Môn – màu đen, Ông Chín Thượng Ngàn – màu xanh đỏ xen kẽ.
  • Ông Hoàng Mười (Địa Phủ) – Danh hiệu: Ông Nghệ An – Màu sắc đại diện: màu vàng.
  • Ông Hoàng Báo Đông Cuông – Màu sắc đại diện: màu vàng.

9. Bát Bộ Sơn Trang

Bát Bộ Sơn Trang là 8 vị tướng Sơn Trang hầu cận mẫu Thượng Ngàn. Con số 8 đại diện cho 8 phương trời đất. Chúa Sơn Trang ngự ở giữa tám vị đại diện cho vị thánh mẫu ở trung tâm trời đất.

Tương truyền, các vị này là 8 vị tướng phù giúp An Dương Vương giữ nước. Đồng thời các vị cũng hiển linh giúp Hai Bà Trưng và các đời vua sau này.

10. Tứ Phủ Thánh Cô

Tứ Phủ Thánh Cô là những vị thánh cô hầu cận các vị Thánh mẫu hoặc các Chầu. Người ta thường có lời tấu để cô kêu thay lạy đỡ trước cửa Thánh Mẫu để Mẫu chứng cho lòng thành của con nhang đệ tử.
  • Cô Đệ Nhất Thượng Thiên (Thiên Phủ) – Màu sắc đại diện: màu đỏ.
  • Cô Đôi Thượng Ngàn (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh lá.
  • Cô Bơ (Thoải Phủ) – Danh hiệu: Cô Bơ Thoải Phủ, Cô Bơ Bông, Cô Bơ Hàn Sơn, Cô Ba Tây Hồ – Màu sắc đại diện: màu trắng.
  • Cô Tư Tây Hồ (Địa Phủ) – Màu sắc đại diện: màu vàng
  • Cô Năm Suối Lân (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá.
  • Cô Sáu Sơn Trang (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh lam hoặc tím chàm.
  • Cô Bảy Kim Giao (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu tím hoặc chàm xanh.
  • Cô Tám Đồi Chè (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh, có nơi là tím hoa cà.
  • Cô Chín Sòng Sơn (Thiên Phủ) – Màu sắc đại diện: màu hồng.
  • Cô Mười Mỏ Ba (Nhạc Phủ) hoặc Cô Mười Đồng Mỏ – Màu sắc đại diện: màu vàng
  • Cô Bé Thượng Ngàn (Nhạc Phủ) với màu áo ngự về đồng họa tiết thổ cẩm
  • Cô Bé Đông Cuông (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh
  • Cô Bé Thoải Phủ (Thoải Phủ) – Màu sắc đại diện: màu trắng

10.1 Cô Bản Đền Bản Cảnh

Cô Bản Đền Bản Cảnh là tiên cô không thuộc hàng chính thống trong hệ thống thần linh Tứ Phủ. Tại mỗi đền, người ta thường có ban thờ cô (cô bé bản đền). Danh xưng cô sẽ được đặt theo tên của ngôi đền đó. Cô được hầu đồng sau giá cô bé, y phục phụ thuộc vào từng vùng.
  • Cô Nhất Vân Đình là tiên cô bản địa vùng đất Ứng Hòa
  • Cô Cả Bắc Ninh với màu áo tứ thân màu nâu khi ngự về đồng
  • Cô Đôi Cam Đường với màu áo tứ thân màu xanh khi ngự về đồng
  • Cô Bé Sapa
  • Cô Bé Minh Lương
  • Cô Bé Thạch Bàn
  • Cô Bé Chín Tư – Cô Bé Lục Cung
  • Cô Bé Cây Xanh
  • Cô Bé Tân An
  • Cô Bé Xương Rồng – Cô Bé Xương Long
  • Cô Bé Cấm Sơn
  • Cô Bé Bắc Nga
  • Cô Bé Mỏ Than
  • Cô Bé Đen với màu áo ngự về đồng là màu đen hồng
  • Cô Bé Đèo Kẻng
  • Cô Bé Nguyệt Hồ
  • Cô Bé Đồng Đăng

11. Thập Nhị Cô Sơn Trang

Thập nhị cô sơn trang gồm 12 thánh cô theo hầu cận mẫu Thượng Ngàn. Danh xưng các cô được nhân dân gọi theo tên của từng địa phương như Cô Cả Núi Dùm, Cô Đôi Bắc Lệ, Cô Bơ Thượng Ngàn, … tất cả đều liên quan đến những vùng đất có núi non trùng điệp. Đôi khi các cô vẫn giá ngự trong các nghi thức hầu đồng và có y phục khác nhau.
  • Cô Cả Núi Dùm với màu áo ngự về đồng là màu xanh lá và khăn áo giống với Cô Đôi Cam Đường
  • Cô Đôi Bắc Lệ
  • Cô Bơ Thượng Ngàn
  • Cô Tư Ỷ La với màu áo về đồng là màu vàng nhạt hoặc màu xanh
  • Cô Năm Đồng Tiền
  • Cô Sáu Đồi Ngang
  • Cô Bảy Tuyên Quang
  • Cô Tám Thượng Ngàn
  • Cô Chín Thượng Ngàn với màu áo về đồng là màu xanh lá
  • Cô Mười Suối Ngang với màu áo ngự về đồng là màu xanh lam
  • Cô Mười Một Đồng Nhân
  • Cô Mười Hai Thượng Ngàn

