Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Thất Phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Thất Phật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

Kinh Thọ Trì Danh Hiệu Bảy Đức Phật Sinh Ra Công Đức




Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Kinh Thọ Trì Danh Hiệu Bảy Đức Phật Sinh Ra Công Đức

Thích nữ Tâm Thường dịch

Nguồn: Thích nữ Tâm Thường dịch



Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, đức Bạt-Già-Phạm ngự tại vườn Cấp Cô Độc, rừng Thệ Đa, thuộc thành Thất La Phiệt cùng với đông đủ vô lượng vô số Thanh văn và Đại Bồ-tát cùng tất cả đại chúng trời, người, A-tố-lạc.v.v... vây quanh trước sau.

Bấy giờ Thế Tôn bảo với tôn giả Xá Lợi Tử:

- Ta nay nhớ thương tất cả hữu tình, lược thuyết về công đức phát sanh do thọ trì danh hiệu của bảy đức Phật, để cho người nào thọ trì thì sẽ đạt được lợi ích an vui thù thắng. Thầy nên lắng nghe và suy nghĩ thật kỹ, Ta sẽ vì thầy phân biệt giảng thuyết.

Tôn giả Xá Lợi Tử thưa:

- Kính bạch Thế Tôn! Con mong ước được nghe.

Phật bảo Xá Lợi Tử:

- Ở phương Đông của cõi này có một cõi Phật tên là Ly Cấu Chúng Đức Trang Nghiêm. Cõi đó có Phật hiệu là Luân Biến Chiếu Cát Tường, Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Điều ngự sĩ, Thiên nhơn sư , Phật, Bạt Già Phạm, hiện đang ở đó, thương xót thế gian, vì các đại chúng thuyết pháp vi diệu, mở bày, chỉ dạy đầu giữa cuối đều thiện, văn nghĩa trong sáng, nhiệm mầu, thuần nhất viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Nếu có người nào được nghe danh hiệu của đức Phật kia, liền được thoát khỏi trăm ngàn câu chi đại kiếp sanh tử mãi bị trôi lăn trong khổ đau kịch liệt, và tùy theo chỗ sanh ra thường biết đời trước. Người nào luôn thọ trì danh hiệu của đức Phật này thì không mất công đức đã đạt như trước, mà lại ở trong trăm ngàn câu chi đại kiếp tùy theo chỗ sanh ra, tâm xa lìa sự ngu si, ở trong trời người nhận lãnh sự vui sướng. Người nào có thể tạo lập hình tượng của đức Phật kia, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen thì không mất công đức đã đạt như trước, lại còn ở vô lượng câu chi đại kiếp tùy theo chỗ sanh ra thường được gặp Phật, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử, ở phương Đông của cõi này lại có cõi Phật tên là Diệu Giác Chúng Đức Trang Nghiêm. Cõi đó có Phật hiệu là Diệu Công Đức Trụ Cát Tường Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Điều ngự sĩ, Thiên nhơn sư, Phật, Bạt Già Phạm, hiện đang ở đó thương xót thế gian, vì các hàng trời người thuyết pháp vi diệu, mở bày chỉ dạy đầu giữa cuối đều thiện, văn nghĩa trong sáng nhiệm mầu, hoàn toàn viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Nếu có người nào được nghe danh hiệu của đức Phật kia liền vượt khỏi tất cả tám nạn, tùy theo chỗ sanh ra thường biết đời trước. Người nào thường hay trì danh hiệu của đức Phật kia thì không mất công đức đã đạt như trước. Lại còn ở nơi vô lượng câu chi đại kiếp tùy theo chỗ sanh ra tâm thường được thông minh sáng suốt, thường ở chốn lành, lãnh thọ các sự vui sướng. Người nào có thể tạo lập hình tượng của đức Phật kia, cung kính cúng dường, tôn trọng, khen ngợi thì không mất công đức đã đạt như trước. Lại còn ở vô lượng câu chi đại kiếp tùy theo chỗ sanh ra thường được gặp Phật, tu hành tất cả Ba-la-mật-đa, thành đại Đạo sư độ vô lượng chúng sanh.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Ở phương Đông của cõi này lại có cõi Phật hiệu là Chúng Sanh Chủ, cõi đó có đức Phật hiệu là Nhất Bảo Cái Vương Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Điều ngự sĩ, Thiên nhơn sư, Phật, Bạt Già Phạm, hiện đang ở đó thương xót thế gian, vì các đại chúng thuyết pháp vi diệu, mở bày chỉ dạy đầu giữa cuối đều thiện, văn nghĩa trong sáng nhiệm mầu, thuần nhất viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Nếu có người nào được nghe danh hiệu của đức Phật kia liền được xa lìa tất cả khổ não, phước lộc, địa vị, của cải, trân bảo không bị sút giảm, mất mát, chỉ trừ khi người đó ở đời trước gây nhơn ác nghiệp cố định. Người nào thường hay thọ trì danh hiệu đức Phật kia thì sẽ không mất các công đức đã đạt như trước, lại còn thùy theo chỗ sanh ra đều được đầy đủ oai đức lớn, thần thông tự tại, thân tỏa ánh sáng, dáng mạo đoan nghiêm, mọi người đều ưa thấy. Người nào có thể tạo lập hình tượng của đức Phật kia, cúng dường cung kính, tôn trọng, khen ngợi thì không mất công đức đã đạt như trước. Lại còn ở vô lượng câu chi đại kiếp thường không sanh ra nơi thế giới không có Phật, tu hạnh Bồ-tát, đại thệ trang nghiêm, thành Vô thượng giác, làm lợi ích cho tất cả .

