Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025
Thứ Tư, 13 tháng 9, 2023
KINH HOA NGHIÊM NGUỒN GỐC
Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.
Nguồn gốc Kinh Hoa Nghiêm
Theo đại sư Trí Khải (538-597) và cũng là truyền thuyết của đại thừa Phật giáo thì, sau khi thành đạo Vô thượng bồ đề, Đức Phật Thích Ca liền nhập đại định "Hải ấn tam muội" giảng Kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày để hóa độ hàng thượng thừa Bồ tát. Điều này đã được ghi rõ trong Kinh Hoa Nghiêm: "Ví như mặt trời mới mọc, ánh sáng chiếu soi các đỉnh núi trước, rồi mới rải xuống những thung lũng đồng sâu. Ánh dương quang tỏa chiếu sáng ngời, lần lượt soi từ cao đến thấp. Đức như Lai cũng làm như thế. Khi đã chứng ngộ chân lý, Phật dùng trí tuệ bát nhã phóng hào quang đến các Bồ tát trước, rồi đến hàng nhị thừa, sau mới tới hết thảy chúng sinh".
Vì chân lý của bộ kinh này quá cao siêu huyền diệu, bậc nhị thửa không thể lĩnh hội được, nên Đức như Lai phải hạ thấp giáo lý xuống cho khế hợp với trình độ căn cơ của chúng sinh, do đó, cũng vẫn theo đại sư Trí Khải.
Kinh điển trong suốt một đời thuyết pháp của Đức Thế Tôn được chia làm 5 thời là:
- Thời Hoa Nghiêm: 21 ngày, Đức Phật giảng về huyền nghĩa "Nhất Tâm Chân Như, Pháp Giới Duyên Khởi", tức thuyết minh về sự hình thành vũ trụ vạn hữu để hóa độ cho hàng thượng thừa Bồ tát.
- Thời Lộc Uyển (cũng gọi là thời A Hàm): 12 năm, Đức Phật giảng các bộ kinh A Hàm, thuyết về các pháp môn Tứ Diệu Đế, Thập nhị Nhân Duyên, 10 Độ, 37 Đạo Phẩm để độ cho hàng nhị thừa: Thanh Văn, Duyên giác.
- Thời Phương Đẳng: 8 năm, Đức Phật giảng các kinh Duy Ma Cật, Lăng Già, Lăng Nghiêm, Kim Quang Minh, Thắng Man... xiển dương giáo nghĩa Tính Không (Duy Ma Cật) Như Lai tạng (Lăng già), Diệu Chân Như Tính (Lăng Nghiêm) để độ cho hàng đại thừa sơ cơ phát tâm Bồ tát.
- Thời Bát Nhã: 22 năm, Đức Phật giảng các bộ kinh Bát Nhã và Kim Cương, tức thuyết minh về chân lý "Không" của vạn Pháp để độ cho hàng quyền thừa Bồ tát.
- Thời Pháp Hoa và Niết Bàn: 8 năm, Đức phật giảng các bộ kinh Pháp Hoa - Niết bàn, xác định giá trị Phật tính của tất cả chúnhg sinh vốn sẳn có và sẽ thành Phật trong tương lai, để độ (không chỉ riêng) cho hàng thượng thừa Bồ tát mà cũng (chung) cho hết thảy trời, người, chúng sinh, kể cả hàng xiển đề (Icchantika).
Dưới đây là 9 hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại 7 địa điểm khác nhau:
- Hội thứ nhất: Diễn ra tại Bồ Đề Đạo Tràng, do Bồ tát Phổ Hiền là chủ hội, giảng về Y Báo và Chính Báo của Như Lai, trọn 11 quyển, 6 phẩm (1.Thế Chủ Diệu nghiêm 2. Như Lai Hiện Tướng, 3. Phổ Hiền Tam Muội, 4. Thế Giới Thành Tựu, 5. Hoa Tạng Thế Giới, 6. Tỳ Lô Giá Na).
- Hội thứ hai: Diễn ra tại điện Phổ Quang Minh, do Bồ tát Văn Thù là hội chủ, giảng về pháp môn Thập Tín, gồm 4 quyển, 6 phẩm (1. Như Lai Danh Hiệu, 2. Tứ Thánh Đế, 3 .Quang Minh Giác, 4. Bồ Tát Vấn Minh, 5. Tịnh Hạnh, 6 .Hiền Thủ)
- Hội thứ ba: Diễn ra tại cung trời Đao Lợi, do Bồ tát Pháp Tuệlà hội chủ, giảng về Thập Trụ, gồm 3 quyển, 6 phẩm (1. Thăng Tu Di Đỉnh, 2. Tu Di Đỉnh Thượng Kệ Tán, 3. Thập Trụ, 4. Phạm Hạnh, 5. Sơ Phát Tâm Công Đức, 6. Minh Pháp)
- Hội thứ tư: Diễn ra tại cung trời Dạ Ma, do Bồ tát Công Đức Lâm là hội chủ, giảng về Thập Hành, gồm 3 quyển, 4 phẩm (1. Thăng Dạ Ma Thiên, 2. Dạ Ma Trung Cung Kệ Tán, 3. Thập Hạnh, 4. Thập Vô Tận Tạng ).
- Hội thứ năm: Diễn ra tại cung trời Đâu Suất, do Bồ tát Kim Cương Tràng là hội chủ, giảng về Thập Hồi Hướng, gồm 12 quyển, 3 phẩm (1. Thăng Đâu Suất Thiên, 2. Đâu Suất Trung Cung Kệ Tán, 3. Thập Hồi Hướng).
- Hội thứ sáu: Diễn ra tại cung trời Tha Hóa, do Bồ tát Kim Cương Tạng là hội chủ, giảng về Thập Địa, gồm 6 quyển, 1 phẩm là phẩm Thập Địa.
- Hội thứ bảy: Diễn ra tại điện Phổ Quang Minh, do Đức Như Lai là hội chủ giảng về pháp môn Đẳng Giác_Diệu Giác, gồm 13 quyển,11 phẩm (1. Thập Định, 2. Thập thông, 3. Thập Nhẫn, 4. A Tăng Kỳ, 5. Thọ Lượng, 6. Chư Bồ Tát Trụ Xứ, 7. Phật Bất Tư Nghị Pháp, 8. Như Lai thập thân Tướng Hải, 9. Như Lai Tùy Hảo Quang Minh Công Đức, 10. Phổ hiền Hạnh, 11. Như Lai Xuất Hiện).
- Hội thứ tám: Tái diễn tại điện tại Phổ Quang Minh, do Bồ tát Phổ Hiền là hội chủ, giảng về 2.000 Hạnh Môn, gồm 7 quyển 1 phẩm, là phẩm Ly Thế Gian.
- Hội thứ chín: Diễn ra tại rừng Thệ Đa, do Như Lai và thiện hữu đều là hội chủ, giảng về Quả Pháp giới, gồm 21 quyển, 1 phẩm, là phẩm Nhập Pháp Giới.
Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.
Hoa Nghiêm tiếng Phạn là Avatamsaka, có nghĩa là đóa hoa thanh khiết tuyệt đẹp nhất trần gian, ngát hương khắp mười phương các cõi pháp giới.
Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn. Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả. Đó là bản tánh vô ngại của Tâm. Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể. Đó là ý nghĩa căn cốt của Kinh Hoa Nghiêm.
Bởi thế, nếu Kinh Đại Bát Nhã tiêu biểu cho tư tưởng Phật Pháp đại thừa về lý chơn không vô ngại, thì Kinh Hoa Nghiêm đại biểu cho tư tưởng Phật Pháp đại-thừa về lý hữu hóa duyên sanh của vạn pháp.
Ngoài ra Kinh Hoa Nghiêm còn là một thông điệp, một bài học phong phú sinh động muôn đời, trao gởi cho hành giả có tâm hướng thượng đại-thừa, tu là cần phải học phải hành qua hình ảnh Thiện Tài đồng tử tham bái cầu học đạo với năm mươi ba vị thiện tri thức, là bằng chứng cho ta thấy rằng tu học đạo bồ-đề điều tiên quyết cần phải khắc phục nội tâm cống cao ngã mạn, dục vọng loạn tưởng; ngoài thân khiêm cung cầu tiến hành trì phương pháp Hoa Nghiêm tuyệt đỉnh, tìm chân sư liễu ngộ mới mong hiển lộ được Phật tánh chơn tâm của mình.
Nên nghiên tầm ý nghĩa của Kinh Hoa Nghiêm là khai mở quang lộ trở về bản tánh chơn tâm thanh tịnh sáng suốt thường nhiên ; là biết được tự thể của các pháp hiện hành trong thế giới vũ trụ; là thấu suốt cội nguồn sanh sanh hóa hóa của hữu tình và vô tình chúng-sanh; là quán chiếu bí yếu mật nghĩa viên dung tương quan của tâm và cảnh, để rồi từ đó có thể thống triệt lý viên dung vô ngại chủ và khách của vạn pháp, hiện hành sanh hóa, tương duyên tương nhơn quả, tương sanh tương diệt. Tất cả vạn pháp toàn triệt ảnh hiện trên đài gương chơn như thể tánh. Thế nên, thọ trì Kinh Hoa Nghiêm là bước vào cửa phương tiện cầu tu học đạo, là nhân tố đặc thù hy hữu ly vọng hoàn chơn.
Nội dung cơ bản Kinh Hoa Nghiêm
Về nội dung: Theo ngài quốc sư Thanh Lương thì bộ Bát Thập Hoa Nghiêm được chia làm 3 phần:
* Phần Tự: 5 quyển
* Phần Chính Tông: 55 quyển 5.
* Phần Lưu Thông: 19 quyển 5, gồm 4 yếu lý: Tín, Giải, Hành, Chứng và 5 chu:
*Tín nhân quả chu: 11 quyển 6 phẩm.
Sai biệt nhân quả chu: 41 quyển
* Giải:
* Bình đẳng nhân quả chu: 31 phẩm
* Hành nhân quả chu: 7 quyển 1 phẩm
* Chứng nhân quả chu: 21 quyển 1 phẩm.
TÍN: Tin giáo lý của Phật dẫn trong kinh là chân lý tuyệt đối.
GIẢI: Giải rõ chân lý đó.
HÀNH: Dùng phương pháp để thực hành hầu đạt tới chân lý đó.
CHỨNG: Chứng ngộ chân lý đó.
Về triết lý gồm những điểm then chốt như sau:
1. Nhất Thiết Duy Tâm Tạo.
2. Nhất Tâm Chân Như, Pháp Giới Duyên Khởi
* Từ Bản thể Chân như của vũ trụ phát sinh các hình tướng sai biệt trong hiện tượng giới.
Từ tuyệt đối thể vô biên, dời sang thế giới tương đối hữu thể, để biện minh cho cái Chân tướng vô tướngcủa vạn pháp và chân lý tối cao,bất diệt là :mọi sự vật trên trần gian đều do từ "Chân Không Diệu Hữu" mà phát sinh. Từ một mảy lân hư trần cho đến sơn hà,trăng sao và mọi sinh vật đều phải nương tựa lẫn nhau, làm nhân làm duyên cho nhau mà biến dịch,sinh tồn trong mối tương quan của Lý: Pháp giới trùng trùng duyên khởi
Pháp giới duyên khởi là tên gọi khác của Thập Nhị Nhân Duyên vẫn có từ vô thủy đến nay, không phải đợi đến lúc Phật ra đời rồi mới có. 12 nhân duyên là giáo lý (do đó) mà Đức Thích Ca thành đạo. Sau khi đã hoàn thành chứng ngộ, Phật căn cứ vào lý duyên khởi của Khổ giới mà lần lượt nói ra sự quan hệ nhân quả giữa 12 chi, đưa ra nguồn gốc căn bản của khổ não và Vô Minh, và những gì được gọi là Pháp hữu vi, là sự sự, vật vật hay vạn Pháp trong thế giới duyên sinh trùng trùng điệp điệp này. Với chân lý "Nhân Quả" và "Duyên Sinh", với chân lý "Bất nhị" cùng "lý, Sự và Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới", kinh Hoa Nghiêm đã xác nhận mọi hành động về thân, khẩu, ý của con người, đều tạo nghiệp quả cho mình và cho tha nhân đồng phải gánh chịu trong cái thế liên hoàn trùng trùng điệp điệp. Một là tất cả và tất cả là một.
Kinh Hoa Nghiêm – Mở Đề
Kinh Hoa Nghiêm – Mở Đề
Kinh Hoa Nghiêm
Đại Phương Quảng Phật
giảng giải
Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh
Giới thiệu sơ lược về bảy nơi, chín hội, ba mươi chín phẩm. Bộ Kinh nầy gồm có 45 phẩm Kinh văn, nhưng chỉ dịch ra được 39 phẩm, gồm 80 quyển.
Hội thứ nhất thì nói về “tin nhân quả”.
Từ hội thứ hai đến hội thứ sáu thì nói về “sai biệt nhân quả”.
Hội thứ bảy thì nói “bình đẳng nhân quả”.
Hội thứ tám thì nói “thành hạnh nhân quả”.
Hội thứ chín thì nói “chứng nhập nhân quả”.
Hội thứ nhất có 11 quyển là: Cử quả hoan lạc sinh tín phần. Từ hội thứ hai đến hội thứ bảy cộng lại có 41 quyển là: Tu nhân khế quả sinh giải phần. Hội thứ tám có 7 quyển là: Thác pháp tiến tu thành hạnh phần. Hội thứ chín có 21 quyển là: Y nhân chứng nhập thành đức phần.
Hội thứ nhất tại Bồ Ðề Ðạo Tràng. Hội nầy nói sáu phẩm:
1. Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm.
2. Phẩm Như Lai Hiện Tướng.
3. Phẩm Phổ Hiền Tam Muội.
4. Phẩm Thế Giới Thành Tựu.
5. Phẩm Thế Giới Hoa Tạng.
6. PhẩmTỳ Lô Giá Na.
Hội thứ nhì ở tại Ðiện Phổ Quang Minh. Hội nầy nói sáu phẩm:
7. Phẩm Danh Hiệu Như Lai.
8. Phẩm Bốn Thánh Ðế.
9. Phẩm Quang Minh Giác.
10. Phẩm Bồ Tát Vấn Minh.
11. Phẩm Tịnh Hạnh.
12. Phẩm Hiền Thủ.
Trên đây là mười hai phẩm diệu pháp nói ở tại nhân gian.
Hội thứ ba ở tại Ðiện Diệu Thắng trên cung trời Ðao Lợi. Hội nầy cũng nói sáu phẩm.
13. Phẩm Thăng Lên Ðỉnh Tu Di.
14. Phẩm Kệ Tán Tu Di.
15. Phẩm Thập Trụ.
16. Phẩm Phạm Hạnh.
17. Phẩm Công Ðức Ban Ðầu Phát Tâm.
18. Phẩm Minh Pháp.
Hội thứ tư ở tại Ðiện Bảo Trang Nghiêm, cung trời Dạ Ma. Hội nầy nói bốn phẩm.