12. Tứ Phủ Thánh Cậu


Tứ Phủ Thánh Cậu là các phụ tá của các Ông Hoàng. Các cậu là những người chết trẻ, từ 1 – 9 tuổi và hiển linh thành các bé Thánh. Trong các vị Thánh Cậu thì chỉ có 4 vị được cắt cử đi chấm linh nhận đồng và loan giá ngự đồng gồm Cậu Cả Thượng Thiên, Cậu Đôi Thượng Ngàn, Cậu Bơ Thoải Cung và Cậu Bé. Cậu Bơ và Cậu Bé là hai thánh cậu thường xuất hiện tại tất cả các buổi hầu đồng.
  • Cậu Hoàng Cả (Thiên Phủ) – Màu sắc đại diện: màu đỏ
  • Cậu Hoàng Đôi (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh lá
  • Cậu Hoàng Bơ (Thoải Phủ) – Màu sắc đại diện: màu trắng.
  • Cậu Hoàng Tư – Màu sắc đại diện: màu vàng
  • Cậu Quận Đồi Ngang – Màu sắc đại diện: màu đỏ
  • Cậu Bé Bản Đền (Nhạc Phủ) – Màu sắc đại diện: màu xanh.

13. Hạ Ban


Hạ Ban gồm các vị thánh là Quan Ngũ Hổ và Xà Thần. Các vị được đặt ban thờ ở phía dưới điện thờ Mẫu. Quan Ngũ Hổ và Xà Thần cũng có giá hầu nhưng phải những thầy đồng cựu có căn thật mới hầu được.
  • Quan Ngũ Hổ
  • Xà Thần

14. Hệ thống các vị Thánh phối thờ cùng Tứ Phủ

14.1 Hệ thống Mẫu Thần


  • Mẫu Thần là những vị mẫu bà được nhân dân tôn xưng, thờ phụng, lập đền thờ do có công lao lớn đối với việc cải thiện đời sống nhân dân.
  • Mẫu Đầm Đa – Danh hiệu: Quốc Mẫu Âu Cơ
  • Tứ Vị Vua Bà – Danh hiệu: Tứ vị Thánh Nương
  • Mẫu Thiên Y A Na – Nguồn gốc: nữ thần Po Nagar của người Chăm – Danh xưng: Thiên Y A Na hoặc Bà Chúa Ngọc
  • Quốc Mẫu Hoàng Thái Hậu Ỷ La – Danh hiệu: Nguyên Phi Ỷ Lan

14.2 Công đồng Trần Triều


Tín ngưỡng thờ Công Đồng Trần Triều, đứng đầu là Đức Thánh Trần, là tín ngưỡng dân gian của người Việt, được hình thành qua quá trình thánh hóa, thần hóa các nhân vật lịch sử có thật thời nhà Trần. Những người có công lớn trong cuộc kháng chiến 3 lần chống quân Nguyên Mông, giữ yên nước nhà. Trong đó, người được nhân dân ghi nhớ công ơn nhất và tôn sùng nhất đó chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trong tâm thức người dân, ông là người phù hộ cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, thời bình, ông bảo hệ quốc thái dân an, giúp nhân dân diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban tài phát lộc.

Công đồng Trần Triều gồm các vị thánh:

1. Đức Đại Vương Trần Triều – Danh hiệu: Đức Thánh Trần, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – Màu đại diện: màu đỏ