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Ở phương Đông của cõi này lại có cõi Phật tên là Tự Tại Lực. Cõi đó có Phật hiệu là Thiện Thệ Định Tích, Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Điều ngự sĩ, Thiên nhơn sư, Phật Bạt Già Phạm, hiện đang ở đó thương xót thế gian, vì các đại chúng thuyết pháp vi diệu, mở bày chỉ dạy đầu giữa cuối đều thiện, văn nghĩa trong sáng, thuần nhất, viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Nếu có người nào được nghe danh hiệu của đức Phật kia thì tâm trí liền được vắng lặng, xa lìa các sự huyên náo, hỗn tạp. Nếu người nào thường thọ trì danh hiệu của đức Phật kia thì không mất công đức đã tạo như trước, lại còn ở vô lượng câu chi đại kiếp tùy theo chỗ sanh ra thân (đầy đủ) bốn oai nghi, hoặc nói, hoặc im, tâm luôn ở trong định. Người nào có thể tạo lập hình tượng của đức Phật kia, cung kính cúng dường, tôn trọng, khen ngợi thì không mất các công đức đã đạt như trước. Lại còn ở vô lượng câu chi đại kiếp tùy theo chỗ sanh ra thường được gặp Phật, mau có thể rốt ráo các môn Đẳng trì, thành bậc Lưỡng túc tôn, độ vô lượng chúng.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Ở phương Đông này lại có cõi Phật tên là Tối Thắng Bảo, cõi đó có Phật hiệu là Bảo Hoa Quang Cát Tường, Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Điều ngự sĩ, Thiên nhơn sư, Phật Bạt Già Phạm, hiện đang ở đó thương xót thế gian, vì các đại chúng thuyết pháp vi diệu, mở bày chỉ dạy đầu giữa cuối đều thiện, văn nghĩa trong sáng nhiệm mầu, thuần nhất, viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Nếu người nào được nghe danh hiệu của đức Phật kia liền được đầy đủ tuệ hạnh thắng niệm, ở trong bốn chúng thuyết pháp không sợ hãi, lời lẽ oai nghiêm, người nghe đều kính thọ. Người nào thường hay thọ trì danh hiệu của đức Phật kia thì không mất công đức đã đạt như trước, lại còn ở vô lượng câu chi đại kiếp tùy chỗ sanh ra đầy đủ hạnh tuệ niệm, thành tựu trí tuệ bén nhạy, được tính nghe và trì thù thắng. Người nào có thể tạo lập hình tượng của đức Phật kia, cung kính cúng dường, tôn trọng, khen ngợi thì không mất công đức đã đạt như ở trước, lại còn ở vô lượng câu chi đại kiếp tùy theo chỗ sanh ra thường được gặp Như Lai, được biện tài vô ngại, rộng tuyên bày diệu pháp, tuần tự tu tập tư lương phước huệ, thành Thiên nhơn tôn, độ vô lượng chúng sanh.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Ở phương Nam của cõi này có một cõi Phật tên là Tịch Tịnh Châu, cõi đó có Phật hiệu là Siêu Vô Biên Tích, Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Điều ngự sĩ, Thiên nhơn sư, Phật Bạt Già Phạm, hiện đang ở đó thương xót thế gian, vì các đại chúng thuyết pháp vi diệu, mở bày chỉ dạy đầu giữa cuối đều thiện, văn nghĩa trong sáng nhiệm mầu, thuần nhất, viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Nếu có người nào được nghe danh hiệu của đức Phật kia thì tâm người đó bỗng nhiên không có sự rối loạn. Người nào có thể thọ trì danh hiệu của đức Phật kia thì không mất công đức đã đạt như trước, lại còn có thể mau chứng được định Nguyệt-quang-thắng. Chứng được định này xong, ngay khi ấy lại có thể chứng được pháp môn Căn Già Sa Đẳng Tam-ma-địa. Người nào có thể tạo lập hình tượng của đức Phật kia, cung kính cúng dường, tôn trọng, khen ngợi thì không mất công đức đã đạt như trước, lại còn đối với các pháp môn chư Phật giảng dạy có thể thọ trì hết và thông suốt nghĩa lý, chiếu soi rõ suốt không ngăn ngại, như ánh sáng mặt trời, tùy theo chỗ sanh ra thường được gặp Phật, do đó mau chứng Vô thượng Bồ-đề.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Ở phương Nam của cõi này lại có cõi Phật tên là Tối Thượng Hương. Cõi đó có Phật hiệu là Diệu Hương Vương, Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Điều ngự sĩ, Thiên nhơn sư, Phật Bạt Già Phạm, hiện đang ở đó thương xót thế gian, vì các đại chúng thuyết pháp vi diệu, mở bày chỉ dạy đầu giữa cuối đều thiện, văn nghĩa trong sáng nhiệm mầu, thuần nhất, viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Nếu người nào được nghe danh hiệu của đức Phật kia thì thân tâm điều hòa thông suốt, xa lìa các sự trầm trệ, nghiệp ác đều tiêu diệt, phiền não nhẹ bớt. Người nào thường hay thọ trì danh hiệu của đức Phật kia thì không mất công đức đã đạt như trước, lại vào đời sau tùy theo chỗ sanh ra đều được đầy đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, tất cả hữu tình đều cùng chiêm ngưỡng. Người nào có thể tạo lập hình tượng của đức Phật kia, cung kính cúng dường, tôn trọng, khen ngợi thì không mất công đức đã đạt như trước, lại vào đời sau tùy theo chỗ sanh ra thường được xuất gia, đầy đủ giới hạnh thanh tịnh, đến các cõi Phật nghe pháp, thọ trì, tu hành đầy đủ tất cả công đức. Do vậy nên mau chứng được A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-Bồ-đề.

Phật bảo Xá Lợi Tử:

- Nếu các hữu tình nào được nghe danh hiệu của bảy đức Phật này và thọ trì, cúng dường thì chắc chắn đạt được công đức như đã nói ở trước. Vì sao vậy? - Vì danh hiệu và hình tượng của bảy đức Phật này đều do bổn nguyện đại bi mà thành tựu cho nên khiến cho chúng sanh nào được nghe rồi thọ trì, cúng dường thì đều đạt được lợi ích an vui như vậy.

Bấy giờ, Bạt Già Phạm thuyết kinh này xong, Xá Lợi Tử,.v.v... cùng các đại Thanh văn và các đại Bồ-tát cùng trời người, A-tố-lạc,.v.v... tất cả đại chúng nghe Phật giảng thuyết đều rất hoan hỷ, tín nhận phụng hành.