19. Phẩm Thăng Lên Trời Dạ Ma.
20. Phẩm Kệ Tán Dạ Ma.
21. Phẩm Thập Hạnh.
22. PhẩmThập Vô Tận Tạng.
Hội thứ năm ở tại Ðiện Nhất Thiết Diệu Bảo Trang Nghiêm, cung trời Ðâu Suất. Hội nầy nói ba phẩm.
23. Phẩm Thăng Lên Trời Ðâu Suất.
24. Phẩm Kệ Tán Ðâu Suất.
25. Phẩm Thập Hồi Hướng.
Hội thứ sáu ở tại Ðiện Ma Ni Bảo Tạng, cung trời Tha Hoá Tự Tại. Hội nầy chỉ nói một phẩm.
26. Phẩm Thập Ðịa.
Trên đây là mười bốn phẩm diệu pháp nói ở trên Thiên cung.
Hội thứ bảy ở tại Ðiện Phổ Quang Minh. Hội nầy nói mười một phẩm:
27. Phẩm Thập Ðịnh.
28. Phẩm Thập Thông.
29. Phẩm Thập Nhẫn.
30. Phẩm A Tăng Kỳ.
31. Phẩm Thọ Lượng.
32. Phẩm Bồ Tát Trụ Xứ.
33. Phẩm Phật Bất Tư Nghị Pháp
34. Phẩm Thập Thân Tướng Hải.
35. Phẩm Tuỳ Hảo Quang Minh.
36. Phẩm Hạnh Phổ Hiền.
37. Phẩm Như Lai Xuất Hiện.
Hội thứ tám tại Ðiện Phổ Quang Minh. Hội nầy chỉ nói một phẩm
38. Phẩm Lìa Thế Gian.
Hội thứ chín ở tại Rừng Thệ Ða. Hội nầy chỉ nói một phẩm:
39. Phẩm Vào Pháp Giới.
Mở Đề
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy còn gọi là Kinh Pháp Giới, cũng gọi là Kinh Hư Không, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Chỗ ở của Kinh Hoa Nghiêm tức cũng là chỗ ở của Phật, cũng là chỗ ở của Pháp, cũng là chỗ ở của Hiền Thánh Tăng. Cho nên khi Phật vừa mới thành chánh giác, thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, để giáo hoá tất cả pháp thân Ðại Sĩ . Vì bộ Kinh nầy là Kinh vi diệu không thể nghĩ bàn, do đó bộ Kinh nầy được bảo tồn ở dưới Long cung, do Long Vương bảo hộ giữ gìn. Về sau do Ngài Bồ Tát Long Thọ, xuống dưới Long cung đọc thuộc lòng và ghi nhớ bộ Kinh nầy, sau đó lưu truyền trên thế gian.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, cũng như vầng mây cát tường ở trong hư không, chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, như mưa pháp cam lồ, thấm nhuần hết thảy tất cả chúng sinh. Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, cũng như ánh sáng mặt trời, chiếu khắp đại thiên thế giới, khiến cho tất cả chúng sinh đều được ấm áp. Kinh Hoa Nghiêm nầy cũng như đại địa, làm sinh trưởng tất cả vạn vật. Cho nên, có Kinh Hoa Nghiêm tồn tại, thì có thể nói là thời kỳ chánh pháp trụ lâu dài. Mỗi ngày chúng ta giảng giải Kinh Hoa Nghiêm, nghiên cứu Kinh Hoa Nghiêm, quan trọng là phải y chiếu nghĩa lý Kinh điển mà tu hành, phải dùng Kinh để đối trị bệnh tật của thân tâm chúng ta. Tự thân chúng ta có tâm tham, khi nghe được Kinh Hoa Nghiêm, thì nên trừ khử tâm tham; có tâm sân, khi nghe được Kinh Hoa Nghiêm, thì nên trừ khử tâm sân; có tâm ngu si, khi nghe được Kinh Hoa Nghiêm, thì nên trừ khử tâm ngu si.
Ðạo lý của bộ Kinh nầy, là đối trị tập khí mao bệnh của chúng ta. Ðừng cho rằng những gì nói trong Kinh, chỉ vì Bồ Tát mà nói, đối với chúng ta chẳng có quan hệ gì, hoặc là pháp nói cho các bậc A La Hán, đối với chúng ta chẳng có quan hệ gì, chúng ta phàm phu nghe bộ Kinh nầy chỉ là nghe thôi, tự biết làm không được cảnh giới của các bậc Thánh nhân. Nếu bạn nghĩ như thế thì, đó là tự hại mình, tự vứt đi, tự dứt tuyệt nơi Thánh nhân.
Mỗi câu Kinh Hoa Nghiêm đều là Pháp Bảo vô thượng, nếu chúng ta cung hành thực tiễn, y chiếu nghĩa lý Kinh văn tu hành, thì nhất định sẽ thành Phật. Cho nên, Kinh Hoa Nghiêm cũng có thể nói là mẹ của chư Phật. Kinh Hoa Nghiêm là pháp thân của chư Phật. Ðức Phật tán thán Kinh Kim Cang rằng: “Phàm là chỗ nào có Kinh điển thì chỗ đó có Phật”. Chỗ nào có bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy thì có Phật tại chỗ đó, bất quá nghiệp chướng của bạn quá sâu nặng, đối diện mà cũng chẳng thấy Phật, do đó có câu:”Ðối diện bất thức Quán Thế Âm” (Ðối diện chẳng nhận ra Bồ Tát Quán Thế Âm). Các bạn thấy vị Bồ Tát Quán Thế Âm nầy, ngàn tay ngàn mắt, luôn luôn phóng ra quang minh vô ngại, chiếu khắp tất cả chúng sinh có duyên trong ba ngàn đại thiên thế giới. Thế mà chúng ta hằng ngày lễ Phật tại đây, niệm Phật, lạy Bồ Tát Quán Âm, niệm Bồ Tát Quán Âm, cũng chẳng thấy Bồ Tát Quán Âm, mà thành ra bắt chước, tức là họ lạy, ta cũng lạy theo, họ niệm ta cũng niệm theo, đó là cảnh giới chuyển theo người, mà chẳng chân chánh trở về trong thâm tâm của mình.
Hằng ngày ta lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, ta nên làm như thế nào? Phải chăng ta có nhiều sân hận? Phải chăng chứng tật cũ ta không sửa đổi? Như thế thì bạn lạy đến hết thuở vị lai, bạn cũng chẳng thấy được Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu bạn cải ác hướng thiện, chân chánh trừ khử tập khí mao bệnh, sửa lỗi làm con người mới, thì nhất định Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ gia bị cho bạn. Cho nên có người tu rất nhiều năm, một chút trí huệ cũng không khai mở, có người tu hành chẳng bao lâu thì khai mở trí huệ, đắc được biện tài vô ngại. Do đó, chúng ta là người xuất gia, phải siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si, cử chi hành động đều phải hồi quang phản chiếu, tu hành như thế mới có tiến bộ.
Chúng ta giảng Kinh Hoa Nghiêm, nghe Kinh Hoa Nghiêm, lạy Kinh Hoa Nghiêm, tụng Kinh Hoa Nghiêm, nhưng không y chiếu đạo lý Kinh Hoa Nghiêm mà thực hành thì Kinh là Kinh, bạn là bạn, ta là ta, chẳng có chút nào hợp mà làm một. Chúng ta phải hợp với Kinh điển mà làm một, chiếu theo đạo lý trong Kinh điển mà thực hành, tức là hợp mà làm một; bạn không chiếu theo Kinh điển mà thực hành thì tâm từ bi cũng chẳng đủ, tâm hỷ xả cũng không nhiều, chỉ có vô minh phiền não theo mình, đó là chẳng hiểu được Kinh, cũng chẳng nghe được Kinh. Nghe được Kinh câu nào thì nghĩ xem: ta làm thế nào để thực hành? Phải chăng ta chạy theo thói hư tật xấu? Hay là chiếu theo Kinh điển mà tu hành? Thường thường tự hỏi mình thì chắc chắn sẽ đắc được lợi ích. Tại sao chẳng đắc được lợi ích lớn? Vì bạn xem Kinh là Kinh, đối với ta chẳng có quan hệ gì. Thật ra, lúc ban đầu đức Phật nói Kinh Hoa Nghiêm cũng vì bạn, tôi và tất cả chúng sinh mà nói, đó là Phật đối với chúng ta mà nói. Chúng ta nghe Kinh văn nầy, cũng như chính tai chúng ta nghe đức Phật nói đạo lý nầy, dạy chúng ta y chiếu theo pháp môn nầy mà tu hành.
Bất cứ pháp gì, cũng đều không ra khỏi tự tánh của mỗi chúng ta. Tự tánh của chúng ta, cũng là tận hư không khắp pháp giới. Cho nên, nếu bạn phóng tâm lượng rộng lớn, thì bạn sẽ hợp với Kinh Hoa Nghiêm mà làm một, song, hai mà chẳng phải hai. Ai ai cũng đều y theo cảnh giới Hoa Nghiêm làm cảnh giới của mình, lấy đạo lý vô lượng vô biên, trí huệ vô lượng vô biên của Kinh Hoa Nghiêm, thu nhiếp làm trí huệ của mình. Bạn xem ! Như vậy rộng lớn biết dường nào !
Dẫn Nhập
Bộ Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật nầy, khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cội bồ đề, vừa mới thành chánh giác, không rời khỏi toà ngồi mà ở trong định đến bảy nơi (ba nơi tại nhân gian, bốn nơi ở tại Thiên cung), vì các bậc đại thiện căn viên đốn, mà nói tự thân chứng được pháp môn viên đốn, đi thẳng vào đạo lý pháp giới, trải qua chín hội trong vòng hai mươi mốt ngày, thì nói xong bộ Kinh không thể nghĩ bàn nầy. Bộ Kinh nầy gồm có 45 phẩm Kinh văn, nhưng chỉ dịch ra được 39 phẩm, gồm 80 quyển. Trong mỗi hội Ðức Phật đều phóng quang, đại biểu nói Hoa Nghiêm pháp lớn. Quang minh là biểu thị cho trí huệ, gia bị cho tất cả chúng sinh, đều đắc được lợi ích Phật Pháp.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy từ đầu cho đến cuối, đều nói đạo lý năm vòng nhân quả.
Hội thứ nhất thì nói về “tin nhân quả”.
Từ hội thứ hai đến hội thứ sáu thì nói về “sai biệt nhân quả”.
Hội thứ bảy thì nói “bình đẳng nhân quả”.
Hội thứ tám thì nói “thành hạnh nhân quả”.
Hội thứ chín thì nói “chứng nhập nhân quả”.
Ngài Thanh Lương Quốc Sư đem hết toàn bộ Kinh 80 quyển phân làm bốn phần. Hội thứ nhất có 11 quyển là: Cử quả hoan lạc sinh tín phần. Từ hội thứ hai đến hội thứ bảy cộng lại có 41 quyển là: Tu nhân khế quả sinh giải phần. Hội thứ tám có 7 quyển là: Thác pháp tiến tu thành hạnh phần. Hội thứ chín có 21 quyển là: Y nhân chứng nhập thành đức phần.
Hội thứ nhất tại Bồ Ðề Ðạo Tràng, vị trí ở hướng tây cách thành Vương Xá nước Ma Kiệt Ðà khoảng hai trăm dặm, nay tức là Bodh Gaya. Hội nầy Ðức Phật phóng quang minh giữa lông mày, biểu thị quang minh của Phật chiếu khắp hết thảy mọi nơi, khiến cho tất cả chúng sinh đến nghe pháp lớn. Lại phóng quang minh ở răng, biểu thị khiến cho chúng sinh nếm được pháp vị. Bộ Kinh nầy là mười phương chư Phật đều nói, cho nên trong các hội, phần nhiều là mười phương chư Phật gia bị cho Bồ Tát nói. Hội nầy là mười phương chư Phật gia trì cho Bồ Tát Phổ Hiền nói, Bồ Tát Phổ Hiền làm chủ đại hội, Ngài nương thần lực của Ðức Phật mà nói: y, chánh hai báo trang nghiêm Phật quả, phát triệt tâm tín ngưỡng của chúng sinh.
Hội nầy nói sáu phẩm:
1. Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm.
2. Phẩm Như Lai Hiện Tướng.
3. Phẩm Phổ Hiền Tam Muội.
4. Phẩm Thế Giới Thành Tựu.
5. Phẩm Thế Giới Hoa Tạng.
6. PhẩmTỳ Lô Giá Na.
Sáu phẩm nầy là vòng tin nhân quả, là “quả cử hoan lạc sinh tín phần”.
Hội thứ nhì ở tại Ðiện Phổ Quang Minh. Hội nầy ở phía đông nam cây bồ đề, khoảng ba dặm trong khúc eo sông Ni Liên Thiền, là do các Long Vương vì Ðức Phật mà tạo nên. Ðức Phật phóng quang chiếu khắp mười phương vô biên thế giới, nên tên là Ðiện Phổ Quang Minh. Trong hội nầy Ðức Phật phóng quang dưới hai bàn chân, biểu thị khiến cho chúng sinh y pháp tu hành. Hội nầy Bồ Tát Văn Thù làm chủ đại hội, Ngài nương thần lực của Ðức Phật, mà nói đạo lý pháp môn Thập Tín mỹ đức,
Hội nầy nói sáu phẩm:
7. Phẩm Danh Hiệu Như Lai.
8. Phẩm Bốn Thánh Ðế.
9. Phẩm Quang Minh Giác.
10. Phẩm Bồ Tát Vấn Minh.
11. Phẩm Tịnh Hạnh.
12. Phẩm Hiền Thủ.
Sáu phẩm nầy là vòng sai biệt nhân quả, là “tu nhân khế quả sinh giải phần”. Trên đây là mười hai phẩm diệu pháp nói ở tại nhân gian.
Hội thứ ba ở tại Ðiện Diệu Thắng trên cung trời Ðao Lợi. Hội nầy ở đỉnh núi Tu Di, là “địa cư thiên”, tức cũng là tầng trời thứ hai của dục giới. Ðức Phật nói Kinh Hoa Nghiêm là pháp thân nói, pháp thân thì tận hư không khắp pháp giới, vô tại vô bất tại, vô sở bất tại (không có chỗ nào mà không có). Cho nên, có thể đến bất cứ nơi nào giảng Kinh thuyết pháp. Trong hội nầy Ðức Phật phóng quang ở ngón chân, biểu thị pháp là từ chỗ thấp mà sinh ra, khiến cho chúng sinh từ cơ bản mà học lên. Hội nầy Bồ Tát Pháp Huệ làm chủ đại hội, Ngài nương thần lực của Phật mà nói đạo lý Thập Trụ.
Hội nầy cũng nói sáu phẩm.
13. Phẩm Thăng Lên Ðỉnh Tu Di.
14. Phẩm Kệ Tán Tu Di.
15. Phẩm Thập Trụ.
16. Phẩm Phạm Hạnh.
17. Phẩm Công Ðức Ban Ðầu Phát Tâm.
18. Phẩm Minh Pháp.
Sáu Phẩm nầy cũng là vòng sai biệt nhân quả, là “tu nhân khế quả sinh giải phần”.