2. Vương Phụ – An Sinh Vương Trần Liễu.

3. Vương Mẫu – Thuận Thiên Hoàng Hậu và Thiên Đạo Quốc Mẫu

4. Phu nhân – Thiên Thành Công Chúa/ Nguyên Từ Quốc Mẫu

5. Tứ Vị Vương Tử
– con trai Đức Thánh Trần – Màu đại diện: màu đỏ – gồm các vị thánh:

+ Đức Thánh Cả

+ Đức Thánh Phó

+ Đức Thánh Tam

+ Đức Thánh Tứ

6. Nhị Vị Vương Cô

+ Vương Cô Đệ Nhất – Màu đại diện:màu đỏ

+ Vương Cô Đệ Nhị – Màu đại diện: màu vàng hoặc xanh lá

7. Lục Tướng Trần Triều – Màu sắc đại diện: màu đỏ

+ Phạm Ngũ Lão

+ Yết Kiêu

+ Dã Tượng

+ Nghĩa Xuyên tướng quân

+ Hùng Thắng tướng quân

+ Huyền Quang tướng quân

+ Đức Ông Tả Hữu

8. Vương Tôn


+ Cô Bé Cửa Suốt – Màu sắc đại diện: màu trắng

+ Cậu Bé Cửa Đông – Màu sắc đại diện: màu vàng hoặc trắng

9. Ngũ Hổ Đại Tướng: gần tương tự hạ ban trong hệ thống thần linh Tứ Phủ

14.3 Hệ thống Nữ Thần

Giống với Tứ Phủ Ông Hoàng, hay hệ thống Mẫu thần, các vị nữ thần được phối thờ cùng Tứ Phủ là những vị chúa bà xuất thân từ nhân dân nhưng sau này trở thành nhân vật lớn, có công lao đóng góp cho đất nước, thường góp công trong các trận chiến dẹp giặc xâm lăng tại các đời vua khác nhau được nhân dân biết ơn, cung kính và lập đền thờ cung phụng mãi về sau.
  • Chúa Đệ Nhất Tây Thiên – Danh hiệu: Tây Thiên Quốc Mẫu, Chúa Bói Đệ Nhất – Màu đại diện: màu đỏ.
  • Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ – Danh hiệu: Chúa Bói Đệ Nhị, Chúa Nguyệt Hồ – Màu sắc đại diện: màu xanh lá.
  • Chúa Đệ Tam Lâm Thao – Danh hiệu: Chúa Lâm Thao, Chúa Bói Đệ Tam – Màu sắc đại diện: màu trắng.
  • Chúa Thác Bờ Hòa Bình – Danh hiệu: Chúa Thác Bờ – Màu sắc đại diện: màu trắng.
  • Chúa Long Giao
  • Bà Chúa Cà Phê – Màu sắc đại diện: màu đen, một số ít nơi là màu xanh hoặc vàng.
  • Chúa Ba Nàng – Màu sắc đại diện màu chàm
  • Bà Chúa Tộc Mọi – Màu sắc đại diện: màu đen hoặc chàm
  • Chúa Bà Ngũ Phương – Danh hiệu: Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa, Đức Vũ Quận Quyến Hoa Công Chúa – Màu sắc đại diện: thường là màu trắng.
  • Chùa Bà Đá Đen
  • Bà Chúa Kho – Màu sắc đại diện: màu đỏ
  • Bà lớn Tuần – Danh hiệu: Lẫm Sơn Công Chúa, Lẫm Sơn Công Chúa Khâm Sai – Màu sắc đại diện: màu đỏ
  • Nữ Tướng Lê Chân
  • Công chúa Ngọc Hân
  • Lộc Hoa Công Chúa – Danh hiệu: Bà Chúa Lộc
  • Bà Chúa Vực
  • Công Chúa Lân Ngọc
  • Chúa Bà Thiên Thiên Uy Linh Công Chúa – Màu sắc đại diện: màu xanh
  • Chúa Bà Ngũ Hành – Danh hiệu: Ngũ Hành Nương Nương, 5 mẹ ngũ hành – Màu sắc: 5 màu gồm xanh, đỏ, vàng, trắng, đen.
  • Quế Nương và Thị Nương
  • Chúa Bà Thừa Thiên Công Chúa

14.4 Hệ thống Nam Thần

Hệ thống Nam thần gồm các vị thần có thần tích nghiêng nhiều yếu tố huyền huyễn thể hiện ước mơ, khao khát sức mạnh chống lại thiên tai, lũ lụt, bảo vệ cuộc sống bình yên, êm ấm của nhân dân địa phương.

  • Thần Bạch Hạc
  • Thần Độc Cước
  • Linh Lang Đại Vương
  • Thần Long Đỗ
  • Huyền Thiên Trấn Vũ
  • Hỏa Thần
  • Thần Phổ Tế và Nam Hải
  • Ông Bảy Đá Thiên

Tín ngưỡng tứ phủ



Tứ Phủ là gì

Tứ Phủ là tín ngưỡng văn hóa dân gian phi vật của Việt Nam. Hiện nay tín ngưỡng tứ phủ đã có lịch sử hình thành khoảng hơn 1000 năm.

Có nhiều thông tin cho rằng Tứ Phủ là nơi làm việc của các Quan Âm, Chư Vị Thần Linh của 4 phủ: Thiên Phủ, Địa Phủ, Thủy Phủ và Nhạc Phủ
Hệ thống tín ngưỡng thờ Thần Linh Tứ Phủ
Tín ngưỡng tứ phủ

Tín ngưỡng tứ Phủ được lưu truyền thông qua hình thức truyền miệng dân gian vì thế mỗi vùng miền sẽ có những dị bản và cách sắp xếp khác nhau.


Thông thường chúng ta thường hay bắt gặp những khái niệm về hệ thống Tứ Phủ như sau:
Tứ phủ thánh cô
Tứ phủ thánh cậu
Tứ phủ công đồng
Tứ phủ chầu bà
Tứ phủ ông hoàng
Tứ phủ thánh mẫu
Tứ phủ vạn linh

Các Thần Linh Tứ Phủ


Theo wikipeadia.org: Tứ Phủ đặc biệt là nhánh Đạo Mẫu dung hòa nhiều yếu tố của Phật giáo và Đạo giáo. vì vậy nên có một số thần phật được đưa vào thờ cúng trong thần điện Tứ Phủ, chẳng hạn như Phật Thích Ca, Quán Thế Âm, Ngọc Hoàng Thượng Đế, v.v...