KINH THỌ TRÌ DANH HIỆU BẢY

ĐỨC PHẬT SANH CÔNG ĐỨC

Hết

Kinh Thất Phật



Kinh Thất Phật

Thất Phật Kinh [七佛經]

Tống Pháp Thiên dịch

Bản Việt dịch của Thích Tâm Hạnh

***

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng cây Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc [2].

Bấy giờ, có chúng đại Bí-sô[3] khi ôm bát ăn[4], đến đạo tràng Ca-lý-lê, cùng nhau ngồi suy nghĩ[5]:

“Trong thời quá khứ có đức Phật nào xuất hiện? Dòng họ, danh hiệu, tuổi thọ ngắn dài của các vị ấy như thế nào?”

Sau khi suy nghĩ như vậy, họ hỏi nhau nhưng vẫn không thể biết được.

Bấy giờ, đức Thế Tôn biết các Bí-sô này suy nghĩ sự việc ấy. Ngài rời chỗ ngồi, đến đạo tràng Ca-lý-lê, ngồi kiết già.

Các Bí-sô cúi đầu lạy sát chân Phật, rồi đứng qua một bên, chắp tay cung kính, nhất tâm chiêm ngưỡng Phật.

Thế Tôn hỏi:

“Này các Bí-sô! Các Thầy đang nghĩ về chuyện gì?”

Bí-sô thưa:

“Chúng con suy nghĩ: Trong thời quá khứ có vị Phật nào ra đời, với dòng họ, danh hiệu, tuổi thọ ngắn dài như thế nào, nhưng không ai biết được.”

Phật hỏi các Bí sô:

“Các Thầy muốn biết không?”

Các Bí sô thưa:

“Nay đã đúng lúc, ngưỡng mong Thế Tôn dạy cho chúng con.”

Phật dạy:

“Các Thầy lắng nghe! Ta sẽ nói về việc đó.

“Thời quá khứ, cách đây chín mươi mốt kiếp có Phật Tỳ-bà-thi, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng chánh giác xuất hiện ở thế gian.

“Cách đây ba mươi mốt kiếp, có Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù[6], là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện ở thế gian.

“Vào kiếp thứ sáu trong hiền kiếp có Phật Câu-lưu-tôn, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện ở thế gian.

“Vào kiếp thứ bảy, có Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện ở thế gian.

“Vào kiếp thứ tám, có Phật Ca-diếp-ba[7], là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian.

“Vào kiếp thứ chín, Ta là Phật Thích-ca Mâu-ni, xuất hiện ở thế gian, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác.

“Trong kiếp quá khứ, Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù giảng dạy thi-la[8], là giới luật thanh tịnh, và công hạnh để thành tựu trí tuệ tối thượng.

“Trong hiền kiếp, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp-ba, cũng giảng dạy luật nghi thanh tịnh và pháp thiền định giải thoát. Pháp của Ta giảng dạy cũng như vậy.

“Này các Bí-sô! Phật Tỳ-bà-thi, thời quá khứ, thuộc Dòng Sát-đế-lị, phát tâm tịnh tín, mà xuất gia, thành đạo Chánh giác. Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù cũng thuộc Dòng Sát-đế-lị. Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp thuộc Dòng Bà-la-môn. Ta sinh trong cung vua Tịnh Phạn, dòng Sát-đế-lợi.”

Bấy giờ, để trùng tuyên ý nghĩa này, Thế Tôn bèn nói bài kệ:

Ta nói đời quá khứ,

Vào kiếp chín mươi mốt;

Có Phật Tỳ-bà-thi,

Xuất hiện trong thế gian.

Trong kiếp ba mươi mốt,

Thi Khí, Tỳ-xá-phù;

Bậc Chánh đẳng giác ấy,

Thuộc Dòng Sát-đế-lị.

Như Lai Câu-lưu-tôn,

Câu-na-hàm, Ca-diếp;

Cả ba Thế Tôn này,

Đều thuộc Bà-la-môn.

Ta ở cõi Diêm-phù,

Con đức vua Tịnh Phạn;

Tu giác ngộ thành Phật,

Thuộc Dòng Sát đế lị.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:

“Các Thầy hãy lắng nghe: Ta lại nói về tộc họ của bảy Phật, Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác. Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, thuộc họ Kiều-trần[9]. Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp-ba, thuộc họ Ca-diếp. Thích-ca Như Lai thuộc họ Cù-đàm.”

Thế Tôn lặp lại bằng kệ:

Như Lai Tỳ-bà-thi,

Thi-khí, Tỳ-xá-phù;

Cả ba vị Phật này,

Đều mang họ Kiều-trần.

Như Lai Câu-lưu-tôn,

Câu-na-hàm, Ca-diếp;

Cả ba vị Phật này,

Đều mang họ Ca-diếp.

Ta ở cõi Diêm-phù,

Sinh trong cung Tịnh Phạn;

Nên mang họ Cù-đàm,

Xuất gia chứng Bồ-đề.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về tuổi thọ dài ngắn của bảy Phật Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác.

“Phật Tỳ-bà-thi, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống tám vạn tuổi. Phật Thi-khí, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, xuất hiện trong thế gian, sống bảy vạn tuổi. Phật Tỳ-xá-phù, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống sáu vạn tuổi. Phật Câu-lưu-tôn, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, xuất hiện trong thế gian, sống bốn vạn tuổi. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, xuất hiện trong thế gian, sống ba vạn tuổi. Phật Ca-diếp-ba, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống hai vạn tuổi. Ta hóa độ chúng sanh trong đời năm trược, sống một trăm tuổi.”

Thế Tôn lặp lại bằng kệ:

Như Lai Tỳ-bà-thi,

Thi-khí, Tỳ-xá-phù;

Đức Phật Câu-lưu-tôn,

Câu-na-hàm, Ca-diếp.

Chư Phật khi ra đời,

Đều theo tuổi thọ người;

Tám vạn rồi bảy vạn,

Sáu vạn xuống bốn vạn.