Hội thứ tư ở tại Ðiện Bảo Trang Nghiêm, cung trời Dạ Ma. Hội nầy ở trên không đỉnh núi Tu Di, là “không cư thiên” (cõi trời ở trên không), tức cũng là tầng trời thứ ba của dục giới. Trong hội nầy Ðức Phật phóng quang ở mu hai bàn chân, biểu thị pháp là từ dưới mà lên, khiến cho chúng sinh y theo thứ lớp mà học lên. Hội nầy Bồ Tát Công Ðức Lâm làm chủ đại hội, Ngài nương thần lực của Phật mà nói đạo lý pháp môn Thập Hạnh.
Hội nầy nói bốn phẩm.
19. Phẩm Thăng Lên Trời Dạ Ma.
20. Phẩm Kệ Tán Dạ Ma.
21. Phẩm Thập Hạnh.
22. PhẩmThập Vô Tận Tạng.
Bốn phẩm nầy cũng là vòng sai biệt nhân quả, là “tu nhân khế quả sinh giải phần”.
Hội thứ năm ở tại Ðiện Nhất Thiết Diệu Bảo Trang Nghiêm, cung trời Ðâu Suất. Hội nầy ở phía trên trời Dạ Ma, tức cũng là tầng trời thứ tư của dục giới. Trong hội nầy Ðức Phật phóng quang hai đầu gối, biểu thị hồi hướng, khiến cho chúng sinh: hồi sự hướng lý, hồi nhân hướng quả, hồi tự hướng tha. Hội nầy Bồ Tát Kim Cang Tràng làm chủ đại hội, Ngài nương thần lực của Ðức Phật mà nói đạo lý pháp môn Thập Hồi Hướng.
Hội nầy nói ba phẩm.
23. Phẩm Thăng Lên Trời Ðâu Suất.
24. Phẩm Kệ Tán Ðâu Suất.
25. Phẩm Thập Hồi Hướng.
Ba phẩm nầy cũng là vòng sai biệt nhân quả, là “tu nhân khế quả sinh giải phần”.
Hội thứ sáu ở tại Ðiện Ma Ni Bảo Tạng, cung trời Tha Hoá Tự Tại. Hội nầy là tầng trời thứ sáu của dục giới, cũng là trời cao nhất của dục giới. Hội nầy Ðức Phật phóng quang minh ở giữa lông mày, hội nầy Bồ Tát Kim Cang Tạng làm chủ đại hội, Ngài nương thần lực của Phật mà nói đạo lý pháp môn Thập Ðịa. Hội nầy chỉ nói một phẩm.Phẩm Thập Ðịa.
Phẩm nầy cũng là vòng sai biệt nhân quả, là “tu nhân khế quả sinh giải phần”. Trên đây là mười bốn phẩm diệu pháp nói ở trên Thiên cung.
Hội thứ bảy ở tại Ðiện Phổ Quang Minh. Ðức Phật lại từ trên trời trở về nhân gian. Hội nầy Ðức Phật phóng quang minh giữa lông mày và quang minh ở miệng, quang minh ở miệng là biểu thị, tất cả Phật tử từ trong miệng của Phật hoá sinh. Hội nầy Bồ Tát Phổ Hiền làm chủ đại hội, Ngài nương thần lực của Phật mà nói pháp Ðẳng giác và Diệu giác, tức cũng là pháp môn nhân tròn quả đầy, sáu phẩm trước nói nhân tròn, năm phẩm sau nói quả đầy.
Hội nầy nói mười một phẩm:
27. Phẩm Thập Ðịnh.
28. Phẩm Thập Thông.
29. Phẩm Thập Nhẫn.
30. Phẩm A Tăng Kỳ.
31. Phẩm Thọ Lượng.
32. Phẩm Bồ Tát Trụ Xứ.
33. Phẩm Thập Thân Tướng Hải.
34. Phẩm Tuỳ Hảo Quang Minh.
35. Phẩm Hạnh Phổ Hiền.
36. Phẩm Như Lai Xuất Hiện.
Mười một phẩm nầy là vòng nhân quả bình đẳng, là “tu nhân khế quả sinh giải phần”.
Hội thứ tám tại Ðiện Phổ Quang Minh. Trong hội nầy Ðức Phật không phóng quang minh, vì tại trọng xứ. Hội nầy cũng là Bồ Tát Phổ Hiền làm chủ đại hội, vì Bồ Tát Phổ Hiền là chủ Hoa Nghiêm Hải Hội, Ngài nương thần lực của Ðức Phật, mà nói pháp hai ngàn hạnh môn. Có vị Bồ Tát Phổ Huệ hỏi Bồ Tát Phổ Hiền: Những gì là pháp nương tựa của Bồ Tát? Những gì là pháp thực hành của Bồ Tát? .v.v., có hai trăm câu hỏi. Bồ Tát Phổ Hiền giải đáp thành hai nghìn câu trả lời.
Hội nầy chỉ nói một phẩmPhẩm Lìa Thế Gian.
Phẩm nầy là vòng thành hạnh nhân quả, là “thác pháp tiến tu thành hạnh phần”.
Hội thứ chín ở tại Rừng Thệ Ða. Ðịa điểm ở trong thành Xá Vệ, tức cũng là vườn ông Cấp Cô Ðộc, cây của thái tử Kỳ Ðà, còn gọi là Tinh Xá Kỳ Hoàn, còn gọi là Trọng Các Giảng Ðường. Khi Ðức Phật thành chánh giác thì chưa có giảng đường nầy, sau này mới thành lập. Song, không có Trọng Các Giảng Ðường, vậy Ðức Phật làm thế nào thuyết pháp tại đây? Ðó là cảnh giới diệu không thể nghĩ bàn. Ðức Phật có thể đem vô lượng kiếp quá khứ dời đến hiện tại, cũng có thể đem vô lượng kiếp vị lai dời đến hiện tại. Cho nên chẳng có phân biệt quá khứ, hiện tại và vị lai, là viên dung vô ngại. Giống như trong Kinh Kim Cang có nói:”Tam tâm bất khả đắc” (ba tâm không thể đắc được), cùng đạo lý ấy, nghĩa là: tâm quá khứ không thể nắm bắt, tâm hiện tại không thể nắm bắt, tâm vị lai cũng không thể nắm bắt.
Tại sao? Bạn nói có quá khứ tức là chấp trước, có hiện tại là chấp trước, có vị lai cũng là chấp trước. Vì quá khứ đã qua rồi, hiện lại không dừng lại, còn vị lai thì chưa đến, đó là phá chấp. Tại hội nầy Ðức Phật phóng luồng hào quang trắng, biểu thị chiếu khắp ba ngàn đại thiên, khiến cho tất cả chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp, sinh ra căn lành. Hội nầy phân làm hội chính và hội phụ. Hội chính là Phật Thích Ca Mâu Ni làm hội chủ, nhập vào Tam muội Sư Tử Tần Thân, thị hiện mà nói diệu pháp, khiến cho đại chúng “đốn chứng pháp giới”. Hội phụ là các Bồ Tát làm hội chủ, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Văn Thù và các vị thiện tri thức vì Thiện Tài Ðồng Tử mà nói rõ “tiệm chứng pháp giới”. Hội nầy chỉ nói một phẩm:
39. Phẩm Vào Pháp Giới.
Nhưng có hai mươi mốt quyển. Hội nầy là vòng chứng nhập nhân quả, là “y nhân chứng nhập thành đức phần”. Phần trên là mười ba phẩm diệu pháp nói ở tại nhân gian.
Nay giới thiệu sơ lược về bảy nơi, chín hội, ba mươi chín phẩm, hy vọng mọi người ghi nhớ, đợi khi giảng đến phẩm nào thì biết được phẩm đó nói tại đâu, vị Bồ Tát nào nói, có khái niệm như thế thì mới thấu hiểu được.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy là pháp đại thừa, vì pháp thân Bồ Tát mà nói, hoàn toàn là tu bồ đề tâm, hành bồ đề đạo, do đó người tiểu thừa, tuy nhiên đồng ở trong pháp hội, nhưng như điếc như mù, “có mắt chẳng thấy được Lô Xá Na, có tai chẳng nghe được pháp viên đốn”. Vì khi họ ở tại nhân gian thì không tu pháp đại thừa, cho nên không có duyên đắc được lợi ích lớn. Vậy tức nhiên chúng ta chẳng phải là Bồ Tát, lại chẳng phải là A La Hán, tại sao lại nghe được tên Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật, mà còn được nghe diệu pháp Kinh Hoa Nghiêm? Ðó là vì trong quá khứ chúng ta đã gieo căn lành với pháp đại thừa, cho nên hôm nay có duyên được đến nghe pháp, bằng không cũng giống như người tiểu thừa, như điết như mù. Ðây là cơ hội ngàn kiếp khó gặp. Hy vọng mọi người tinh tấn càng tinh tấn, nỗ lực càng nỗ lực, đến nghiên cứu diệu lý của bộ Kinh nầy. Tuy nhiên chỉ dịch ra được bốn vạn năm nghìn bài kệ, nhưng nếu nhớ được một bài kệ thì có diệu dụng vô lượng.
Vào đời đường có vị xuất gia tên là Vương Minh Cán. Vị đó tuy xuất gia làm hoà thượng, nhưng không tu hành. Một ngày nọ, bị quỷ vô thường bắt đi, vị đó gặp Bồ Tát Ðịa Tạng, dạy vị đó một bài kệ Kinh Hoa Nghiêm:
“Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
Nhất thiết duy tâm tạo”.
Nghĩa là:
“Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Hãy quán tánh pháp giới
Hết thảy do tâm tạo”.
Vị đó thấy vua Diêm Vương thì đọc ra bài kệ nầy, do đó được phóng thích. Bài kệ nầy không những cứu được sinh mạng của vị đó, mà cũng cứu được chúng sinh thọ khổ dưới địa ngục. Các bạn thấy đó ! Bài kệ nầy có diệu dụng như thế, cho nên phải tụng Kinh Hoa Nghiêm, phải lạy Kinh Hoa Nghiêm, phải ấn tống Kinh Hoa Nghiêm, thì nhất định có công đức vô lượng.
LỜI NÓI ĐẦU
Tôi tin đây là lần đầu tiên bộ Kinh Hoa Nghiêm này được giảng tại nước Mỹ và các vị cũng là lần đầu tiên được nghe giảng. Hiện tại do thời gian có hạn nên không thể giảng giải chi tiết. Vì sao? Vì nếu giảng quá chi li thì e rằng trong sáu tuần lễ chỉ giảng cái tựa thôi cũng còn chưa xong, vì thế mà nay chỉ có thể giảng một cách sơ lược. Đầu tiên tôi sẽ giảng về xuất xứ của bộ kinh này.
Trong kinh điển nhà Phật thì Kinh Hoa Nghiêm này là vua của các kinh, cũng là vua trong các vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các kinh nhưng không thể xưng là vua trong các vua được. Bộ Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm này được tôn là vua của các vua, là bộ kinh thuộc hệ Đại thừa dài nhất mà Đức Phật đã thuyết, nhưng thời gian Phật thuyết kinh lại không dài lắm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói bộ đại Hoa Nghiêm này chỉ vỏn vẹn trong vòng hai mươi mốt ngày.
Bộ Kinh này có tám mươi mốt quyển, cũng có chỗ chỉ có bốn mươi quyển hay sáu mươi quyển, nhưng tất cả đều không đầy đủ lắm. Ngay cả bộ tám mươi mốt quyển này cũng vậy, chẳng qua là có đủ cả ba phần Tựa, Chính tông và Lưu thông.
Sau khi Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói xong Kinh Hoa Nghiêm thì bộ kinh này không hề được lưu truyền trên thế gian, ngay cả Ấn Độ cũng không có bộ kinh này. Vậy thì bộ kinh này đã bị ai thỉnh đi? Bị Long Vương thỉnh về Long cung để ngày ngày cúng dường lễ bái.
Sau khi Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni diệt độ sáu trăm năm, có một vị Bồ-tát tên Long Thọ, thông minh tuyệt đỉnh, không ai sánh kịp. Ngài đã đọc hết tất cả những áng văn chương, luận nghị, kinh điển có trên thế gian, do đó Bồ tát khởi tâm muốn đến Long cung xem tạng Kinh và Ngài đã tìm được bộ Kinh Hoa Nghiêm này trong cung rồng. Kinh Hoa Nghiêm có ba bản: thượng, trung và hạ. Bản thượng có mười tam thiên đại thiên thế giới vi trần số bài kệ. Quý vị xem là bao nhiêu? Số vi trần của một thế giới đã là vô lượng vô biên rồi, số vi trần của đại thiên thế giới lại càng nhiều hơn.
Sao gọi là đại thiên thế giới? Một núi Tu-di, một mặt trời, một mặt trăng là một thế giới; một nghìn núi Tu-di, một nghìn mặt trời, một nghìn mặt trăng hợp lại làm thành một tiểu thiên thế giới; hợp một nghìn tiểu thiên thế giới lại gọi là một trung thiên thế giới; hợp một nghìn trung thiên thế giới lại gọi là một đại thiên thế giới. Số vi trần trong một đại thiên thế giới là một con số vô cực không thể tính kể. Nay số kệ tụng lại nhiều như số vi trần trong mười tam thiên đại thiên thế giới thì càng không thể đếm xuể.
Bản thượng Kinh Hoa Nghiêm có bao nhiêu phẩm? Bản thượng có số phẩm bằng số vi trần của một tứ thiên hạ. “Một tứ thiên hạ” nghĩa là: “một” tức một ngọn núi Tu-di, “tứ” là bốn châu lớn (Đông Thắng Thần châu, Nam Thiệm Bộ châu, Tây Ngưu Hóa châu, Bắc Câu-lô châu), hợp lại gọi là một tứ thiên hạ. Số phẩm của bản thượng Kinh Hoa Nghiêm nhiều bằng số vi trần của một tứ thiên hạ, quý vị nói xem là bao nhiêu? Tôi cũng không tính được. Bản trung Kinh Hoa Nghiêm có bốn trăm mười chín vạn tám nghìn tám trăm bài kệ, phân làm một nghìn hai trăm phẩm. Bản hạ Kinh Hoa Nghiêm có tám vạn bài kệ, chia làm bốn mươi tám phẩm. Khả năng ghi nhớ của Bồ-tát Long Thọ rất phi thường, Ngài đọc thuộc lòng bản hạ Kinh Hoa Nghiêm và sau khi trở về Ấn Độ đã sao chép ra toàn bộ, sau lại từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa. Bản kinh truyền sang Trung Hoa chỉ có tám mươi quyển, ba mươi chín phẩm, còn lại chín phẩm vẫn chưa được truyền sang.