Những vị thần phật này thường được thờ ở ngôi cao hơn Thánh Mẫu. Tuy nhiên, về cơ bản tín đồ thường chỉ tập trung thờ tự và sinh hoạt tín ngưỡng xoay quanh hàng Thánh Mẫu trở xuống





1. Tứ Phủ Thần Vương

Vua Cha Thiên Phủ: Ngọc Hoàng Thượng đế

Vua Cha Nhạc Phủ: Tản Viên Sơn Thánh
Vua Cha Thoải Phủ: Phu Tang Cam Lâm Đại Đế
Vua Cha Địa Phủ: không có nhiều tài liệu về Vua Cha Địa Phủ. Một số người cho rằng Vua Cha Địa Phủ là Thập Điện Diêm Vương, nhưng đúng hơn thì vua cha địa phủ là Phong Đô Đại Đế là vị có quyền cao hơn cả Thập Điện Diêm Vương

2. Thánh Mẫu

Vì nhiều lý do khác nhau mà bốn vị Thánh Mẫu của Tứ Phủ thường được gộp chung thành Tam Tòa Thánh Mẫu.

Mẫu Thượng Thiên
Mẫu Thượng Ngàn
Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ

Những lý do lý giải cho việc gộp thành Tam Tòa Thánh Mẫu bao gồm:
Thiên - Địa đồng quy: Mẫu Tiên ủy quyền đại diện trên nhân thế cho Mẫu Liễu Hạnh (tức Mẫu Địa). Mẫu Liễu Hạnh trở thành đại diện, là Thánh Mẫu Thần Chủ
Nhạc Phủ và Địa Phủ được gộp chung, vì đều là miền Trung Nguyên nơi con người sinh sống. Thiên Phủ là Thượng Nguyên, Thoải Phủ là Hạ Nguyên
Mẫu Thượng Ngàn được thờ riêng bên Cung Sơn Trang.

3. Tam Toà Chúa Mường

Thanh Sơn Chính Phái Đệ Nhất Thượng Ngàn sắc phong Lê Mại Đại Vương hiệu viết Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công Chúa

Đệ Nhị Thượng Ngàn Cao Sơn Công Chúa Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công Chúa
Đệ Tam Thượng Ngàn Sơn Trang Tàng Hình Diệu Nghĩa Thiền Sư Quế Hoa Công Chúa

4. Ngũ Vị Tôn Quan (hàng Quan Lớn)

Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên

Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Giám Sát
Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ
Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai
Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh

5. Lục Phủ Tôn Quan

Quan Lớn Đệ Lục

Quan Lớn Đệ Thất Đào Tiên
Quan Lớn Đệ Bát Đồng Bằng Sông Diêm
Quan Lớn Đệ Cửu
Quan Lớn Đệ Thập Triệu Tường

Các vị Quan hay được hầu là Quan Đệ Nhất, Quan Đệ Nhị, Quan Đệ Tam, Quan Đệ Tứ, Quan Đệ Ngũ

6. Tứ Phủ Thánh Bà (hàng Chầu Bà)

Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (Quế Hoa Công Chúa)

Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn (Đông Quang Công Chúa)
Chầu Đệ Tam Thoải Phủ
Chầu Đệ Tứ Khâm Sai (Chiêu Dung Công Chúa)
Chầu Năm Suối Lân (Suối Lân Công Chúa)
Chầu Lục Cung Nương (Lục Cung Công Chúa )
Chầu Bảy Kim Giao ( Mỏ Bạch Công Chúa )
Chầu Bát Nàn (Chầu Bát Đông Cuông, Chầu Bát Mỏ Ba)
Chầu Chín Cửu Tỉnh (Quỳnh Hoa Công Chúa)
Chầu Mười Đồng Mỏ (Mỏ Ba Công Chúa)
Chầu Bé Bắc Lệ (Bắc Lệ Công Chúa)
Chầu Bé Thủy Cũng nh

Các vị Chầu phổ biến hay hầu bóng gồm Chầu đệ Nhị, Chầu Năm, Chầu Lục, Chầu Mười, Chầu Bé. Ngoài ra có người hầu giá Chúa Thác Bờ sau giá Chầu Đệ Tam. Cũng có người hầu giá Chầu Bát Nàn (còn gọi là Chầu Bát Tiên La, Chầu Bát Thái Bình, tức bà Vũ Thị Thục - nữ tướng của Hai Bà Trưng) thay cho giá Chầu Bát Ngàn.

7. Tứ Phủ Thánh Hoàng (hàng Ông Hoàng)

Ông Hoàng Cả

Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn
Ông Hoàng Bơ Thoải Phủ
Ông Hoàng Tư Địa Phủ
Ông Hoàng Năm Mán Tộc
Ông Hoàng Sáu Thanh Hà
Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
Ông Hoàng Bát Nùng
Ông Hoàng Chín Cờn Môn
Ông Hoàng Mười Nghệ An

Ngoài ra còn có ông Hoàng Báo Đông Cuông, ông Hoàng Bắc Quốc, ông Chín Thượng Ngàn