Ba vạn đến hai vạn,

Phật Thích-ca cũng vậy;

Xuất hiện, đời năm trược,

Loài người thọ trăm tuổi[10].

Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Nay Ta nói về tên, danh hiệu cha mẹ, quốc gia, thành phố của bảy vị Phật Như Lai.”

“Phụ vương của Phật Ty-bà-thi tên là Mãn-độ-ma[11], mẹ tên Mãn-độ-ma, kinh thành cũng tên Mãn-độ-ma.

“Phụ vương Thi-khí Như Lai tên A-rô-noa[12], mẹ cũng tên A-rô-noa; kinh thành tên A-rô-phược-đế[13].

“Phụ vương Tỳ-xá-phù Như Lai tên Tô-bát-la-để-đô, mẹ tên Bát-la-bà-phược-để, kinh thành tên A-nỗ-bát-ma[14].

“Cha của Phật Câu-lưu-tôn tên Dã-nghê-dã-na-đa, hiệu Sát-mô-sát-ma, mẹ tên Vĩ-xá-khư, kinh thành tên Sát-ma[15].

“Cha của Phật Câu-na-hàm Mâu-ni tên Dã-nghê-dã-na-đỗ, mẹ tên Ô-đa-la; vua hiệu Thâu-bộ, kinh thành tên Thâu-bà-phược-đế[16].

“Cha của Ca-diếp Như Lai tên Tô-một-ra-hạ-ma, mẹ tên Một-ra-hạ-ma-ngu-bát-đa; vua hiệu Ngật-lý-kế, kinh thành tên Ba-la-nại[17].

“Nay, Ta bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, phụ vương ta tên Tịnh Phạn, mẹ tên Ma-ha-ma-da; kinh thành tên Ca-tỳ-la.”

Thế Tôn lặp lại bằng kệ:

Bản sinh của chư Phật,

Tỳ-bà-thi Như Lai;

Cha tên Mãn-độ-ma,

Mẹ Mãn-độ-ma-đế.

Kinh đô thành quách lớn,

Cũng tên Mãn độ ma;

Lúc đó nước ấy giàu,

Nhân dân sống an lạc.

Phật Thi-khí Thế Tôn,

Phụ vương A-rô-noa;

A-rô-noa-phược-đế,

Là tên của mẹ Phật.

Thành ngài ở cùng tên,

A-lỗ-phược-đế;

Nhân dân sống phồn thịnh,

Giàu có thường an ổn.

Tỳ-xá-phù Như Lai,

Phụ vương và mẹ tên;

Tô-bát-ra-đế-đô,

Bát-ra-bà-phược-đế.

Kinh thành của nước ấy,

Tên A-nỗ-bà-ma.

Thời đó sống an ổn,

Không có các tai hại.

Thế Tôn Câu-lưu-tôn,

Tên thân phụ của ngài;

Dã-nghê-dã-na-đa,

Mẹ tên Vĩ-xá-khư.

Vua Sát-mô-sát-ma;

Kinh thành tên Sát-ma;

Nhân dân sống thời ấy,

Tôn trọng điều hiền thiện.

Câu-na-hàm-mâu-ni,

Dã-nghê-dã-na-đổ,

Là tên cha của ngài;

Mẹ tên Ô-đa-ra.

Quốc vương hiệu Thâu-bộ,

Thành Thâu-bà-phược-đế;

Cao rộng thật tráng lệ;

Chúng sanh không cực nhọc.

Cha Phật Ca-diếp-ba,

Tô-một-ra-hạ-ma;

Mẹ tên gọi Một-ra,

Hạ-ma-ngu-bát-đa.

Quốc vương Ngật-lý-kế,

Thành đô Ba-la-nại;

Chúng sanh trong thành ấy,

Ngày đêm sống an ổn.

Nay chỗ sinh của Ta,

Phụ vương hiệu Tịnh Phạn;

Mẹ Ma-ha Ma-da,

Thành tên Ca-tỳ-la.

Như trên phân biệt rõ,

Tên cha mẹ, nước, thành;

Của bảy Phật Như Lai,

Chánh đẳng giác như vậy.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về đệ tử Thanh văn của bảy vị Phật Như Lai. Đệ tử đại trí của Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Khiếm-noa-để-tả[18], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.

“Đệ tử đại trí của Thi-khí Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Bộ-tam-bà-phược[19], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.

“Đệ tử đại trí của Tỳ-xá-phù Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Dã-tâu-đa-la[20], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.

“Đệ tử đại trí của Câu-lưu-tôn Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tán-nhĩ-phược[21], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.

“Đệ tử đại trí của Câu-na-hàm Mâu-ni Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tô-rô-nỗ-đa-la[22], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.

“Đệ tử đại trí của Ca-diếp-ba Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Bà-ra-đặc-phược-nhạ[23], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.

“Ta, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, có đệ tử đại trí tên Xá-lợi-phất[24] là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.”

Thế Tôn lặp lại bằng kệ:

Tỳ-bà-thi Như Lai,

Có đệ tử đại trí,

Tên Khiếm-noa-để-tả.

Phật Thi-khí Thế Tôn,

Có đệ tử đại trí,

Tên Bộ-tam-bà-phược.

Tỳ-xá-phù Như Lai,

Có đệ tử đại trí,

Tên Dã-thâu-đa-ra.

Câu-lưu-tôn Như Lai,

Có đệ tử đại trí,

Tên là Tán-nhĩ-phược.

Câu-na-hàm Mâu-ni,

Có đệ tử đại trí,

Tô-rô-noa-đa-ra.

Phật Thế Tôn Ca-diếp,

Có đệ tử đại trí,

Bà-ra-đặc-phược-nhạ.

Nay Ta, Ứng Chánh giác,

Có đệ tử đại trí,

Tên là Xá-lợi-phất.

Bảy vị Phật tử ấy,

Đều đệ nhất đại trí,

Ở trong chúng Thanh văn.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về đệ tử thị giả của bảy vị Phật Như Lai.

“Thị giả của Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên A-thâu-ca[25].