Đức Thích-ca-mâu-ni Phật giảng Kinh Hoa Nghiêm tại bảy chỗ khác nhau, tổng cộng có chín pháp hội. Nếu quý vị có thể hiểu rõ được nghĩa lý trong bộ Kinh Hoa Nghiêm này thì xem như thấy được toàn thân Phật; nếu quý vị thông suốt được Kinh Lăng Nghiêm là thấy được đỉnh nhục kế của Phật; nếu quý vị thông suốt được Kinh Pháp Hoa thì thấy được thân Phật, nhưng chưa trọn vẹn; nếu quý vị có thể thông suốt được đạo lý trong Kinh Hoa Nghiêm thì sẽ thấy rõ được toàn thân và tuệ mạng của Ngài.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm này ví như biển lớn, còn những kinh khác giống như những dòng sông nhỏ. Những dòng sông nhỏ không thể sánh với biển lớn. Hiện tại trên thế giới, người có thể giảng được Kinh Hoa Nghiêm không phải không có, nhưng số đó đã ít lại càng ít. Nếu nói không có thì nay chẳng phải chúng ta đang giảng đó sao? Thế sao lại có thể nói là không có người! Thậm chí có người học Phật Pháp, học cả một đời mà ngay đến tên Kinh Hoa Nghiêm cũng chưa hề nghe qua, quý vị nói xem người đó đáng thương biết nhường nào! Bộ Kinh Hoa Nghiêm này đừng nói là giảng mà chỉ đọc qua thôi cũng rất ít người đọc qua được một lần. Đọc qua một lần nhanh nhất cũng phải mất hai mươi mốt ngày. Vì thế, bộ kinh này rất khó gặp.
Nói về “thất xứ cửu hội” của bộ kinh này, có một bài kệ như vầy:
Rời cội bồ-đề cửu-Thệ-đa
Ba, bốn Đao-lợi cùng Dạ-ma
Điện Phổ Quang Minh hai, bảy, tám
Tha Hóa, Đâu Suất năm, sáu qua.
Phật thành đạo ở Bồ-đề đạo tràng, tức là ở cội bồ-đề mà nói Kinh Hoa Nghiêm lần đầu tiên, gồm sáu phẩm, mười một quyển; hội thứ hai ở điện Phổ Quang Minh nói được sáu phẩm, bốn quyển; hội thứ ba tại cung trời Đao-lợi nói được sáu phẩm, ba quyển; hội thứ tư ở cõi trời Dạ-ma nói được bốn phẩm, ba quyển; hội thứ năm ở cõi trời Đâu Suất nói được ba phẩm, mười hai quyển; hội thứ sáu ở cõi trời Tha Hóa nói được một phẩm, sáu quyển; hội thứ bảy lại trở về điện Phổ Quang Minh nói được mười một phẩm, mười ba quyển; hội thứ tám cũng ở tại điện Phổ Quang Minh nói được một phẩm, bảy quyển; hội thứ chín ở rừng Thệ-đa nói được một phẩm hai mươi mốt quyển. Rừng Thệ-đa, hiện nay có thể gọi là khu mộ phần, nơi an trí xương cốt người chết. Đó là nói về “thất xứ cửu hội” của bản hạ.
Bản hạ Kinh này ban đầu có ba mươi chín phẩm, bốn mươi bốn vạn năm nghìn bài kệ, về sau truyền vào Trung Hoa, nhưng có chín phẩm, năm vạn năm nghìn bài kệ vẫn chưa được truyền vào. Bộ Kinh này tuy chưa đầy đủ nhưng cũng hoàn bị các phần Tựa, Chính tông và Lưu thông, do vậy mà Quốc sư Thanh Lương đời Đường khi hoằng dương Kinh Hoa Nghiêm đã cho rằng bộ kinh này có thể nói là tạm hoàn bị.
Quốc sư Thanh Lương chính là hóa thân của Bồ-tát Hoa Nghiêm, vì sao nói Ngài là hóa thân của Bồ-tát Hoa Nghiêm? Vì Ngài chuyên giảng Kinh Hoa Nghiêm, không giảng những kinh khác. Quốc sư Thanh Lương tên Trừng Quán, tự Đại Hưu, người Cối Kê, họ Hạ Hầu. Sinh vào thời vua Đường Huyền Tông, niên hiệu Khai Nguyên (713-741) năm Mậu Dần (738). Thân ngài cao chín thước bốn tấc, hai tay dài quá đầu gối và có bốn mươi cái răng. Thông thường răng của chúng ta có ba mươi mấy cái thôi, còn răng có bốn mươi cái là bậc quý nhân, người được như thế rất ít. Răng của Đức Phật có bốn mươi hai cái, còn Quốc sư Thanh Lương thì có bốn mươi cái; trong bóng tối nhìn mắt của Ngài như có luồn sáng, mắt phát ra ánh sáng, còn ban ngày thì giống như những người bình thường, chỉ khác là tròng mắt của Ngài luôn đứng yên không động. Năm thứ tư, niên hiệu Kiến Trung, Ngài đã viết xong bộ Hoa Nghiêm Sớ Sao; bộ sớ sao này là bản chú giải cho Kinh Hoa Nghiêm nổi tiếng nhất.
Trước khi viết bộ Sớ Sao, ngài cầu nguyện chư Bồ-tát trong Hoa Nghiêm Hải Hội gia bị. “Gia bị” chính là giúp đỡ ngài. Có một tối, ngài nằm mộng thấy trên đỉnh núi đều biến thành màu vàng kim. Khi tỉnh mộng, Ngài biết đó là quang minh biến chiếu. Từ đó về sau, ngài viết Hoa Nghiêm Sớ Sao vô cùng thuận lợi, chẳng cần phải nỗ lực suy tư gì cả. Thông thường khi viết văn, phần nhiều chúng ta phải suy nghĩ để viết từng câu từng lời. Còn Ngài không cần phải suy nghĩ, viết nhanh tựa như chép bài vậy. Trải qua bốn năm, Ngài đã chú giải hoàn toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm. Sau khi viết xong ngài lại nằm mộng, cũng không quyết chắc có phải là mộng hay không, nhưng Ngài đã thấy một cảnh giới như vầy nên có thể tạm gọi là mộng. Ngài mộng thấy mình biến thành một con rồng, rồi từ con rồng ấy lại biến thành nghìn nghìn, vạn vạn, vô lượng vô biên con rồng như thế, bay đến những thế giới khác. Đó là Ngài đã thấy được cảnh giới Hoa Nghiêm. Mọi người đều cho rằng đó là biểu trưng cho ý nghĩa của sự lưu thông.
Quốc sư Thanh Lương sống qua hai đời nhà Tùy và Đường với chín triều đại, làm thầy của bảy vị hoàng đế. Sau khi Quốc sư viên tịch, có một vị Tăng Ấn Độ đến Trung Hoa, giữa đường vị ấy gặp hai đồng tử áo xanh, vị Tăng này là người đã chứng quả A-la-hán, Ngài bèn chặn hai đồng tử ở trên hư không lại hỏi:
– Hai vị đi đâu vậy?
Đồng tử đáp:
– Chúng tôi đến Trung Hoa thỉnh răng cấm của Bồ-tát Hoa Nghiêm về điện Văn Thù ở Ấn Độ cúng dường.
Vị La-hán sau khi đến Trung Hoa đã kể cho vua về chuyện hai đồng tử đến thỉnh răng cấm của Bồ-tát Hoa Nghiêm, hình như là chỉ cho Quốc sư Thanh Lương. Thế là vua cho khai tháp của Quốc sư thì quả nhiên phát hiện Quốc sư bị mất một chiếc răng cấm. Những hiện tượng trên thật mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Quý vị xem! Bồ-tát Hoa Nghiêm đã đến Trung Hoa, cho nên Quốc sư Thanh Lương mới có tướng mạo đặc thù như thế.
Căn cứ vào sự phân chia của Quốc sư Thanh Lương về Kinh Hoa Nghiêm thì năm quyển đầu là phần Tựa, năm mươi lăm quyển rưỡi ở giữa là phần Chính tông, mười chín quyển rưỡi sau là phần Lưu thông. Bộ kinh này tuy không được phiên dịch trọn vẹn ra Hán văn, nhưng phần Tựa, phần Lưu thông, phần Chính tông đều có đầy đủ. Những người hoằng truyền Kinh Hoa Nghiêm ở Trung Hoa đều là những vị Đại Bồ-tát, nếu như chẳng phải là cảnh giới của Bồ-tát thì các vị ấy chẳng thể giảng được Kinh Hoa Nghiêm. Cảnh giới Hoa Nghiêm vi diệu mầu nhiệm vô cùng, là sự vi diệu trong vi diệu, là sự nhiệm mầu trong nhiệm mầu.
LONG VƯƠNG DẠY ĐẠO
CHÚNG CON NHỮNG NGƯỜI CON HỌ THIÊN, QUY Y THIÊN TÂM ĐẠO XIN BÁY TỎ LÒNG TRI ÂN ĐẾN ĐỨC NGÀI THIÊN TUẤN KIỆT VỊ THÁI TỬ MANG SỨ MỆNH LẬP ĐẠO KHAI TRUYỀN NỀN ĐẠO TRỜI PHÁP PHẬT CHO MỌI NGƯỜI HƯỚNG VỀ CHA NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ VÀ ĐỨC PHẬT MẪU DIÊU TRÌ. NAM MÔ NHẤT THIÊN THIÊN NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ NAM MÔ NHẤT NHẤT HOÀNG THIÊN ĐẠI THÁNH MẪU. NAM MÔ LONG VƯƠNG CUNG HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. NAM MÔ BỒ TÁT LONG THỌ. CHÚNG CON HỌC ĐẠO VÀ THAM CỨU BỘ KINH HOA NGHIÊM, MỘT BỘ KINH QUÝ BÁU ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI LONG CUNG, NƠI CÁC VỊ VUA RỒNG NGỰ TOẠ. KINH HOA NGHIÊM LÀ BỘ KINH ĐẠI THỪA VỚI NỘI DUNG SIÊU VIỆT TUYỆT LUÂN HÙNG VĨ, TRÁNG LỆ NGUY NGA, THỂ HIỆN. PHÁP THÂN, TƯ TƯỞNG VÀ TÂM NGUYỆN CỦA CHƯ PHẬT. KINH HOA NGHIÊM TRỰC CHỈ BẢN TÁNH CHƠN TÂM THANH TỊNH SÁNG SUỐT THƯỜNG NHIÊN ; LÀ BIẾT TỰ THỂ CỦA CÁC PHÁP HIỆN HÀNH TRONG THẾ GIỚI VŨ TRỤ; LÀ THẤU SUỐT CỘI NGUỒN SANH SANH HOÁ HOÁ CỦA HỮU TÌNH VÀ VÔ TÌNH CHÚNG SANH; LÀ QUÁN CHIẾU BÍ YẾU MẬT NGHĨA VIÊN DUNG TƯƠNG QUAN CỦA TÂM VÀ CẢNH, ĐỂ RỒI TỪ ĐÓ CÓ THỂ THỐNG TRIỆT LÝ VIÊN DUNG VÔ NGẠI CHỦ VÀ KHÁCH CỦA VẠN PHÁP, HIỆN HÀNH SANH HOÁ, TƯƠNG DUYÊN TRONG NHƠN QUẢ, TƯƠNG SANH TƯƠNG DIỆT, TẤT CẢ VẠN PHÁP TOÀN TRIỆT ẢNH HIỆN TRÊN ĐÀI GƯƠNG CHƠN NHƯ THỂ TÁNH. THẾ NÊN, THỌ TRÌ KINH HOA NGHIÊM LÀ BƯỚC VÀO CỬA PHƯƠNG TIÊN CẦU TU HỌC ĐẠO, LÀ NHÂN TỐ ĐẶC THÙ HY HỮU LY VỌNG HOÀN CHƠN. BỘ KINH HOA NGHIÊM ĐƯỢC PHẬT THUYẾT KHI NHẬP ĐẠI ĐỊNH "HẢI ẤN TAM MUỘI" GIẢNG KINH HOA NGHIÊM TRONG 21 NGÀY ĐỂ HOÁ ĐỘ HÀNG THƯỢNG THỪA BỒ TÁT. KINH HOA NGHIÊM ĐƯỢC BẢO TỒN Ở DƯỚI LONG CUNG, DO LONG VƯƠNG BẢO HỘ GIỮ GÌN, VỀ SAU DO NGÀI BỒ TÁT LONG THỌ, NHẬP THIỀN ĐỊNH VÀO BIỂN TÁNH TỲ LÔ GIÁ NA, NGÀI XUỐNG DƯỚI LONG CUNG , ĐỌC VÀ HỌC THUỘC LÒNG KINH, GHI NHỚ BỘ KINH NÀY ,SAU ĐÓ LƯU TRUYỀN TRÊN THẾ GIAN CHO CON NGƯỜI Ở CÕI TA BÀ NÀY HỌC ĐẠO ĐỂ MAU CHỨNG ĐẮC VỀ PHẬT QUẢ, VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ. KINH HOA NGHIÊM NHƯ VẦNG MÂY CÁT TƯỜNG Ở TRONG HƯ KHÔNG, CHIẾU KHẮP BA NGÀN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, NHƯ MƯA PHÁP CAM LỒ, THẤM NHUẦN HẾT THẢY TẤT CẢ CHÚNG SINH. NHƯ ÁNH SÁNG MẶT TRỜI CHIẾU KHẮP ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI, KHIẾN TẤT CẢ CHÚNG SINH ĐỀU ĐƯỢC ẤM ÁP. KINH HOA NGHIÊM NÀY CŨNG NHƯ ĐẠI ĐỊA, LÀM SINH TRƯỞNG TẤT CẢ VẠN VẬT. THIÊN TÂM ĐẠO, PHỤC HƯNG CHÁNH PHÁP CỦA CHƯ PHẬT LƯU TRUYỀN TRONG THẾ GIAN, XIỂN DƯƠNG NỀN ĐẠO TRỜI TỒN TẠI TRONG VŨ TRỤ QUAN, TỪ THUỞ HỒNG HOANG BAN SƠ KHỞI NGUYÊN CHO ĐẾN HÔM NAY. NAM MÔ ĐẠI VỊ THUỶ CUNG, LONG CUNG, LONG VƯƠNG, LONG MẪU, NGŨ VỊ THÁNH MẪU NGŨ CHÂU CHỨNG MINH .