8. Tứ Phủ Thánh Cô (hàng Cô)

Cô Cả Thượng Thiên

Cô Bơ Thoải Cung (Cô Bơ Hàn Sơn, Cô Bơ Bông)
Cô Tư Địa Phủ (Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ)
Cô Năm Suối Lân
Cô Sáu Sơn Trang
Cô Bảy Kim Giao (Cô Bảy Mỏ Bạch, Cô Bảy Tân La)
Cô Tám Đồi Chè
Cô Chín Cửu Tỉnh (Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín Giếng)
Cô Mười Đồng Mỏ (Cô Mười Mỏ Ba)
Cô Bé Thượng Ngàn
Cô Bé Thủy Cung

Trong 12 vị Thánh Cô thì có 4 vị thánh cô thường xuyên ngự đồng là:
Cô Đôi Thượng Ngàn
Cô Bơ Thoải
Cô Chín Sòng Sơn
Cô Bé Đông Cuông

Các cô ngoài hàng Thập Nhị Thánh Cô nhưng hiển ứng linh thông nên các thanh đồng hay kiều về như Đôi Cô Cam Đường.

9. Thập Nhị Bộ Tiên Nàng


Ngoài ra trong khoa cúng còn nhắc tới 12 Thánh Cô Sơn Trang (các cô ít khi ngự đồng):
Cô Cả Núi Dùm
Cô Đôi Bắc Lệ
Cô Ba Tam Kỳ
Cô Tư
Cô Năm Đồng Tiền
Cô Sáu Đồi Ngang
Cô Bảy Tân An
Cô Tám Đồi Chè
Cô Chín Đông Cuông
Cô Mười Suối Ngang
Cô Mười Một Đồng Nhân
Cô Mười Hai Bắc Lệ

10. Tứ Phủ Thánh Cậu (hàng Cậu)

Cậu Hoàng Cả (cậu Quận Phủ Dày)

Cậu Hoàng Đôi (cậu Quận Đồi Ngang)
Cậu Hoàng Bơ Thoải Phủ
Cậu Hoàng Tư Địa Phủ
Cậu bé bản đền

Ngoài ra còn có cậu bé Lệch ở gần đền Trần

11. Hàng Quan Ngũ Hổ, Ông Lốt


Tức là năm ông hổ tượng trưng ngũ hành và ông lốt (mãng xà).

Trong quan niệm dân gian hổ là vị chúa cai quản rừng núi, hình tượng hổ biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, diệt trừ tà ma, trấn giữ các phương.

12. Quan Ngũ Hổ

Quan Ngũ Hổ gồm 05 vị là:
Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan
Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Xích Hổ Thần Quan
Trung ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan
Tây Phương Canh Tân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan
Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Hắc Hổ Thần Quan

Quan Hổ được vẽ 5 ông hổ màu sắc khác nhau, tương ứng với Ngũ hành "kim, mộc, thủy, hỏa, thổ":
Hoàng hổ (màu vàng) trấn khu trung tâm (địa khu)
Hắc hổ (màu đen) trấn phương bắc (thủy khu)
Bạch hổ (màu trắng) trấn phương tây (kim khu)
Xích hổ (màu đỏ) trấn phương nam (hỏa khu)
Thanh hổ (màu xanh) trấn phương đông (mộc khu)

13. Ông Lốt

- Thanh Xà Đại tướng Quân

- Bạch Xà Đại tướng Quân

Ngoài ra cũng có nhiều vị khác được hát văn ca ngợi, và có hầu một số vị Chúa bà như Chúa Thác Bờ ,Chúa Tây Thiên, Chúa Nguyệt Hồ, Chúa Lâm Thao, Chúa Ngũ Phương, Chúa Ba Nàng, Chúa Bạch Hạc Xuân Nương,.. Các bà Chúa bản cảnh này quyền cai một vùng địa phương.

Các Thánh miền Thượng Ngàn chia làm Sơn Lâm Bộ (rừng cây trên núi cao), Sơn Trang Bộ (thung lũng có điều kiện để sinh sống), Sơn Tinh Bộ (hệ thống các thần rừng), chia ra cai quản Thượng Ngàn trên hết là Tam Vị trưởng quản sơn lâm (Bạch Anh Trưởng Sơn Lâm Công Chúa, Diệu Tín Thiền Sư, Diệu Nghĩa Thiền Sư), dưới có bát bộ sơn trang là 8 họ sơn trang lớn trấn giữ các vùng trọng yếu và 12 cô kề cận Mẫu thượng ngàn cai quảng khắp các cửa rừng cửa bể, dưới các vị tướng sơn trang, quan văn võ, các cô hầu.

Các thần linh kể trên là các thần linh phổ biến nhất, được đông đảo con nhang đệ tử công nhận thờ phụng, ngoài ra còn một số vị khác ở địa phương, cũng được đưa vào hầu bóng. Tuy nhiên, hoạt động này có nhiều bừa bãi, khi mà nhiều ông đồng bà đồng "bịa" thêm vị thánh nào đó để hầu, hay có người hầu cả Ngọc Hoàng... gây phản cảm và méo mó đạo Mẫu.

Tín ngưỡng tam tứ phủ là gì?