“Thị giả của Thi-khí Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên Sát-ma-ca-rô[26].

“Thị giả của Phật Tỳ-xá-phù, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Ô-ba-phiến-đổ[27].

“Thị giả của Phật Câu-lưu-tôn, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Một-đề-du[28].

“Thị giả của Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên To-rô-đế-lý-dã[29].

“Thị giả của Ca-diếp Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tát-lý-phược mật-đát-la[30].

“Nay Ta, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, có thị giả tên A-nan-đà[31].”

Thế Tôn lặp lại bằng kệ:

Phật tử A-du-ca,

Và Sát-ma-ca-rô;

Với Ô-ba-phiến-đổ,

Tôn giả Một-đề-du.

Tô-rô-đế-lý-dã,

Tát-phược-mật-đát-ra;

Bí-sô A-nan-đà,

Đều là thị giả Phật.

Thường hành tâm từ bi,

Thành tựu được chánh định;

Thông đạt các pháp tướng,

Đầy đủ đại trí tuệ.

Đa văn lại thông minh,

Là bậc Thầy đại pháp;

Đệ nhất ở trong chúng;

Danh tiếng khắp mười phương,

Trời người đều quy kính;

Sức tinh tấn kiên cố;

Đoạn sạch các phiền não.

Chứng quả không sinh diệt.

Thị giả Phật Thế Tôn,

Tự thân thường được lợi;

Thành tựu chơn Phật tử,

Của chư Phật là vậy.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí sô:

“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về chúng Thanh văn do bảy Phật Như Lai hóa độ.

“Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-bà-thi Như Lai có sáu vạn hai ngàn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

“Hội thuyết pháp thứ nhất của Thi-khí Như Lai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có tám mươi ức Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

“Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-xá-phù Như Lai có tám vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có sáu vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

“Câu-lưu-tôn Như Lai thuyết pháp một hội có bốn vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

“Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thuyết pháp một hội có ba vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

“Phật Ca-diếp thuyết pháp một hội có hai vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

“Hiện nay, Ta thuyết pháp một hội có một ngàn hai trăm năm mươi Bí-sô đắc quả A-la-hán.”

Thế Tôn lập lại bằng kệ:

Tỳ-bà-thi Như Lai,

Thi-khí, Tỳ-xá-phù,

Thế Tôn Câu-lưu-tôn,

Câu-na-hàm, Ca-diếp,

Và Thích-ca Mâu-ni.

Khi chư Phật ra đời,

Chúng Thanh văn được độ,

Số có bảy mươi ức,

Chín vạn thêm ba ngàn,

Hai trăm năm mươi người,

Đều chứng A-la-hán,

Không tái sinh đời sau.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, cho đến, nay Ta xuất hiện ở thế gian, trụ trì giáo hóa, nêu giảng giáo pháp, giáo hóa, dẫn dắt các hữu tình, về giới hạnh luật nghi, thọ trì y bát, cầu chứng Bồ-đề, không có pháp nào sai khác nhau cả.”

Thế Tôn nói kệ:

Kiếp quá khứ đến nay,

Tỳ-bà-thi các Phật;

Chúng Bí-sô được độ,

Thành tựu đại trí tuệ.

Dốc tu nơi Chánh đạo,

Các phần pháp Bồ-đề;

Năm căn và năm lực,

Bốn niệm, bốn thần túc.

Bảy giác, tám thánh đạo,

Cùng với Tam-ma-địa;

Các căn được tịch tĩnh,

Thông đạt nơi pháp tạng.

Khai ngộ các quần sinh,

Tuệ mạng được tăng trưởng;

Trong hiền kiếp như vậy,

Thật là chưa từng có.

Phật dùng trí đại bi,

Tự giác và giác tha;

Đại thần thông uy đức,

Được nêu bày như vậy.

Thế Tôn nói kệ xong, cùng các Bí-sô rời chỗ ngồi, trở về vườn Cấp Cô Độc.

Qua đêm ấy, đến sáng sớm hôm sau, các chúng Bí-sô rời thất của mình, đi đến đạo tràng Ca-lý-lê. Họ hỏi nhau về việc các đức Như Lai trong thời gian quá khứ nhập đại Niết-bàn, xa lìa hý luận, đoạn trừ hẳn luân hồi, không còn lỗi lầm. Bậc đại trượng phu như vậy, có đại trí tuệ như vậy, trì giới như vậy, thiền định như vậy, giải thoát như vậy, uy đức như vậy, chủng tộc như vậy, giáng thế lợi sinh, thật ít có, không thể nghĩ bàn.

Thế Tôn biết ý nghĩ của các Bí-sô, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến đạo tràng Ca-lý-lê, ngồi kiết già, hỏi chúng Bí-sô:

“Các Thầy bàn luận về việc gì?”

Các Bí-sô bạch:

“Chúng con nghe nói Đức Như Lai trong quá khứ nhập đại Niết-bàn, xa lìa các hý luận, cắt đứt luân hồi, không còn lỗi lầm. Bậc đại trượng phu như vậy, có trí tuệ như vậy, trì giới như vậy, thiền định như vậy, giải thoát như vậy, uy đức như vậy, chủng tộc như vậy, giáng thế lợi sinh, rất là ít có, không thể nghĩ bàn.”

Phật hỏi:

“Này các Bí-sô! Tại sao các Thầy nói những điều như thế?”

Bí-sô bạch Phật:

“Phật có pháp giới thanh tịnh, chứng Chân giác trí, hiểu biết tất cả, ngưỡng mong giảng giải.”

Phật dạy:

“Này các Bí-sô! Các Thầy lắng nghe, Ta sẽ nói về việc ấy.

“Vào thời quá khứ, có quốc vương lớn hiệu Mãn-độ-ma; Vương phi của vua tên Mãn-độ-ma-đế. Khi ấy, Phật Tỳ-bà-thi từ cung trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù, nhập vào bụng mẹ, an trú trong thai, phóng ra ánh sáng chiếu khắp các cõi trong thế gian, không còn chỗ tối tăm, đến cả các cảnh giới ác, địa ngục, nơi ánh sáng mặt trời mặt trăng không thể chiếu tới. Ánh sáng của Phật đến đâu, nơi ấy bỗng sáng rực lên. Hữu tình ở những nơi ấy được trông thấy nhau, liền lên tiếng: Tại sao ở đây lại có chúng sanh khác?”