Thứ Tư, 29 tháng 6, 2022
Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022
BỘ KINH HOA NGHIÊM
1. PHẨM THẾ CHỦ DIỆU NGHIÊM THỨ NHẤT (Hán Bộ Từ Quyển 1 Ðến Hết Quyển 5)
2. PHẨM NHƯ LAI HIỆN TƯỚNG THỨ HAI (Hán Bộ Trọn Quyển 6)
3. PHẨM PHỔ HIỀN TAM MUỘI THỨ BA (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 7)
4. PHẨM THẾ GIỚI THÀNH TỰU THỨ TƯ (Hán Bộ Phần Sau Quyển 7)
5. PHẨM HOA TẠNG THẾ GIỚI THỨ NĂM (Hán Bộ Từ Quyển 8 Ðến Hết Quyển 10)
6. PHẨM TỲ LÔ GIÁ NA THỨ SÁU (Hán Bộ Trọn Quyển 11)
7. PHẨM NHƯ LAI DANH HIỆU THỨ BẢY (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 12)
8. PHẨM TỨ THÁNH ÐẾ THỨ TÁM (Hán Bộ Phần Sau Quyển 12)
9. PHẨM QUANG MINH GIÁC THỨ CHÍN (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 13)
10. PHẨM BỒ TÁT VẤN MINH THỨ MƯỜI (Hán Bộ Phần Sau Quyển 13)
11. PHẨM TỊNH HẠNH THỨ MƯỜI MỘT (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 14)
12. PHẨM HIỀN THỦ THỨ MƯỜI HAI (Hán Bộ Phần Sau Quyển 14 Đến Hết Quyển 15)
13. PHẨM THĂNG TU DI SƠN ÐẢNH THỨ MƯỜI BA (Hán Bộ ở Ðầu Quyển 16)
14. PHẨM TU DI ÐẢNH KỆ TÁN THƯ MƯỜI BỐN (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 16)
15. PHẨM THẬP TRỤ THỨ MƯỜI LĂM (Hán Bộ Phần Sau Quyển 16)
16. PHẨM PHẠM HẠNH THỨ MƯỜI SÁU (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 17)
17. PHẨM SƠ PHÁT TÂM CÔNG ÐỨC THỨ MƯỜI BẢY (Hán Bộ Phần Sau Quyển 17)
18. PHẨM MINH PHÁP THỨ MƯỜI TÁM (Hán Bộ Trọn Quyển 18)
19. PHẨM DẠ MA THIÊN CUNG THỨ MƯỜI CHÍN (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 19)
20. PHẨM DẠ MA CUNG KỆ TÁN THỨ HAI MƯƠI (Hán Bộ Phần Giữa Quyển 19)
21. PHẨM THẬP HẠNH THỨ HAI MƯƠI MỐT (Hán Bộ Phần Sau Quyển 19 Ðến Hết Quyển 20)
22. PHẨM VÔ TẬN TẠNG THỨ HAI MƯƠI HAI (Hán Bộ Trọn Quyển 21)
23. PHẨM THĂNG ÐÂU SUẤT THIÊN CUNG THỨ HAI MƯƠI BA (Hán Bộ Trọn Quyển 22)
24. PHẨM ÐÂU SUẤT KỆ TÁN THỨ HAI MƯƠI BỐN (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 23)
25. PHẨM THẬP HỒI HƯỚNG THỨ HAI MƯƠI LĂM (Hán Bộ Phần Sau Quyển 23 Ðến Hết Quyển 33)
26. PHẨM THẬP ÐỊA THỨ HAI MƯƠI SÁU (Hán Bộ Từ Quyển 34 Ðến Quyển 39)
27. PHẨM THẬP ÐỊNH THỨ HAI MƯƠI BẢY (Hán Bộ Quyển 40)
28. PHẨM THẬP THÔNG THỨ HAI MƯƠI TÁM (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 44)
29. PHẨM THẬP NHẪN THỨ HAI MƯƠI CHÍN (Hán Bộ Phần Sau Quyển 44)
30. PHẨM A TĂNG KỲ THỨ BA MƯƠI (Hán Bộ Phần Ðầu Quyển 45)
31. PHẨM THỌ LƯỢNG THỨ BA MƯƠI MỐT (Hán Bộ Phần Giữa Quyển 45)
32. PHẨM CHƯ BỒ TÁT TRỤ XỨ THỨ BA MƯƠI HAI (Hán Bộ Phần Sau Quyển 45)
33. PHẨM PHẬT BẤT TƯ NGHÌ PHÁP THỨ BA MƯƠI BA (Hán Bộ Quyển 46 Ðến Quyển 47)
34. PHẨM NHƯ LAI NHẬP THÂN TƯỚNG HẢI THỨ BA MƯƠI BỐN (Hán Bộ Quyển Phần Ðầu Quyển 48)
35. PHẨM NHƯ LAI TÙY HẢO CÔNG MINH QUANG ÐỨC THỨ BA MƯƠI LĂM (Hán Bộ Phần Sau Quyển 48)
36. PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH THỨ BA MƯƠI SÁU (Hán Bộ Trọn Quyển 49)
37. PHẨM NHƯ LAI XUẤT HIỆN THỨ BA MƯƠI BẢY (Hán Bộ Từ Ðầu Quyển 50 Ðến Hết Quyển 52)
38. PHẨM LY THẾ GIAN THỨ BA MƯƠI TÁM (Hán Bộ Từ Ðầu Quyển 53 Ðến Hết Quyển 59)
39. PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI THỨ BA MƯƠI CHÍN (Hán Bộ Từ Quyển 60 Ðến Hết Quyển 80)
40. PHẨM NHẬP BẤT TƯ NGHÌ GIẢI THOÁT CẢNH GIỚI PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN THỨ BỐN MƯƠI (Hán Bộ Trọn Quyển 81)
Kinh Hoa Nghiêm, gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, là bộ kinh điển trọng yếu hiển bày ý nghĩa tuyệt vời về nhân hạnh quả đức của Phật-đà như tạp hoa trang nghiêm rộng lớn viên mãn, vô tận vô ngại, qua các vị Bồ-tát lớn Phổ Hiền, Văn-thù, sau khi Phật thành đạo tại các nơi như Bồ Đề Tràng v.v…
Bản Hán dịch kinh này có 3 :Bản dịch của Phật-đà-bạt-đà-la, đời Đông Tấn, nhan đề ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM KINH, 60 quyển, vì để phân biệt với bản dịch đời Đường nên được gọi là Cựu dịch Hoa Nghiêm, hoặc Lục thập Hoa Nghiêm.
Bản dịch của Thật-xoa-nan-đà vào đời Đường Võ Chu, nhan đề ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM KINH, 80 quyển, còn gọi Tân dịch Hoa Nghiêm, hoặc Bát thập Hoa Nghiêm.
Bản dịch của Bát-nhã vào niên hiệu Trinh Quán đời Đường, cũng mang tên ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM KINH, 40 quyển, gọi đủ tên là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, gọi tắt là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, hoặc Tứ thập Hoa Nghiêm.
Nguyên bản Phạn văn của bản dịch thứ nhất của kinh này có 36.000 bài kệ, do đệ tử của ngài Huệ Viễn là Pháp Lĩnh mang về từ Vu Điền (nay là vùng Hòa Điền, Tân Cương), được Tam tạng Phật-đà-bạt-đà-la, người Thiên Trúc dịch ra chữ Hán tại chùa Đạo Tràng ở Dương Châu (nay là Nam Kinh) vào ngày mùng 10 tháng 03, niên hiệu Nghĩa Hy thứ 14 đời Tấn (418). Tam tạng tay cầm bản Phạn dịch ra chữ Hán, Pháp Nghiệp bút thọ, Huệ Nghiêm, Huệ Quán … nhuận văn, quan Nội Sử ở Ngô quận tên Mạnh Khải, Hữu vệ tướng quân Chử Thúc Độ làm đàn việt, dịch xong ngày mùng 10 tháng 06, niên hiệu Nguyên Hy thứ 2 (420), hiệu đính hoàn tất vào niên hiệu Vĩnh Sơ thứ 2 đời Lưu Tống (421) (Xem XUẤT TAM TẠNG KÝ TẬP quyển 9). Lúc mới dịch thì chia làm 50 quyển, sau chia lại thành 60 quyển, gồm 34 phẩm trình bày việc thuyết pháp tại 8 hội, 7 chỗ. Về sau, vào tháng 03 niên hiệu Vĩnh Long nguyên niên (680) đời Đường, ngài Tam tạng Địa-bà-ha-la, người Thiên Trúc và ngài Pháp Tạng hiệu khám kinh này, thấy trong Phẩm Nhập Pháp Giới còn thiếu sót, Ngài từ bản Phạn dịch thêm một đoạn văn từ "Ma-da Phu Nhân …" đến "Di-lặc Bồ-tát" bổ sung vào (Xem HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ quyển 1), thành ra bộ Kinh Hoa Nghiêm 60 quyển đang hiện hành.
Nguyên bản Phạn văn của bản dịch 80 quyển, gồm 45.000 bài tụng, do Võ Tắc Thiên đời Đường sai sứ đến Vu Điền mang về, và thỉnh ngài Tam tạng Thật-xoa-nan-đà, người Vu Điền, bắt đầu dịch tại chùa Đại Biến Không ở Lạc Dương vào ngày 14 tháng 03, niên hiệu Chứng Thánh nguyên niên (695), đích thân Võ Hậu đến dịch trường đề tên phẩm đầu tiên, các ngài Bồ-đề-lưu-chí, Nghĩa Tịnh đồng tuyên bản Phạn, các ngài Phục Lễ, Pháp Tạng tham dự bút thọ, nhuận văn, đến ngày 18 tháng 10, niên hiệu Thánh Lịch thứ 2 (699) dịch xong tại chùa Phật Thọ Ký (Xem KHAI NGUYÊN THÍCH GIÁO LỤC quyển 9), thành 80 quyển, chia làm 39 phẩm, gồm việc thuyết pháp tại 7 chỗ (đồng bản Cựu dịch), 9 hội (8 hội đồng Cựu dịch, thêm 1 hội Phổ Quang Pháp Đường). Về sau, ngài Pháp Tạng thấy trong Phẩm Nhập Pháp Giới của kinh này còn có chỗ thiếu sót, Ngài mới cùng với Địa-bà-ha-la hiệu khám Phạn văn, ở đầu quyển 80 từ "Bồ-tát Di-lặc" cho đến "ở trước tam thiên đại thiên thế giới vi trần số thiện tri thức" bổ sung vào 15 hàng "Văn-thù duỗi tay xoa đầu Thiện Tài" (Xem HOA NGHIÊM KINH SỚ quyển 3, HOA NGHIÊM LƯỢC SÁCH), tức là bản 80 quyển đang lưu hành hiện nay.
Nguyên bản Phạn văn của bản dịch thứ ba, 40 quyển của kinh này gồm 16.700 bài kệ (Xem TRINH NGUYÊN THÍCH GIÁO LỤC quyển 17) là bản do chính tay nhà vua nước Ô-đồ, Nam Thiên Trúc sao chép sai sứ đem tặng vua Đường vào tháng 11 niên hiệu Trinh Quán thứ 11 (795). Tháng 6 năm sau (796), Đường Đức Tông thỉnh Tam tạng Bát-nhã phiên dịch tại chùa Sùng Phước ở Trường An, Quảng Tế dịch ngữ, Viên Chiếu bút thọ, Trí Nhu, Trí Thông biên tập, Đạo Hoằng, Giám Linh nhuận văn, Đạo Chương, Đại Thông chứng nghĩa, Trừng Quán, Linh Thúy … tường định, đến tháng 2 năm thứ 14 (798) dịch xong, thành 40 quyển. Nội dung bộ này đồng với Phẩm Nhập Pháp Giới của hai bản Cựu dịch và Tân dịch nói trên, nhưng trên văn tự tăng thêm rất nhiều, nhất là quyển thứ 40 có mười đại hạnh nguyện và bài Phổ Hiền quảng đại nguyện vương thanh tịnh kệ mà trong hai bản dịch Kinh Hoa Nghiêm trước chưa có.
Ngoài ba bản dịch kể trên, cũng có không ít một phẩm nào đó hoặc một phần nào đó của kinh này được truyền dịch ở Trung Quốc. Như trong thế kỷ II, đời Hậu Hán, Chi-lâu-ca-sấm đã từng dịch Kinh Đâu Sa 1 quyển tại Lạc Dương, đây là bản dịch biệt hành đầu tiên của kinh này. Chi Khiêm đời Ngô, Trúc Pháp Hộ, Nhiếp Đạo Chân đời Tây Tấn cho đến các đời Nam Bắc Triều, Tùy, Đường đều có bản dịch biệt hành của kinh này, trong HOA NGHIÊM KINH TRUYỆN KÝ quyển 1 của Pháp Tạng có liệt kê 35 bộ của bản dịch biệt hành kinh này.
Nay đem các bản biệt hành hiện còn đối chiếu với các phẩm trong bản dịch đời Đường như sau :Phật Thuyết Đâu Sa Kinh, 1 quyển (phẩm Như Lai Danh Hiệu, phẩm Quang Minh Giác), Chi-lâu-ca-sấm dịch vào đời Hậu Hán.
Phật Thuyết Bồ-tát Bản Nghiệp Kinh, 1 quyển (phẩm Tịnh Hạnh, phẩm Thập Trụ), Chi Khiêm dịch vào đời Ngô.
Chư Bồ-tát Cầu Phật Bản Nghiệp Kinh, 1 quyển (phẩm Tịnh Hạnh), Nhiếp Đạo Chân dịch vào đời Tây Tấn.
Bồ-tát Thập Trụ Hành Đạo Phẩm, 1 quyển (phẩm Thập Trụ), Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
Bồ-tát Thập Trụ Kinh, 1 quyển (phẩm Thập Trụ), Kỳ-đa-mật dịch vào đời Đông Tấn.
Tiệm Bị Nhất Thiết Trí Đức Kinh, 5 quyển (phẩm Thập Địa), Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
Thập Trụ Kinh, 4 quyển (phẩm Thập Địa), Cưu-ma-la-thập dịch vào đời Hậu Tần.
Phật Thuyết Thập Địa Kinh, 9 quyển (phẩm Thập Địa), Thi-la-đạt-ma dịch vào đời Đường.
Đẳng Mục Bồ-tát Sở Vấn Tam-muội Kinh, 3 quyển (phẩm Thập Định), Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
Hiển Vô Biên Phật Độ Công Đức Kinh, 1 quyển (phẩm Thọ Lượng), Huyền Trang dịch vào đời Đường.
Phật Thuyết Giảo Lượng Nhất Thiết Phật Sát Công Đức Kinh (phẩm Thọ Lượng), Pháp Hiền dịch vào đời Tống.
Phật Thuyết Như Lai Hưng Hiển Kinh, 4 quyển (phẩm Như Lai Xuất Hiện), Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
Độ Thế Phẩm Kinh, 6 quyển (phẩm Ly Thế Gian), Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn.
Phật Thuyết La-ma-ca Kinh, 3 quyển (phẩm Nhập Pháp Giới), Thánh Kiên dịch vào đời Tây Tần.
Văn-thù-sư-lợi Phát Nguyện Kinh, 1 quyển (phẩm Nhập Pháp Giới), Phật-đà-bạt-đà-la dịch vào đời Đông Tấn.
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm, 1 quyển (phẩm Nhập Pháp Giới), Địa-bà-ha-la dịch vào đời Đường.
Phật Hoa Nghiêm Nhập Như Lai Trí Đức Bất Tư Nghị Kinh, 2 quyển (hội Phổ Quang Pháp Đường), Xà-na-quật-đa dịch vào đời Tùy.
Đại Phương Quảng Nhập Như Lai Trí Đức Bất Tư Nghị Kinh, 1 quyển (hội Phổ Quang Pháp Đường), Thật-xoa-nan-đà dịch vào đời Đường.
Đại Phương Quảng Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh, 1 quyển (biệt bản Hoa Nghiêm), Thật-xoa-nan-đà dịch vào đời Đường.
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Bất Tư Nghị Phật Cảnh Giới Phần, 1 quyển (biệt bản Hoa Nghiêm), Đề Vân Bát-nhã dịch vào đời Đường.