Không giống tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng Tam Tứ Phủ còn thờ các nam thần khác như các vị vua cha, ông hoàng, quan hoàng, thánh cậu, … Sự xen kẽ số lượng nam thần với số lượng nữ thần đồng đều cho thấy Tam Tứ Phủ có sự đồng đều, hài hòa về âm và dương.
Căn tứ phủ là gì?

Căn tứ phủ hay còn gọi là Căn đồng số lính có thể hiểu là số phận của 1 người đã được định sẵn là phải ra hầu thánh để làm lính, làm đồng bốn phủ.

Đạo Mẫu Tứ Phủ

 



KINH ĐẠO MẪU TỨ PHỦ

THIÊN TIÊN THÁNH MẪU PHỔ TẾ QUẦN SINH CHÂN KINH

 


Thiên tiên thánh mẫu phổ tế quần sinh chân kinh - 天仙聖母譜濟群生真經




天仙聖母譜濟群生真經
THIÊN TIÊN THÁNH MẪU 
PHỔ TẾ QUẦN SINH CHÂN KINH


NAM MÔ THẬP PHƯƠNG THƯỜNG TRỤ TAM BẢO

NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT CHỨNG MINH


Kính lễ Thiên Phủ Chí Tôn Đại Phạm Kim Khuyết Ngọc Hoàng Huyền cung Cao thượng Đế Chứng Minh

Kính lễ Tam Thập Tam Thiên Thiên Chủ Đế Thích Đề Hoàn Nhơn Thánh Đế Chứng Minh


Trong Thánh hội có các Chư Bồ Tát, Hộ pháp, Thiện Thần cùng nhau nhóm hội ở thiên cung Quảng vô cùng diễm lệ trang nghiêm. Ngự nơi cao nhất là Pháp chủ Đại Bi Quán Thế Âm đang phóng hào quang báu ra mười phương thế giới cứu độ nhân gian không mệt mỏi.
Nơi trung ương là đức Thiên Tiên Thánh Mẫu Liễu Hạnh Công Chúa cùng các vị thánh Tứ Phủ nhóm họp thật đông đảo nơi tiệc yến.


Như vậy bản Kinh này được Quế Hoa công chúa thỉnh hỏi Thiên Tiên Thánh Mẫu Quỳnh Hoa Dung Liễu Hạnh Công Chúa như sau :
Kính lễ Thánh Mẫu, ngài thật từ ái với tất cả muôn loài, là bậc bảo trợ cho dân chúng, xưng gọi là chúa tể An Nam. Ngài đã giúp đỡ và phù hộ cho dân Việt bây giờ và cho dân chúng đến mãi sau này. Lòng tốt của ngài bao la vô hạn với các lê dân bá tánh, ban phúc thọ cho mọi nhà và giúp họ xoa dịu khổ đau. Nhưng sau này những đứa con của Thánh Mẫu sẽ dần trở nên hung hãn và khó dạy dỗ giáo hóa. Coi thường Tam Bảo và Thánh chúng, họ sẽ hủy báng đạo quý của ngài và gặp phải bệnh dịch, đói kém, chiến tranh, họa nạn. Xin đức Từ Nghiêm thương xót lê dân bá tánh mà dạy cách nào để cứu giúp được họ trong tương lai tăm tối đó. Họ phải làm gì, tu dưỡng ra sao để có thể nhận được sự giúp đỡ phù hộ của ngài. Không đi vào con đường sai quấy - thưa đức Từ Nghiêm?


Thánh Mẫu Liễu Hạnh - Đấng từ nghiêm mỉm cười khoan thai nói:


Này Quế Hoa! Những gì nàng thưa hỏi đều rất đúng và sẽ sảy ra sau này với các đứa con Ta. Họ sẽ gặp phải đau khổ vì muôn ngàn lý do khác nhau mà ta không thể kể xiết được. Nên ta nói ra những lời dạy này quý vị ở đây hãy ghi nhớ cho kỹ, đừng quên mất, hãy giữ lấy để những đứa con may mắn của ta có dịp được đọc thấy, được chiêm nghiệm và sửa thân mình cho đúng những lời dạy của Ta.
Những lời dạy của ta thì nhiều vô số kể nhưng những người con may mắn được gặp những giáo huấn này thì quả thật rất khó. Ta có một giáo huấn quý báu sẽ nói ra sau đây để giúp các con đi đúng đường và hiểu minh bạch. Sẽ giúp người ấy tránh xa đau khổ, bệnh tật. Đạt được sự nghiệp, trí tuệ, danh vọng và giải thoát khi qua đời.


Những gì ta dạy không ngoài sự Tu Thân Sửa Mình cho thành Thánh Nhân vậy.
Hãy luôn nhớ Năm điều đức Như Lai đã dạy : Không giết hại , không trộm cắp, không tà dâm, không lừa gạt, không say sưa.
Vì các con muốn vui tránh khổ, nhưng lại không biết thế nào để được an vui. Cho nên mới gây tội mổ bụng con cá, xé xác con vịt, bẻ cổ con gà. Rồi ăn uống với nhau cho thế là vui - hễ vui thì nghĩ rằng hết khổ. Nhưng không biết cái uất khí của chúng oán hờn, để rồi đem lại cái không may cho mình. Ông trời có đức hiếu sinh, các con nên nhớ lấy mà nằm lòng lời Ta, chớ có giết hại, chớ trộm cắp, chớ tranh vợ cướp chồng người khác, chớ lừa gạt người, chớ say sưa chẳng tỉnh rồi làm ra điều ác. Sửa được dần như thế là không gieo nhân khổ, chư thánh chúng sẽ độ trì. Vì người đó mà giúp đỡ cho gặp những cái may mắn an lành lớn. Nguyện gì cũng được dễ dàng thành tựu.
Hãy nhớ 4 điều dưỡng thân tu Phúc.