Thế Tôn nói kệ:

Bồ-tát từ Đâu-suất,

Khi xuống cõi Diêm-phù;

Như mây bay gió thổi,

Nhanh chóng vào thai mẹ.

Thân phóng ánh sáng lớn,

Chiếu rực cõi trời người;

Địa ngục núi Thiết vi,

Đều không còn tối tăm.

Tất cả chúng đại tiên,

Các cảnh giới cõi Phật;

Đều tập hợp nhau lại,

Hộ vệ thân mẹ ngài.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các thầy lắng nghe. Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống Diêm-phù, vào thai mẹ, Dạ-xoa Bộ-ma lớn tiếng tuyên bố: Vị Đại Bồ-tát có uy đức lớn, bậc đại trượng phu này, bỏ thân Trời, thân A-tu-la, ở trong thai mẹ để thọ thân người. Lần lượt trời Tứ thiên vương, trời Đao-lợi, trời Dạ-ma cho đến các cõi trời Phạm phụ v.v… nghe lời này, đồng xướng lên: Bồ tát giáng thần ở trong thai mẹ, tất cả phải vân tập đến.”

Thế Tôn nói kệ:

Bồ-tát từ Đâu-suất,

Khi giáng thần thai mẹ;

Đại Dạ-xoa Bộ-ma,

Tuyên bố: đức Bồ-tát.

Từ bỏ thân cõi trời,

Và thân A-tu-la;

An trú trong thai mẹ,

Để thọ báo thân người.

Tứ thiên, Đao-lợi thiên,

Dạ-ma và Đâu-suất;

Cho đến cõi Phạm thiên,

Đều nghe rõ việc này.

Bồ-tát xuống nhân gian,

Thân sắc vàng vi diệu;

Chư Thiên đều tập hợp,

Tâm ý rất vui mừng.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe: Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống Diêm-phù, có bốn Đại thiên tử đầy đủ uy đức, thân mặc áo giáp, tay cầm cung đao, hộ vệ Bồ-tát, loài người và phi nhân đều không thể gây tổn hại.”

Thế Tôn lặp lại bằng kệ:

Khi Bồ-tát giáng sinh,

Đế Thích, trời Đao-lợi;

Sai Tứ đại thiên vương,

Đều đủ đại uy lực.

Thân mang áo giáp vàng,

Tay cầm cung đao thương,

Luôn luôn hộ vệ ngài;

Loài La-sát, phi nhân.

Không dám gây não hại,

Ngài an trú thai mẹ;

Như ở cung điện lớn,

Thường thọ các diệu lạc.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy từ cõi trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù, ở trong thai mẹ; thân ngài thanh tịnh tỏa ánh sáng rực rỡ như ngọc Ma-ni; tâm ý mẹ ngài an vui không có phiền não.”

Thế Tôn nói kệ:

Bồ-tát ở trong thai,

Thanh tịnh không vết nhiễm;

Trong sáng như lưu-ly,

Quý báu như Ma-ni.

Ánh sáng chiếu thế gian,

Như mặt trời không mây;

Thành tựu đệ nhất nghĩa,

Xuất sinh trí tối thượng.

Khiến mẹ không ưu não,

Thường làm các việc thiện;

Hữu tình đều quy ngưỡng,

Ngự ngôi Sát-đế-lợi.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù, ở trong thai mẹ; chưa từng nghe người mẹ có dục nhiễm và tham đắm năm trần, sắc v.v…”

Thế Tôn nói kệ:

Bồ-tát ở trong thai,

Khiến tâm mẹ thanh tịnh;

Không nghe tên nhiễm ô,

Xa lìa tội năm dục.

Đoạn trừ gốc tham ái,

Không có các khổ não;

Thân tâm thường an ổn,

Luôn luôn được an lạc.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù ở trong thai mẹ; người mẹ tự thọ trì năm giới cận sự. Một, không sát sanh. Hai, không trộm cắp. Ba, không dâm dục. Bốn, không nói dối. Năm, không uống rượu. Mẹ Bồ tát sinh ngài nơi hông bên phải. Sau đó mệnh chung, sinh lên cõi trời.”

Thế Tôn nói kệ:

Bồ tát ở trong thai,

Mẹ ngài giữ năm giới;

Hông phải sinh đồng tử,

Khi sinh không khổ não.

Cũng như trời Đế Thích,

Thọ năm dục vi diệu;

Sau đó, khi mạng chung,

Liền sanh lên cõi trời.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông phải mẹ, quả đất chấn động. Thân ngài màu sắc như vàng ròng không có uế nhiễm, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp tất cả cảnh giới trong thế gian. Những cảnh giới ác, nơi tối tăm như địa ngục bỗng nhiên sáng rực. Những chúng sanh nơi đó cũng trông thấy nhau. Tất cả đều như ngỡ ngàng nói: Tại sao nơi đây lại có chúng sanh khác?”

Thế Tôn nói kệ:

Khi Bồ tát giáng sinh,

Cả quả đất chuyển động;

Thân thể như vàng ròng,

Không nhiễm những trần cấu.

Đại thần thông, uy đức,

Chiếu sáng khắp nơi nơi;

Chúng sinh nơi tối tăm,

Đều được nhìn thấy nhau.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, mẹ ngài không mệt nhọc, không ngồi không nằm. Bồ-tát với đại uy đức của bậc đại trượng phu, tâm không mờ tối, chân không đạp đất, có bốn Đại Thiên vương đỡ thân đồng tử.”

Thế Tôn nói kệ:

Khi Bồ-tát giáng sinh,

Tâm mẹ không tán loạn;

Không ngồi cũng không nằm,

Tự tại và vui thích.