Đại Phương Quảng Phổ Hiền Sở Thuyết Kinh, 1 quyển (biệt bản Hoa Nghiêm), Thật-xoa-nan-đà dịch vào đời Đường.
Đến như Kinh Hoa Nghiêm 40 quyển do ngài Bát-nhã dịch vào đời Đường cùng đồng dạng là bản biệt hành của phẩm Nhập Pháp Giới trong toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm.
Bản dịch Tạng văn của kinh này do các ngài Thắng Hữu, Thiên Vương Bồ-đề người Ấn Độ và ngài Trí Quân người Tây Tạng cộng tác phiên dịch từ Phạn văn, ngài Biến Chiếu Hộ hiệu đính thành 115 quyển (Nại Đường Mục Lục ghi 130 quyển, Đức Cách Mục Lục ghi 116 quyển, thật ra là 115 quyển), chia làm 45 phẩm; 44 phẩm đầu tương đương với 38 phẩm đầu của bản dịch đời Đường, phẩm thứ 45 tương đương với phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39 của bản dịch đời Đường. Bản Tạng dịch so với bản Hán dịch, có thêm phẩm thứ 11 và phẩm thứ 32, ngoài ra, văn cú trong các phẩm khác cũng có thêm bớt chút ít.
Về bản Phạn của kinh này, như NHIẾP ĐẠI THỪA LUẬN THÍCH q. 15, bản dịch đời Lương ghi : Kinh Hoa Nghiêm có 100.000 bài kệ, nên gọi là Bách Thiên Kinh. Còn HOA NGHIÊM KINH TRUYỆN KÝ q. 1 nói : Theo truyền thuyết, Hoa Nghiêm Kinh Đại Bất Tư Nghị Giải Thoát này có ba bản, hai bản Thượng và Trung ẩn giấu chẳng truyền, bản Hạ có 100.000 bài kệ, 48 phẩm, hiện đang lưu truyền tại Thiên Trúc. Ở đây nói bản Hạ 100.000 bài kệ hiện đang lưu hành tại Thiên Trúc rất phù hợp với Kinh Bất Tư Nghị Giải Thoát có 100.000 bài kệ được ghi trong Luận Đại Trí Độ q.100, và Kinh Hoa Nghiêm bản Phạn có 100.000 bài kệ được đề cập tới trong Lục thập Hoa Nghiêm Hậu Ký, bản dịch đời Tấn, đủ chứng minh kinh này cũng có tên Kinh Bất Tư Nghị Giải Thoát gồm 100.000 bài kệ mà Kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm là một phần trong đó. Như TRINH NGUYÊN THÍCH GIÁO LỤC q. 17 ghi : "Bản Phạn của Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm gồm có 6 pho, 100.000 bài kệ, đời Đường đã dịch 80 quyển tương đương với pho thứ 2; Kinh Hoa Nghiêm mà quốc vương Nam Thiên Trúc đã từng giảng là pho thứ 3 (tức bản Phạn Tứ thập Hoa Nghiêm do ngài Bát-nhã dịch) có 16.700 bài kệ". TỨ THẬP HOA NGHIÊM KINH HẬU KÝ cũng nói bản Phạn này là bản Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm đã được vua nước Ô-đồ ở Nam Thiên Trúc tự tay biên chép, trong 100.000 bài kệ ấy có phẩm "Đồng tử Thiện Tài thân cận thừa sự 55 vị thiện tri thức bậc Thánh trong số Phật sát vi trần số thiện tri thức nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện". Tham khảo thêm Thập Địa Kinh Luận của Thế Thân, cùng các Thích Luận của các ngài Kim Cương Quân, Kiên Huệ giải thích phẩm Thập Địa của kinh này; Luận Đại Thừa Tập Bồ-tát Học của Tịch Thiên cũng dẫn dụng kệ tụng của phẩm Hiền Thủ trong kinh này, thì có thể thấy phẩm Nhập Pháp Giới, phẩm Thập Địa chođến các phẩm khác của kinh này, tại Ấn Độ thời cổ đại đã trở thành từng kinh riêng lẻ lưu hành. Trong đó, phẩm Nhập Pháp Giới (tức Tứ thập Hoa Nghiêm) và phẩm Thập Địa là 2 trong 9 bộ kinh lớn được đọc tụng rộng rãi từ xưa đến nay trong giới Phật giáo Népal, nhờ đó mà bản Phạn của 2 phẩm này được bảo tồn cho đến nay. Đến thế kỷ XIX, bản Phạn của 2 phẩm này cùng với các sách chữ Phạn khác lại do Nepal lưu truyền đến các quốc gia Ấn Độ, Anh, Pháp, Nhật Bản v.v… và được hiệu khám xuất bản. Bản Phạn phẩm Thập Địa hiện đang lưu hành là bản do Cận Đằng Hoảng Diệu hiệu san (Đông Kinh, 1936), phẩm Nhập Pháp Giới do Linh Mộc Đại Chuyết và Tuyền Phương Cảnh hiệu san (Đông Đô, 1934-1936), Phổ Hiền Bồ-tát Hạnh Nguyện Tán do Độ Biên Hải Húc hiệu san (1902). Còn các bản Phạn của các phẩm khác dường như đều đã thất lạc, chưa thấy phát hiện.
Trong các bản Hán dịch kinh này, bản 80 quyển dịch vào đời Đường, văn nghĩa lưu loát nhất, phẩm mục hoàn bị hơn hết, vì thế được lưu truyền rộng rãi tại Trung Quốc. Sau đây, nội dung Kinh Hoa Nghiêm sẽ được lược thuật theo bản dịch này.
Kinh Hoa Nghiêm bản dịch đời Đường được hình thành từ 9 hội thuyết pháp :
- Hội thứ nhất :
Phật mới thành Chánh giác tại Bồ-đề đạo tràng, đạo tràng được trang nghiêm bằng vô lượng diệu bảo, thân Phật Giá-na vạn đức viên mãn ngồi tên tòa kim cang. Số Bồ-tát nhiều như số vi trần của mười phương thế giới cho đến các vị thần Kim cang lực sĩ, chư thiên, vị nào cũng đầy đủ vô lượng công đức, cùng một lúc nhóm họp, mỗi vị đều nói thi kệ ca tụng Đức Phật. Tất cả thế giới trong Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải cũng đều đồng thời hội nhập vào Phật cảnh giới. (Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm, 1).
Các Bồ-tát và tất cả Thế gian chủ nói kệ hỏi Phật, Phật hiện điềm lành phóng hào quang nói kệ đáp, rồi lại hiện thần biến. Các vị Bồ-tát như Nhất Thiết Pháp Thắng Âm … mỗi vị đều nói kệ ca tụng Phật. (Phẩm Như Lai Hiện Tướng, 2).
Bấy giờ, Bồ-tát Phổ Hiền nhập Phật tam-muội, được chư Phật ngợi khen, xoa đầu, từ tam-muội dậy, tất cả các Đức Như Lai khắp mười phương đều phóng hào quang ngợi khen Bồ-tát Phổ Hiền, tất cả Bồ-tát cùng đồng ca tụng. (Phẩm Phổ Hiền Tam-muội, 3).
Bồ-tát Phổ Hiền nhờ thần lực Phật nói với các Bồ-tát của hải chúng trong đạo tràng về 10 vấn đề như : Thế giới hải …, phân biệt trình bày về hình tướng và nguyên nhân của thế giới khắp mười phương. (Phẩm Thế Giới Thành Tựu, 4).
Bồ-tát Phổ Hiền lại nói về Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải được trang nghiêm bằng vô lượng diệu bảo, do công đức tu hành xưa kia của Đức Tỳ-lô-giá-na, cho đến sự trang nghiêm và danh hiệu chư Phật của tất cả thế giới trong thế giới hải. (Phẩm Hoa Tạng Thế Giới, 5).
Bồ-tát Phổ Hiền lại nói đây là do tiền thân của Đức Tỳ-lô-giá-na ở đời quá khứ, lúc còn làm Thái tử Đại Oai Quang đã cúng dường chư Phật, đã tu vô lượng diệu hạnh, mà thành tựu được công đức trang nghiêm rộng lớn này. (Phẩm Tỳ-lô-giá-na, 6).
- Hội thứ hai :
Phật ngồi trên tòa hoa sen trong điện Phổ Quang Minh, hiển hiện thần biến, các Bồ-tát ở khắp mười phương đều đến nhóm họp. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nhờ oai lực của Phật nói với các vị Bồ-tát về danh hiệu Phật, do vì tùy theo sự thấy biết khác nhau của chúng sanh mà Như Lai có vô lượng danh hiệu bất đồng, vì chúng thuyết pháp. (Phẩm Như Lai Danh Hiệu, 7).
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại nói về các tên gọi khác nhau của bốn Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo trong cõi Ta-bà và tên gọi bốn Thánh đế vô lượng bất đồng trong tất cả thế giới ở khắp mười phương, đều tùy theo tâm chúng sanh mà khiến cho họ được điều phục. (Phẩm Tứ Thánh Đế, 8).
Bấy giờ, từ tướng bánh xe nghìn căm dưới lòng hai bàn chân Phật phóng ánh sáng chiếu khắp mười phương, đều hiện Phật sự, ngài Văn-thù-sư-lợi nói kệ ca tụng vô biên công đức hạnh nguyện của Phật. (Phẩm Quang Minh Giác, 9).
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và chín vị Bồ-tát như Giác Thủ … hỏi đáp qua lại về mười minh môn Phật pháp sâu xa. (Phẩm Bồ-tát Vấn Minh, 10).
Bồ-tát Trí Thủ hỏi, ngài Văn-thù-sư-lợi đáp về 140 hạnh nguyện thanh tịnh phát khởi vì lợi ích chúng sanh từ ba nghiệp thân, ngữ, ý của Bồ-tát. (Phẩm Tịnh Hạnh, 11).
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hỏi, Bồ-tát Hiền Thủ dùng kệ đáp về các vấn đề vô lượng công đức thù thắng, tín nguyện chắc thật, định huệ thành tựu viên mãn … của Bồ-tát. (Phẩm Hiền Thủ, 12).
- Hội thứ ba :
Đức Phật không rời cây Bồ-đề, bay lên cung điện Đế-thích trên đỉnh núi Tu-di, Đế-thích trang hoàng cung điện, cung nghinh Đức Phật, rồi cùng chư Thiên nói kệ ca tụng Phật. (Phẩm Thăng Tu Di Sơn Đảnh, 13).
Các Bồ-tát như Pháp Huệ … từ cõi nước Phật ở mười phương cùng đến nhóm họp, mỗi vị đều nói kệ ca tụng vô lượng công đức thắng diệu của Phật đã tu hành. (Phẩm Tu Di Đảnh Thượng Kệ Tán, 14).
Do oai lực của Phật, Bồ-tát Pháp Huệ nhập tam-muội Vô Lượng Phương Tiện, được chư Phật ngợi khen và xoa đầu, Bồ-tát Pháp Huệ xuất định nói rộng về pháp môn Thập trụ, trong mỗi trụ đều có mười pháp văn, tu. (Phẩm Thập Trụ, 15).
Bấy giờ, Thiên tử Chánh Niệm đến hỏi, Bồ-tát Pháp Huệ tuyên thuyết về các pháp quán vô tướng để tu tập phạm hạnh. (Phẩm Phạm Hạnh, 16).
Trời Đế-thích đến hỏi, Bồ-tát Pháp Huệ tuyên thuyết về các công đức vô lượng của Bồ-tát mới phát tâm Bồ-đề, phát tâm thì có thể bình đẳng với Phật, cũng vô sở đắc. (Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức, 17).
Bồ-tát Tinh Tấn Huệ hỏi : Bồ-tát mới phát tâm phải tu tập như thế nào ? Bồ-tát Pháp Huệ đáp về các pháp môn phải tu và phải thành tựu như là : mười bất phóng dật, đắc mười thanh tịnh, mười Phật hoan hỷ, mười pháp an trụ, mười pháp nhập địa, mười pháp hạnh thanh tịnh, mười thanh tịnh nguyện, mười pháp viên mãn đại nguyện, mười vô tận tạng v.v… (Phẩm Minh Pháp, 18).
- Hội thứ tư :
Phật lên cung trời Dạ-ma, vua trời Dạ-ma trang hoàng cung điện, thiết tòa nghinh thỉnh Như Lai, nói kệ ca tụng Phật, đức Phật thăng tòa. (Phẩm Thăng Dạ-ma Thiên Cung, 19).
Các Bồ-tát nhiều như vi trần, đó là : Bồ-tát Công Đức Lâm … đều đến nhóm họp, mười vị Đại Bồ-tát, mỗi vị đều nói kệ ca tụng hạnh nguyện công đức trùm khắp pháp giới của Phật. (Phẩm Dạ-ma Cung Trung Kệ Tán, 20).
Nhờ oai lực của Phật, Bồ-tát Công Đức Lâm nhập tam-muội Thiện Tư Duy, được chư Phật khen ngợi xoa đầu. Bồ-tát Công Đức Lâm xuất định nói rộng về pháp môn Thập Hạnh, và phân biệt hành tướng của mỗi hạnh. (Phẩm Thập Hạnh, 21).
Bồ-tát Công Đức Lâm lại nói với các Bồ-tát về từng hành tướng thập Vô tận tạng của Bồ-tát. Do đây khiến cho mọi người tu hành đều thành tựu Vô tận tạng. (Phẩm Thập Vô Tận Tạng, 22).
- Hội thứ năm :
Phật lên cung trời Đâu-suất, vua trời Đâu-suất trang hoàng cung điện, tòa ngồi nghinh thỉnh Như Lai, nói kệ ca tụng Phật, Đức Phật thăng tòa. (Phẩm Thăng Đâu-suất Thiên Cung, 23).
Mười vị Đại Bồ-tát như Kim Cang Tràng … và số Bồ-tát nhiều như vi trần từ các thế giới Phật khắp mười phương đến nhóm họp. Mỗi vị đều nói kệ ca tụng công đức của Phật. (Phẩm Đâu-suất Cung Trung Kệ Tán, 24).
Do oai lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tràng nhập tam-muội Trí Quang, được chư Phật ngợi khen và xoa đầu. Bồ-tát Kim Cang Tràng xuất định, nói rộng với các Bồ-tát về pháp môn Thập Hồi hướng và phân biệt giải thích hành tướng tu hành của từng giai vị. (Phẩm Thập Hồi Hướng, 25).
- Hội thứ sáu :
Phật ở Ma-ni bảo điện trên cung trời Tha Hóa Tự Tại, các vị Đại Bồ-tát từ khắp mười phương đều đến nhóm họp. Bấy giờ, do oai lực của Phật, Bồ-tát Kim Cang Tạng nhập tam-muội Đại Trí Huệ Quang Minh, được chư Phật khen ngợi và xoa đầu. Bồ-tát Kim Cang Tạng xuất định nói với đại chúng về tên gọi của Thập địa. Bấy giờ, các Bồ-tát như Giải Thoát Nguyệt … thỉnh ngài giải thuyết, Phật cũng phóng hào quang hỗ trợ oai thần, Bồ-tát Kim Cang Tạng bèn nói với đại chúng về hành tướng sâu xa của pháp môn Thập địa. (Phẩm Thập Địa, 26).