1- Bố thí của cải đến người khác, cúng dường, từ thiện.
2- Nói lời chân thật, ngọt ngào dễ nghe, thường học Phật Pháp.
3- Hành động lợi ích cho mọi chúng sinh.
4- Hoà đồng với mọi người , chia sẻ sự đúng đắn.



Nếu cố gắng tu dưỡng chín điều quý báu này thì quý vị đã tạo Phúc vô lượng. Là cái nhân để Phật Thánh phù hộ độ trì. Hãy nhớ rằng Ta cũng không giúp được gì nếu quý vị tạo nhiều ác nghiệp, chẳng có căn lành phước đức. Ta luôn muốn giúp đỡ các con nhưng phải tùy thuộc vào Phước đức nữa. Đừng xin cầu nhiều mà mất công vô ích.


Đối với chư Thiên, Thánh chúng hãy cúng kiến trang nghiêm, sạch sẽ, thanh tịnh. Chớ bày vẽ cho tốn rồi chẳng lợi ích chi cả. Ta cần các con sửa tâm mới là thứ quý báu nhất dâng đến ta.


Này Quế Hoa! Ta có một câu thần chú quý báu tốt lành ban cho quý vị. Có thể tức thời nhờ cậy sự giúp đỡ gia hộ của Ta và chư Phật, Thánh. Thường nhớ niệm có thể tiêu trừ bệnh tật, cứu khổ trừ tai, miễn trừ ác tánh, yêu mị ếm đối , đem lại giàu có, tăng thọ mạng, danh tiếng, thêm sức khỏe, thêm an vui mà những điều mong cầu thường hay như ý. Khi chết đi ta sẽ cùng chư Phật Bồ Tát hiện thân an ủi, đưa về cảnh Lạc Bang. Bởi vậy hãy thường nên trì niệm câu thần chú này của ta và phát nguyện vì lợi ích chúng hữu tình.


Này Quế Hoa! Hãy nhớ lấy và lắng nghe cho kỹ, Ta sẽ vì vô lượng chúng sinh lê dân bá tánh mà nói ra lời chân thật, thần chú quý báu này. Những câu văn vi diệu ấy, những lời nói bí mật ấy sẽ vô cùng lợi ích cho các con Ta đời sau. Hãy ghi nhớ trong tâm và thường tụng đọc để nhận được lợi ích lớn lao. Bất cứ ai tụng đọc thần chú này mỗi ngày 108 lần và kính ngưỡng Phật Thánh, Ta sẽ độ trì phù hộ như giữ tròng con mắt vậy. Họ sẽ nhận được thực phẩm, của cải, sự thành công một cách dễ dàng nhất.


Thánh Cứu Độ Phật Mẫu Thần Chú :
Án ,Đáp Liệp, Đô Đáp Liệp, Độ Liệp, Sa Ha. (x108)


Liền khi ấy các vị thánh chúng trong hội yến đều rung động, chắp tay cung kính nhận lời giáo huấn của Thánh Mẫu. Đấng đại từ đại bi Quán Thế Âm cũng mỉm cười chứng minh.


Này Quế Hoa! Nếu có đứa con may mắn nào của ta gặp gỡ được bản kinh này. Lòng thành đọc tụng ở những nơi Thánh Địa của ta - như Đoài Hồ, Thiên Bản, Tiên Hương, hay nơi chùa chiền, đền điện, nơi sạch sẽ tôn nghiêm. Sẽ giúp ngăn ngừa nạn đói kém, chiến tranh, bệnh tật, và đem lại công đức lớn không thể so sánh được. Nếu tụng đọc 1000 lần hay in chép cúng 1.200 cuốn kinh này làm lợi ích cho bá tính, thì sẽ đạt được sự sở nguyện của bản thân. Địa vị chức quyền không cầu tự được, của cải quý báu không mong tự tăng, ám niệm trù rủa tự trở về cũ, chồng ngoan vợ thảo không xin tự được. Nhất thiết sở cầu đều được như ý. Đây là những điều chân thật không hư dối một chữ nào. Nay ta gọi là THIÊN TIÊN THÁNH MẪU PHỔ TẾ QUẦN SINH CHÂN KINH. Nàng hãy giữ cho kỹ và đem lưu bố cho thiên hạ dòng sữa ngọt này!