Uy đức đại trượng phu,

Tâm lìa các ám muội;

Tứ thiên bồng chân ngài,

Chân ngài không đụng đất.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, thân thể ngài thanh tịnh như ngọc lưu-ly quý báu không bị dính những vật bất tịnh như máu, mủ, nước dãi. Cũng như ngọc Ma-ni, như y phục của trời Kiều-thi-ca, tất cả bụi bặm không thể dính vào.”

Thế Tôn nói kệ:

Khi Bồ-tát giáng sinh,

Thân thể ngài thanh tịnh;

Xa lìa những bất tịnh,

Như máu mủ nước dãi.

Như y phục vua trời,

Như ngọc quí Ma-ni;

Tâm sạch thân sáng rực,

Bụi bặm không dính được.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, có hai vị Thiên tử từ trên hư không, tuôn hai vòi nước một mát, một ấm để tắm rửa đồng tử.”

Thế Tôn nói kệ:

Khi Bồ-tát giáng sinh,

Hai vị trời trên không;

Tắm rửa thân đồng tử,

Bằng hai vòi nước sạch.

Ấm, mát cho thích nghi,

Biểu thị tròn phước tuệ;

Thành tựu đại vô uý,

Xem khắp cả chúng sinh.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải; ngài đủ ba mươi hai tướng, hình dáng đoan nghiêm, mắt thanh tịnh thấy xa mười do-tuần.”

Thế Tôn nói kệ:

Khi Bồ-tát giáng sinh,

Các tướng đều đầy đủ;

Mắt trong lại đoan nghiêm,

Thấy xa mười do-tuần.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, nhìn đến cõi trời Đao-lợi. Thiên đế Thích cũng thấy đồng tử này chính là thân Phật, liền cầm lọng trắng che thân đồng tử. Lạnh nóng gió bụi, tất cả các vật xấu không xâm phạm được.”

Thế Tôn nói kệ:

Khi Bồ-tát mới sinh,

Nhìn xa hơn Đao-lợi;

Đế Thích cũng thấy ngài,

Vội cầm lọng trắng lớn.

Đến che thân cho ngài,

Lạnh nóng gió bụi nắng;

Và các thứ độc hại,

Không thể xâm phạm được.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, mẫu hậu, nhũ mẫu và dưỡng mẫu cùng các cung nhân vây quanh để giữ gìn, che chở, tắm rửa, xoa chất thơm, hầu hạ ngài chu toàn.”

Thế Tôn nói kệ:

Khi đồng tử mới sinh,

Ba người mẹ nuôi dưỡng;

Cùng với các cung nhân,

Thường vây quanh bên ngài.

Tắm rửa xoa hương thơm,

Khiến ngài luôn an ổn;

Hầu cận suốt ngày đêm,

Không lúc nào rời ngài

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, hình dáng ngài đoan nghiêm đủ ba mươi hai tướng. Vua Mãn-độ-ma liền triệu vị thầy xem tướng đến xem tướng cho đồng tử. Vị Bà-la-môn ấy tâu: Nếu Ngài sống tại gia thì thọ pháp Quán đỉnh, giữ ngôi vị Chuyển luân vương, làm chủ cả thiên hạ, đủ ngàn người con uy đức không sợ hãi. Hàng phục các quân đội khác mà không cần đến binh đao cung kiếm. Nếu Ngài xuất gia tu hành chắc chắn thành bậc Chánh đẳng giác.”

Thế Tôn nói kệ:

Tướng sư Bà-la-môn,

Xem tướng đồng tử này;

Tâu với vua cha rằng,

Bậc đủ ba hai tướng.

Như trăng giữa muôn sao,

Ít có trong thế gian;

Nếu ngài ở cung điện,

Tất làm vua Chuyển luân.

Thống lĩnh cả bốn châu,

Sinh một ngàn Thái tử;

Nếu xuất gia tu hành,

Liền chứng Vô thượng giác.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, thân ngài màu vàng ròng, tướng mạo đoan nghiêm, như hoa sen mọc trong nước không dính bụi trần. Tất cả mọi loài chiêm ngưỡng ngài không chán. Âm thanh ngài nói ra dịu dàng nhỏ nhẹ thanh nhã lưu loát, như chim Ca-vĩ-la ở Tuyết sơn. Chim này rất thích ăn hoa, hót lên giọng thanh nhã dịu dàng. Chúng sinh nghe tiếng hót đều ưa thích. Âm thanh ngôn ngữ của đồng tử cũng vậy.”

Thế Tôn nói kệ:

Đồng tử lúc mới sinh,

Thân thể màu vàng ròng;

Cũng như hoa sen hồng,

Bụi trần không dính được.

Tiếng nói ngài thanh nhã,

Như tiếng chim ca-vĩ;

Mọi người khi được nghe,

Ưa thích không biết chán.

Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:

“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy còn là đồng tử đã xa lìa gian tà dối trá, tâm ý thuần chính, tự giác giác tha thường hành chánh pháp. Mọi người đều tôn trọng phục vụ như Thiên đế Thích tôn kính cha mẹ. Do đó, ngài tên là Tỳ-bà-thi.”

Thế Tôn nói kệ:

Tỳ-bà-thi Như Lai,

Khi còn là đồng tử;

Thông minh đại trí tuệ,

Xa lìa sự dối trá.

Tự giác và giác tha,

Tu tập theo chính pháp;

Mọi người thường ái kính,

Như vị trời Đế Thích.

Kính phụng dưỡng cha mẹ,

Danh tiếng khắp thế gian;

Nên hiệu Tỳ-bà-thi,

Lợi ích cho chúng sanh.

Chú thích:

[1]. Bản Hán: Phật thuyết thất Phật kinh, Tống Pháp Thiên dịch (Đại I, No. 2 , trang 150a-154b). Tham chiếu: Phật thuyết Trường A-hàm kinh, Hậu Tần Hoằng Thỉ Phật-đà-da-xá cọng Trúc Phật Niệm dịch, ” Đệ nhất phẩm sơ đại bản kinh đệ nhất,” Đại I, No. 1(1), trang 1b-10c.