- Hội thứ bảy :
Phật đang ở tại điện Phổ Quang Minh, Bồ-tát Phổ Nhãn hỏi Phật về diệu hạnh tam-muội mà Bồ-tát Phổ Hiền đã tu. Phật bảo ngài nên tự đến hỏi Bồ-tát Phổ Hiền. Bấy giờ đại chúng mong muốn thấy được Bồ-tát Phổ Hiền và ân cần đảnh lễ, Bồ-tát Phổ Hiền dùng thần lực xuất hiện, nói với đại chúng về pháp môn cao sâu của mười đại tam-muội. (Phẩm Nhập Định, 27).
Bồ-tát Phổ Hiền nói với đại chúng về mười thứ thần thông. (Phẩm Thập Thông, 28).
Bồ-tát Phổ Hiền nói với đại chúng về mười thứ pháp nhẫn. (Phẩm Thập Nhẫn, 29).
Bồ-tát Tâm Vương hỏi, Đức Phật đáp về số lượng a-tăng-kỳ bất khả thuyết, và sự lý của các pháp thế gian, xuất thế gian bất khả thuyết. (Phẩm A-tăng-kỳ, 30).
Bồ-tát Tâm Vương nói với đại chúng về thọ lượng của thế giới chư Phật và so sánh sự dài ngắn của chúng. (Phẩm Thọ Lượng, 31).
Bồ-tát Tâm Vương nói với đại chúng về trụ xứ của các Bồ-tát ở mười phương và địa danh thường trú thuyết pháp của các ngài. (Phẩm Chư Bồ-tát Trụ Xứ, 32).
Bấy giờ, các vị Bồ-tát mong muốn được biết về những việc không thể nghĩ bàn như là cõi nước, bản nguyện, dòng họ, sự xuất hiện, thân Phật, âm thanh, trí huệ, tự tại, vô ngại, giải thoát của Phật. Phật liền gia trì Bồ-tát Thanh Liên Hoa Tạng nói với Bồ-tát Liên Hoa Tạng về mười pháp môn không thể nghĩ bàn của chư Phật sở trụ. (Phẩm Phật Bất Tư Nghì Pháp, 33).
Bồ-tát Phổ Hiền nói với các Bồ-tát về thân tướng trang nghiêm của Phật, nói sơ lược có 97 tướng đại nhân, cho đến tướng đại nhân nhiều như số vi trần trong mười Hoa Tạng thế giới hải. (Phẩm Như Lai Thập Thân Tướng Hải, 34).
Phật nói với Bồ-tát Bảo Thủ về tùy hình hảo của Như Lai, trong mỗi tùy hình hảo đều có ánh sáng chiếu soi khắp pháp giới, có năng lực cứu khổ địa ngục, sanh lên trời Đâu-suất cho đến chứng đắc công đức rộng lớn vô tận của Thập địa … (Phẩm Như Lai Tùy Hảo Quang Minh Công Đức, 35).
Bồ-tát Phổ Hiền nói với đại chúng về việc Phật vì cởi mở sự trói buộc cho chúng sanh, nên răn dạy tâm sân hận hay làm chướng ngại trăm vạn pháp môn, do đó cần phải siêng năng tu tập mười pháp, đủ mười thanh tịnh, mười trí rộng lớn, đắc mười thứ phổ nhập, trụ nơi mười tâm thắng diệu, được mười trí thiện xảo của Phật pháp. (Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, 36).
Bấy giờ, Phật phóng ánh sáng giữa chặng mày tên gọi là Như Lai Xuất Hiện Quang. Bồ-tát Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức hỏi Phật về đại pháp. Phật lại phóng ánh sáng vào miệng Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Phổ Hiền liền nói rộng về việc Đức Phật dùng mười vô lượng pháp xuất hiện, dùng mười vô lượng trăm nghìn a-tăng-kỳ hạnh để được thành tựu. Nói xong, chư Phật ngợi khen và thọ ký cho hội chúng. Cuối cùng, Bồ-tát Phổ Hiền nói kệ tụng khuyên đại chúng thọ trì. (Phẩm Như Lai Xuất Hiện, 37).
- Hội thứ tám :
Phật đang ở tại điện Phổ Quang Minh, Bồ-tát Phổ Hiền nhập tam-muội Phật Hoa Tạng Trang Nghiêm, từ tam-muội dậy, Bồ-tát Phổ Huệ hỏi 200 vấn đề như là : y chỉ của Bồ-tát, công hạnh của Bồ-tát, cho đến Phật thị hiện nhập niết-bàn …, Bồ-tát Phổ Hiền dùng mười đáp một, phân biệt diễn nói 2000 pháp môn. Chư Phật hiện tiền khen ngợi. Bồ-tát Phổ Hiền dùng kệ tụng nói lại công hạnh tu hành của Bồ-tát. (Phẩm Ly Thế Gian, 38).
- Hội thứ chín :
Phật ở rừng Thệ-đa cùng với 500 vị Đại Bồ-tát như Văn-thù, Phổ Hiền, các vị Đại Thanh văn và vô lượng Thế chủ nhóm họp. Phật dùng đại bi nhập tam-muội Sư Tử Tần Thân chiếu khắp mười phương thế giới trang nghiêm, mỗi thế giới đều có bất khả thuyết sát vi trần số Bồ-tát đến dự hội, mỗi vị đều hiện thần biến cúng dường. Các vị Đại Thanh văn chẳng thấy, chẳng biết. Mười vị Đại Bồ-tát nói kệ ca tụng Phật. Bồ-tát Phổ Hiền diễn nói mười pháp cú về tam-muội Sư Tử Tần Thân này.
Phật lại hiển hiện tướng các thần biến, các pháp môn, các tam-muội. Bồ-tát Văn-thù nói kệ xưng tán, các Bồ-tát đắc vô số pháp môn đại bi, đem lại sự lợi lạc cho chúng sanh khắp mười phương.
Bồ-tát Văn-thù và đại chúng giã từ Đức Phật để đi về phương Nam. Tôn giả Xá-lợi-phất cùng 6000 Tỳ-kheo cũng nhờ thần lực Phật phát tâm cùng đi về phương Nam. Các ngài đi đến phía đông Phước Thành tại Đại tháp miếu trong rừng ta-la Trang Nghiêm Tràng thuyết pháp. Lúc ấy đồng tử Thiện Tài và 2000 người đến đảnh lễ nghe pháp, phát tâm bồ-đề. Trong số đó, đồng tử Thiện Tài nhất tâm cầu đạo Bồ-tát, nói kệ thỉnh giáo, Văn-thù-sư-lợi chỉ dạy ngài đi tham học với các thiện tri thức. Đồng tử Thiện Tài đi về phương Nam lần lượt tham phỏng 53 vị thiện tri thức, từ Tỳ-kheo Đức Vân đến Bồ-tát Di-lặc, nghe nhận được vô số pháp môn cam-lồ rộng lớn, sau cùng gặp Bồ-tát Phổ Hiền. Từ sự khai thị của Phổ Hiền, ngài lần lượt đắc chư hạnh nguyện hải của Bồ-tát Phổ Hiền, cuối cùng ngài chứng nhập pháp giới. Kết thúc, Bồ-tát Phổ Hiền nói kệ ca tụng công đức rộng lớn như biển cả của Phật.
Sau khi bản Tân dịch Kinh Hoa Nghiêm xuất hiện, từ thế kỷ VIII về sau, các học giả Trung Quốc đều y cứ vào bản Tân dịch này diễn giảng, sớ thích. Nhưng trước khi bản Tân dịch này xuất hiện, ngài Hiền Thủ (Pháp Tạng) diễn giảng, sớ thích đều y cứ vào bản 60 quyển được dịch vào đời Tấn. Do đó, đối với văn nghĩa của kinh này, trong hai tác phẩm nổi tiếng của ngài Hiền Thủ là Thám Huyền Ký và Văn Nghĩa Cương Mục đều y cứ vào bản Cựu dịch, đem toàn kinh chia làm 5 phần :
1. Phần giáo khởi nhân duyên (phẩm Thế Gian Tịnh Nhãn, bản Cựu dịch), đây là phần tựa của toàn kinh.
2. Phần quyền quả khuyến nhạo sanh tín (phẩm Lô-xá-na Phật, bản Cựu dịch) hiển bày quả đức và nhân hạnh quá khứ của Phật Lô-xá-na khuyên sanh niềm tin.
3. Phần tu nhân khế quả sanh giải (13 phẩm từ phẩm Như Lai Danh Hiệu, đến phẩm Bảo Vương Như Lai Tánh Khởi, bản Cựu dịch) hiển thị nhân hạnh của Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Phật quả sở khế, để khiến sanh giải.
4. Phần thác pháp tiến tu thành hạnh (phẩm Ly Thế Gian, bản Cựu dịch) hiển thị nương theo hành pháp của các Bồ-tát, từ sự tiến tu thành hạnh Bồ-tát.
5. Phần y nhân nhập chứng thành đức (phẩm Nhập Pháp Giới, bản Cựu dịch), hiển thị do sự dẫn dắt của thiện tri thức, chứng nhập pháp giới, thành tựu quả đức.
Lại phân phán nội dung kinh này thành 5 chu nhân quả :
1. Sở tín nhân quả (phẩm Lô-xá-na Phật, bản Cựu dịch).
2. Sai biệt nhân quả (25 phẩm từ phẩm Như Lai Danh Hiệu đến phẩm Bồ-tát Trụ Xứ là nhân sai biệt; 3 phẩm từ phẩm Phật Bất Tư Nghì Pháp đến phẩm Phật Tiểu Tướng Quang Minh Công Đức là quả sai biệt).
3. Bình đẳng nhân quả (phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Hạnh, bản Cựu dịch, là bình đẳng nhân; phẩm Bảo Vương Như Lai Tánh Khởi, bản Cựu dịch, là bình đẳng quả).
4. Thành hạnh nhân quả (phẩm Ly Thế Gian, bản Cựu dịch).
5. Chứng nhập nhân quả (phẩm Nhập Pháp Giới, bản Cựu dịch).
Nối tiếp theo sau, Hoa Nghiêm Kinh Sớ (quyển 4) của ngài Thanh Lương cũng dùng thuyết 5 phần và thuyết 5 chu nhân quả này để phân nhiếp văn nghĩa của 39 phẩm trong bộ Tân dịch 80 quyển. Và sự phân phán này đã thành thông luận của các Sư thuộc tông Hiền Thủ xưa nay khi giải thích kinh này.
Các nhà chú giải xưa nay đều phân khoa kinh này thành ba phần : Tự, Chánh tông và Lưu thông. Các nhà đều lấy phẩm đầu tiên làm phần Tự. Phẩm Lô-xá-na Phật (tức phẩm Như Lai Hiện Tướng, bản Tân dịch) trở đi làm phần Chánh tông. Ngay từ xưa, phần Lưu thông của kinh này đã có nhiều ý kiến khác nhau, như ngài Huệ Quang, đời Bắc Ngụy lấy phẩm Nhập Pháp Giới làm phần Lưu thông; ngài Huệ Viễn đời Tùy lấy đoạn Đồng tử Thiện Tài trở xuống trong phẩm Nhập Pháp Giới làm phần Lưu thông; ngài Linh Dụ đời Tùy lấy bài kệ tụng cuối cùng làm phần Lưu thông; còn có người nói kinh này chưa kết thúc do đó không có phần Lưu thông; có người nói lấy kinh quyến thuộc của kinh này làm phần Lưu thông; có người nói kinh này thuyết pháp vô tận không dừng do đó không có phần Lưu thông.
Trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ, ngài Trừng Quán nhìn nhận thuyết của ngài Huệ Viễn là hợp lý, vì thế Ngài cũng lấy từ đoạn Đồng tử Thiện Tài trở xuống trong phẩm Nhập Pháp Giới làm phần Lưu thông. Và thuyết này về sau trở thành thông luận cho các Sư thuộc tông Hiền Thủ giải thích kinh này.
Về tông thú kinh này, xưa nay cũng có những kiến giải bất đồng; như ngài Đàm Diễn đời Tề nói kinh này lấy Vô ngại pháp giới làm tông; ngài Linh Dụ đời Tùy nói kinh này lấy Thậm thâm pháp giới tâm cảnh làm tông, có người nói kinh này lấy Duyên khởi làm tông, có người nói kinh này lấy Duy thức làm tông. Hai ngài Pháp Mẫn, Pháp Ấn đời Đường nói kinh này lấy Nhân quả làm tông; ngài Huệ Viễn đời Tùy nói kinh này lấy Hoa Nghiêm Tam-muội làm tông; ngài Đạt-ma-cấp-đa đời Tùy nói kinh này lấy Quán hạnh làm tông; có người nói kinh này lấy Hải ấn tam-muội làm tông, ngài Huệ Quang đời Bắc Ngụy nói kinh này lấy Nhân quả lý thật làm tông; ngài Hiền Thủ (Pháp Tạng) đời Đường dựa vào thuyết của ngài Huệ Quang, tức là lấy Nhân quả duyên khởi lý thật pháp giới làm tông thú của kinh này (Hoa Nghiêm Kinh Sớ 3, Thanh Lương). Và ý kiến này về sau trở thành kiến giải chung của các Sư trong tông Hiền Thủ đối với kinh này.
Về nghĩa lý của kinh này, được các học giả Phật giáo nhất trí tôn trọng. Từ Nam Bắc triều đến nay, ba nhà Phật học nổi tiếng ở Giang Nam đều phán giáo kinh này thuộc Đốn giáo, và cho các kinh điển khác là Tiệm giáo hoặc Bất định giáo. Lúc ấy, bảy nhà Phật học ở phương Bắc phán giáo kinh này tuy bất đồng, nhưng cũng đều phán kinh này là Viên giáo cao nhất trong các giáo, hoặc Đốn giáo, Chân tông, Pháp giới tông … Về sau, ngài Cát Tạng lập ba lần chuyển pháp luân, lấy kinh này làm căn bản pháp luân; ngài Trí Khải, Tổ tông Thiên Thai, lập bốn giáo hóa nghi, liệt kinh này vào Đốn giáo, lại lập bốn giáo hóa pháp, liệt kinh này vào Biệt giáo kiêm Viên giáo; ngài Khuy Cơ, đời Đường lập ba thời giáo, lấy kinh này làm Trung đạo giáo; các Sư của tông Hiền Thủ phán kinh này thuộc Nhất thừa viên giáo trong năm giáo, hoặc tông Viên minh cụ đức trong mười tông. Tóm lại, kinh này từ trước đến nay đều được các nhà Phật học công nhận là kinh giáo viên đốn hơn hết.