Liền nói kệ rằng:
Vân Hương Thánh Mẫu
Sắc Dậy Quần Sanh
Mẹ khuyên con, con phải làm lành
Để tránh thoát trăm vành tai nạn
Thương con Mẹ phán, con phải nên nghe
Cơn hiểm nguy trời đát chở che
Khi hoạn nạn Phật Thần ủng hộ
Lưu truyền thiên cổ: thiện giả thiện lai
Giữa trần ai ai cũng như ai
Chia giai cấp vì tài vì đức
Không nên đổ tật, chớ có sầu bi
Cuộc phù sinh nào có khác gì
Ai thoát khỏi hoạt qui vân tán ?
Giàu trăm ngàn vạn, chết khó đem đi
Duy thiện can ác quả tương tuỳ
Con nên phải nghĩ suy cho kĩ
Thị phi, phi thị: gian trá, trá gian
Của bất lương của ấy đừng tham
Điều phi nghĩa điều kia chớ học
Nợ duyên tơ tóc, tình nghĩa xương da
Lo báo đền công đức mẹ cha
Phải trọn vẹn tình ân nghĩa ái
Dại khôn, khôn dại: hư thiệt, thiệt hư
Đức cù lao lòng dữ khư khư
Tình vàng đá thường lo đau đáu
Trong đời gì báu bằng nghĩa với tình
Giữ vẹn tuyền quỷ sợ thần kinh
Lo đầy đủ trời bênh đất đỡ
Trong nhà ngoài chợ, cử chỉ đoan trang
Cuộc giao du nên tránh người gian
Khi bàn luận nên bàn việc thiện
Không nên bày chuyện chớ khá thêm lời
Sợ vì ta lá rụng hoa rơi
Hoặc từ đó, nhà tan cửa hại
Con nên nghĩ lại, ai cũng như mình
Việc của người chớ phách đừng banh
Con tự xét lấy mình con trước
Gặp ai lỡ bước, con chớ khinh khi
Cuộc vần xoay giữ thế chắc gì
Bần giữ phú khác gì dán tịch !
Những lời công kích câu nói mỉa mai
Con không ưa chớ có nói ai
Con ưng trách thì người cũng trách
Con nên tu tỉnh cười nói lựa lời
Khi toại đàm chớ có nói chơi
Rủi thiệt hại cho người trong cuộc
Nghìn vàng khó chuộc, lời đã lỡ lời
Mẹ khuyên con suy nghĩ đến nơi
Đừng tự phụ có tài có đức
Chinh Nam, phạt Bắc: Hạng võ anh hùng
Khi hết thời trở lại Giang Đông
Đem thủ cấp dâng ông đình trưởng
Không nên tơ tưởng phú quý phù vân
Giàu Thạch Sùng tiếng nổi xa gần
Khi vận hết cơ cầu dói khổ
Tục truyền tỏ rõ: duy hiếu là hơn
Vua Thuấn xưa cày núi Lịch Sơn
Vì tận hiếu mà hơn thiên hạ
Nàng Ban Ả Tạ: tiết rạng nghìn thu
Bà Chiêu Quân vì Hán cống Hồ
Tình chăn gối hằng lo đầy đủ
Quỷ thần ủng hộ, tiên thánh phù trì
Ở Hồ lâu mà chẳng can gì
Được tiết rạng, hồn qui cố thổ
Sử xanh chép rõ: Phiếu Mẫu ngày xưa
Giúp Hàn gia một bữa cơm trưa
Sau Hàn tương đền ơn muôn lạng
Hết tình vì bạn: Dương Lễ, Lưu Bình
Thấy bạn nghèo con chớ nên khinh
Bạn đói rách ấy mình đói rách
Rèn lòng thanh bạch, giữ đạo hiền lương
Con khỏi lo quỷ mị vấn vương
Cũng không sợ tà ma gây hại
Gái trai, trai gái, già trẻ nên nghe
Lời khuyên người: Thánh Mẫu châu phê
Rủi làm hại trời che đát đỡ
Nghe lời nên nhớ - nhớ phải nên theo
Thời khỏi lo phận đói kiếp nghèo
Thuyền tế độ mẹ sẵn đưa chèo trăm họ...


Khi ấy Quế Hoa Công Chúa liền thưa :


- Kính lạy đức Thánh Mẫu từ nghiêm. Con xin ghi nhớ lời dạy bảo của ngài và trao cho nhân gian những giáo huấn quý báu này.


Nói đoạn, trong hội có Thánh cô danh hiệu là Cửu Tỉnh Sòng Sơn Công Chúa, bước lên từ tốn bạch với Thánh Mẫu:


- Kính lễ Thánh Mẫu, con xin ở trong nhân gian phù trì bảo hộ cho những người tụng đọc bản kinh này, lưu bố đến muôn nơi để giúp cho chúng bá tánh được sự lợi ích an vui theo lời dạy của Thánh Mẫu.


Đức Từ Nghiêm cũng mỉm cười ưng thuận. Liền đó các chư thánh chúng đều đạt được lợi ích an vui lễ tạ rồi lui.


NAM MÔ HỘ QUỐC NHÂN VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT.



THIÊN TIÊN THÁNH MẪU PHỔ TẾ QUẦN SINH CHÂN KINH

Hết


Đàn cơ giáng bút cầu tiên Văn Chiểu - Nam Định
Đệ tử Lê Thị Xuân Hương in cúng 1200 bản.