Về tình hình truyền bá kinh này, tương truyền sau Phật diệt độ, kinh này đã bị ẩn mất tại Ấn Độ, về sau Bồ-tát Long Thọ hoằng truyền Đại thừa mới đem kinh này lưu truyền ở đời. Ngài Long Thọ còn tạo Luận Đại Bất Tư Nghì với 100.000 bài kệ để giải thích kinh này, bản Luận Thập Trụ Tỳ-bà-sa (16 quyển) Hán dịch, hiện hành là một phần của luận này, chỉ giải nói Sơ địa và Nhị địa trong phẩm Thập Địa của kinh này. Về sau Bồ-tát Thế Thân cũng dựa vào phẩm Thập Địa của kinh này biên soạn Thập Địa Kinh Luận để phát huy yếu nghĩa Hoa Nghiêm. Các luận sư Kim Cang Quân, Kiên Huệ, Nhật Thành, Thích Huệ mỗi vị cũng tạo Thích Luận để giải thích Thập Địa Kinh Luận (hai bản Thích Luận của ngài Nhật Thành và Thích Huệ hiện còn bản dịch Tạng văn), cho thấy một phần của kinh này đã từng lưu hành ở Ấn Độ thời cổ đại. Còn về tình hình lưu truyền toàn bộ kinh này vào thuở ấy thì không rõ.
Từ đời Hậu Hán (thế kỷ I), bản biệt hành của kinh này tại Trung Quốc, tuy lần lượt được dịch ra không ít, nhưng sự hoằng truyền không được hưng thạnh. Đến đời Đông Tấn, bản dịch 60 quyển của ngài Phật-đà-bạt-đà-la xuất hiện thì kinh này mới được người học Phật tại Trung Quốc xem trọng. Từ đó, kinh này được truyền tụng, diễn giảng cho đến sớ thích dần dần mạnh mẽ. Như ngài Pháp Nghiệp, người đầu tiên tham dự phiên dịch kinh này, đã đích thân nghe ngài Phật-đà-bạt-đà-la giảng, mà soạn thành bộ Nghĩa Ký (2 quyển). Về sau, đời Lưu Tống, ngài Cầu-na-bạt-đà-la cũng đã từng giảng kinh này nhiều lần. Ngài Huyền Sướng, đời Bắc Tề lại theo chương cú của kinh này mà soạn thêm sớ giảng.
Đời Bắc Ngụy, ngài Lặc-na-ma-đề cũng từng giảng kinh này, còn có Lưu Khiêm nghiên cứu tinh tường kinh này, soạn Hoa Nghiêm Luận (600 quyển). Lúc ấy, ngài Bồ-đề-lưu-chi dịch Thập Địa Kinh Luận. Do sự hoằng thông Địa Luận mà kinh này càng được phát dương. Địa Luận sư Huệ Quang soạn Quảng Sớ và Lược Sớ kinh này (hiện còn 1 quyển), và Ngài phán giáo kinh này thuộc Viên giáo.
Đời Bắc Tề, ngài Tăng Phạm ở chùa Đại Giác trứ tác Kinh Sớ (5 quyển); ngài Đàm Tuân ở Nghiệp Trung trứ tác Kinh Sớ (7 quyển); ngài Đàm Diễn ở Lạc Châu trứ tác Kinh Sớ (7 quyển); ngài Linh Biện trứ tác Kinh Luận (100 quyển, hiện còn 1 quyển), ngài Trí Cự ở Bắc Đài trứ tác Kinh Sớ (7 quyển).
Đời Tùy, ngài Linh Dụ ở chùa Diễn Không tại Tương Châu trứ tác Kinh Sớ (8 quyển, hiện còn quyển thứ 6 là Văn Nghĩa Ký), và Chỉ Quy (1 quyển); ngài Đàm Thiên ở Tây Tự trứ tác Hoa Nghiêm Minh Nạn Phẩm Sớ (10 quyển); ngài Huệ Tạng ở Tây Kinh trứ tác Nghĩa Sớ (10 quyển); ngài Hồng Tuân ở Tây Kinh trứ tác Kinh Sớ (7 quyển); ngài Huệ Viễn ở chùa Tịnh Ảnh trứ tác Kinh Sớ (7 quyển), Thập Địa Luận Nghĩa Ký (7 quyển, hiện còn 4 quyển); ngài Cát Tạng ở chùa Gia Tường trứ tác Du Ý (1 quyển, hiện còn); ngài Huệ Giác ở chùa Võ Đức trứ tác Thập Địa Phẩm Sớ (10 quyển).
Đời Đường, ngài Pháp Mẫn ở Việt Châu trứ tác Kinh Sớ (7 quyển); ngài Trí Chánh ở núi Chung Nam trứ tác Kinh Sớ (22 quyển); ngài Linh Biện ở chùa Từ Ân trứ tác Kinh Sớ (12 quyển). Và cả hai miền Nam Bắc sông Trường Giang đều có phong trào nghiên cứu kinh này, tiến đến triển khai thành môn Hoa Nghiêm học.
Tiếp theo phong trào nghiên cứu giáo nghĩa kinh này, vào thời Tùy Đường dần dần hình thành tông Hoa Nghiêm chuyên lấy việc hoằng dương giáo quán của kinh này làm chính. Đầu tiên là ngài Đỗ Thuận (Pháp Thuận) đời Tùy ở núi Chung Nam hoằng thông kinh này và trứ tác Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chỉ Quán (1 quyển, hiện còn) và Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn (1 quyển, hiện còn) để trình bày ý nghĩa huyền diệu của kinh này và cũng là cơ sở để mở tông Hoa Nghiêm. Đệ tử của Ngài là Trí Nghiễm ở chùa Chí Tướng càng phát triển tâm yếu của Ngài, và tham chiếu học thuyết của Địa Luận sư, trứ tác Hoa Nghiêm Kinh Sưu Huyền Ký (9 quyển, hiện còn) là tác phẩm nổi tiếng của tông Hiền Thủ sớ thuật bản Cựu dịch kinh này. Ngài Trí Nghiễm còn dựa vào nghĩa kinh trứ thuật Hoa Nghiêm Kinh Khổng Mục Chương (4 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Ngũ Thập Yếu Vấn Đáp (2 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Nhất Thừa Thập Huyền Môn (1 quyển, hiện còn), Lục Tướng Chương (1 quyển, đã thất lạc) để hiển bày nghĩa chính của kinh này. Kế tiếp, ngài Hiền Thủ (Pháp Tạng), người tập đại thành tông Hiền Thủ, càng phát huy rộng giáo nghĩa kinh này, trứ tác Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (20 quyển, hiện còn) là tác phẩm nổi tiếng quan trọng sớ giải bản Cựu dịch kinh này. Ngài còn soạn Hoa Nghiêm Kinh Văn Nghĩa Cương Mục (1 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Kinh Chỉ Quy (1 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Bát Hội Chương ( 1 quyển), Hoa Nghiêm Kinh Phiên Phạn Ngữ (1 quyển), Hoa Nghiêm Cựu Kinh Phạn Ngữ Cập Âm Nghĩa (1 quyển) … Ngoài ra, Ngài còn y cứ vào kinh này mà soạn các tác phẩm về tông nghĩa có liên quan đến tông này như Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương (hiện còn), Hoa Nghiêm Nghĩa Hải Bách Môn (hiện còn) … Đệ tử của Ngài là Tông Nhất ở chùa Hà Ân cũng có soạn Hoa Nghiêm Kinh Liệu Giản (12 quyển), Hoa Nghiêm Kinh Sớ (20 quyển).
Những tác phẩm sớ giải kể trên đều y cứ vào bộ Lục Thập Hoa Nghiêm được dịch vào đời Tấn mà soạn thuật.
Đến đời Võ Chu, ngài Thật-xoa-nan-đà dịch Bát Thập Hoa Nghiêm, ngài Pháp Tạng lúc đó tuổi đã xế chiều, tham dự dịch trường với chức vụ Bút thọ. Ngài đã y cứ vào bản Tân dịch Kinh Hoa Nghiêm, trứ tác Khai Mạch Nghĩa Ký (1 quyển, hiện còn), Tân Kinh Tam-muội Ký (1 quyển), Thất Xứ Cửu Hội Tụng (1 quyển), Hoa Nghiêm Lược Sớ (12 quyển) để trình bày văn nghĩa kinh văn bản Tân dịch.
Đệ tử ngài Pháp Tạng là Huệ Uyển ở chùa Tịnh Pháp cũng căn cứ bản Tân dịch này trứ tác Hoa Nghiêm Kinh Âm Nghĩa (4 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Kinh Toàn Phục Chương (10 quyển), Cửu Hội Chương (1 quyển) …
Sau đó, ngài Thanh Lương (Trừng Quán) chấn chỉnh lại tông phong Hoa Nghiêm, sửa sai kiến giải của Huệ Uyển, phát huy học thuyết chính thống của tông Hiền Thủ, biên soạn Hoa Nghiêm Kinh Huyền Đàm (9 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Kinh Sớ (60 quyển, hiện còn), Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao (30 quyển, hiện còn) là tác phẩm nổi tiếng của tông Hiền Thủ sớ thích bản Tân dịch kinh này. Ngoài ra, Ngài còn soạn Hoa Nghiêm Kinh Sao Khoa (10 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Kinh Lược Sách (1 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Kinh Thất Xứ Cửu Hội Tụng Thích Chương (1 quyển, hiện còn) … Nhưng đến niên hiệu Trinh Nguyên (785 - 804) ngài Trừng Quán còn tham dự dịch Kinh Hoa Nghiêm 40 quyển, Ngài soạn Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành Sớ (6 quyển, hiện còn), Trinh Nguyên Hoa Nghiêm Kinh Sớ (10 quyển, hiện còn) để trình bày nghĩa lý sâu xa của Tứ thập Hoa Nghiêm.
Đệ tử của ngài Trừng Quán là Tông Mật ở chùa Thảo Đường tại Khuê Phong trứ tác Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành Sớ Sao (6 quyển, hiện còn), Hạnh Nguyện Phẩm Sớ Khoa (1 quyển, hiện còn) để làm sáng tỏ tâm yếu của ngài Trừng Quán. Ngài Tông Mật còn có soạn Tân Hoa Nghiêm Hiệp Kinh Luận (40 quyển).
Năm vị Pháp Thuận, Trí Nghiễm, Pháp Tạng, Trừng Quán, Tông Mật, được người đời tôn là năm vị Tổ của tông Hoa Nghiêm vì các ngài là người chủ yếu truyền bá và phát triển giáo nghĩa của kinh này để hình thành một tông.
Về các nhà sớ giải nổi tiếng ngoài tông Hiền Thủ, có Trưởng giả Lý Thông Huyền chuyên nghiên cứu kinh này, trứ tác Tân Hoa Nghiêm Luận (40 quyển, hiện còn) phát huy ý nghĩa mới mẻ của Bát thập Hoa Nghiêm. Ông còn soạn Hoa Nghiêm Kinh Trung Quyển Đại Ý Lược Tự (1 quyển, hiện còn), Hoa Nghiêm Kinh Tu Hành Thứ Đệ Quyết Nghi Luận (4 quyển, hiện còn) …
Tông Thiên Thai, có các ngài như : Kinh Khê Trạm Nhiên cũng trứ tác Hoa Nghiêm Kinh Nguyện Hạnh Quán Hạnh Cốt Mục (2 quyển, hiện còn), Tịnh Cư soạn Lân Đức Điện Giảng Hoa Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa (1 quyển) …
Từ đời Đường về sau, kinh này được nghiên cứu học tập và hoằng dương khá hưng thịnh, mỗi triều đại đều có những bản sớ giải quan trọng như :
- Đời Tống, có Hoa Nghiêm Sớ Sao Hội Giải Ký (10 quyển) của Quán Phục, Hoa Nghiêm Luân Quán (1 quyển, hiện còn) của Phục Am, Hoa Nghiêm Kinh Yếu Giải (1 quyển, hiện còn) của Giới Hoàn, Hoa Nghiêm Kinh Thôn Hải Tập (3 quyển, hiện còn) và Hoa Nghiêm Pháp Tướng Khái Tiết (1 quyển) đều của Đạo Thông.
- Đời Liêu, có Hoa Nghiêm Kinh Huyền Đàm Quyết Trạch (6 quyển, hiện còn) của Tiên Diễn.
- Đời Nguyên, có Hoa Nghiêm Huyền Đàm Hội Huyền Ký (40 quyển, hiện còn) của Phổ Thụy.
- Đời Minh, có Hoa Nghiêm Kinh Cương Yếu (80 quyển, hiện còn) và Hoa Nghiêm Kinh Đại Ý (1 quyển, hiện còn) của Thiện Kiên, Hoa Nghiêm Kinh Hiệp Luận Toản Yếu (3 quyển, hiện còn) của Phương Trạch, Hoa Nghiêm Kinh Hiệp Luận Giản Yếu (4 quyển, hiện còn) của Lý Chí.
- Đời Thanh, Hoa Nghiêm Kinh Cương Mục Quán Nhiếp (1 quyển, hiện còn) và Hoa Nghiêm Tam Thập Cửu Phẩm Đại Ý (1 quyển, hiện còn) đều của Vĩnh Quang, …
Từ đời Đường về sau, phong trào nghiên cứu Kinh Hoa Nghiêm được truyền bá ra nước ngoài. Vào thế kỷ VII, ngài Nghĩa Tương ở Tân La đến Trung Quốc thọ học với ngài Trí Nghiễm, sau khi về nước hoằng dương kinh này, làm vị Tổ đầu tiên của tông Hoa Nghiêm Triều Tiên. Đồng thời, ngài Nguyên Hiểu ở tại Tân La cũng chuyên nghiên cứu kinh này, có biên soạn Hoa Nghiêm Kinh Cương Mục (1 quyển), Hoa Nghiêm Kinh Sớ (10 quyển, hiện còn 1 quyển). Cũng tại Tân La, có Thái Hiền soạn Cổ Tích Ký (10 quyển), Biểu Viên soạn Hoa Nghiêm Văn Nghĩa Yếu Quyết Vấn Đáp (4 quyển, hiện còn) và được truyền bá rộng rãi tại Triều Tiên.
Vào thế kỷ VIII, kinh này đã được biên chép lưu truyền tại Nhật Bản, rồi ngài Đạo Duệ, một Cao tăng đời Đường, vượt biển sang Nhật, truyền giảng Hoa Nghiêm, làm vị Tổ đầu tiên của tông Hoa Nghiêm Nhật Bản. Từ đó về sau, kinh này được nghiên cứu học tập rất thạnh tại Nhật.
Về các trứ tác liên quan đến kinh này, tại Nhật Bản, có : Hoa Nghiêm Kinh Nghĩa Sao (40 quyển, hiện còn) của Tông Tánh, Hoa Nghiêm Kinh Phẩm Thích (1 quyển, hiện còn) và Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký Đổng U Sao (120 quyển, hiện còn) đều của Ngưng Nhiên, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký Huyền Đàm (1 quyển, hiện còn) của Phong Đàm, Hoa Nghiêm Huyền Ký Đại Lược Sao (49 quyển, hiện còn) của Hưng Long, Hoa Nghiêm Thám Huyền Ký Phát Huy Sao (10 quyển, hiện còn) và Thám Huyền Ký Giản Yếu (8 quyển, hiện còn) đều của Phổ Tịch.
Qua các bản Hán dịch và chú sớ đã được giới thiệu, chúng ta thấy được phần nào sự thạnh hành và tầm quan trọng của kinh này trong hệ thống giáo nghĩa cũng như giáo quán của Phật giáo Đại thừa.