[2]. No. 2: Kỳ thọ Cấp cô độc viên 祇 樹 給 孤 獨 園 rừng cây Kỳ đà vườn Cấp Cô Độc; No. 1(1): Kỳ thọ hoa lâm khốt, dữ đại Tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu 祇 樹 花 林 窟 與 大 比 丘 衆 千 二 百 五 十 人 俱 động Hoa lâm vườn cây Kỳ đà, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi.

[3]. Bí-sô 苾 芻, No. 1 (1): Tỳ-Kheo hay Tỷ-khưu 比 丘.

[4]. Nguyên văn: trì bát thực thời 持 鉢 食 時, khi ôm bát ăn; chính xác: “sau khi ăn xong. Xem “Kinh Đại Bản Duyên”, cth. 3.

[5]. No. 2: nghệ Ca- lý-lê đạo tràng cọng tọa tư duy 詣 迦 里 梨 道 場, 共 坐 思 惟, “đến đạo tràng Ca-lý-lê, cùng nhau ngồi suy nghĩ.” No. 1(1): ư khất thực thời tập Hoa lâm đường các cọng nghị ngôn 於 乞 食 後 集 花 林 堂 各 共 議 言 “(Sau) khi khất thực, tụ tập ở Hoa lâm đường, cùng nhau bàn luận rằng:”

[6]. Tỳ-xá-phù 毘 舍 浮; No. 1(1): Tỳ-xá-bà 毘 舍 婆.

[7]. Ca-diếp ba 迦 葉 波; No. 1(1): Ca-diếp 迦 葉.

[8]. Thi-la 尸 羅, phiên âm Skt. śīla, hay Pāli: sīla .

[9] Kiều-trần 憍 陳, No. 1(1): Câu-lị-nhã 拘 利 若.

[10] Trong đoạn văn nói về tuổi thọ dài ngắn của bảy Phật Như Lai trong bản No 2 này so với bản No 1(1) có sự sai khác như sau: Bản No 2 viết: 爾 時 世 尊 說 此 偈 已, 告 苾 芻 眾 言, 汝 等 諦 聽, 我 今 復 說 七 佛 如 來, 應 等 正 覺 壽 量 長 短 Khi Thế tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí sô: Các Thầy lắng nghe! Nay Ta nói về tuổi thọ dài ngắn của bảy Phật Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác. Phật Tỳ-bà-thi, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống tám vạn tuổi… cho đến Ta hóa độ chúng sanh trong đời năm trược, sống một trăm tuổi. Thế tôn nói laị bằng bài tụng: ‘Như Lai Tỳ-bà-thi, Thi-khí, Tỳ-xá-phù; Đức Phật Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp. Chư Phật khi ra đời, Đều theo tuổi thọ người; Tám vạn rồi bảy vạn, Sáu vạn xuống bốn vạn. Ba vạn đến hai vạn, Phật Thích-ca cũng vậy; Xuất hiện đời năm trược, Loài người thọ trăm tuổi.’ Còn đoạn văn trong bản No 1(1) nếu đem so sánh với No 2 thì những câu bắt đầu của nó không có những câu này, mà chỉ có một một câu: ‘Các ngươi nên biết.’ Kế đến nói đến tuồi thọ ngắn dài của bảy Như Lai, một đàng theo bản No 2 thì Phật Tỳ-bà-thi Ứng cúng, Đẳng chánh giác, xuất hiện trong thế gian, thọ tám vạn tuổi, trong khi bản No 1(1) thì Thời đức Phật Tỳ-bà-thi, nhân loại sống tám vạn tuổi, và tiếp cho đến sáu vị Phật kia cũng như vậy. Nhưng đến baì tụng thì trên ý giống nhau, còn lối hành văn diễn tả thì khác nhau xa.

[11] Tên cha, mẹ, thành phố cùng là tên Mãn-độ-ma 滿 度 摩; No. 1(1) Bàn-đầu 盤 頭.

[12] Tên cha A-lỗ-noa 阿 嚕 拏; No. 1(1) Minh tướng 明 相, hay 將 曉 (阿 盧 那 A-lô-na).

[13] Tên mẹ và kinh thành lúc đó là A-rô-phược-đế 阿 嚕 … 帝 hay A-rô-noa-phược-đế 阿 嚕 拏 縛 帝; No. 2: mẹ là Quang diệu 光 耀, thành Quang tướng 光 相.

[14] Tô-bát-la-để-đô 穌 鉢 囉 底 都, Bát-la-bà-phược-để 鉢 囉 婆 嚩 底, A-nỗ-bát-ma 阿 努 鉢 麼; No. 1(1): Thiện Đăng 善 燈; Xứng Giới 稱 戒; Vô dụ 無 喻.

[15] Cha tên Dã-nghê-dã-na-đa 野 倪 也 那多, mẹ tên Vĩ-xá-khư 尾 舍 佉 , vua vào lúc đó hiệu Sát-mô-sát-ma 殺 謨 殺 摩 , thành Sát-ma 殺 摩; No. 1(1): tên Tự đắc 祀 得; mẹ tên Thiện Chi 善 枝; hiệu An hòa 安 和; thành An hòa 安 和 城.

[16] Cha tên Dã-nghê-dã-na-đổ 野 倪 也 那 睹, tên mẹ Ô-đa-la 烏 多 囉, vua thời đó hiệu Thâu-bộ 輸 部, thành Thâu-bà-phược-đế 輸 婆 縛 帝; No. 1(1):Cha tên Đại Đức 大 德, mẹ Thiện Thắng 善 勝; vua thời đó hiệu Thanh Tịnh 清 淨, đô thành tên là Thanh Tịnh 清 淨 城.

[17] Cha tên Tô-một-ra-hạ-ma 穌 沒 囉 賀 摩, mẹ Một-ra-hạ-ma-ngu-bát-đa 沒 囉 賀 摩 虞 鉢 多, vua thời đó hiệu Ngật-lý-kế 訖 里 計, thành Ba-la-nại 波 羅 奈; No. 1(1): cha tên Phạm Đức 梵 德, mẹ Tài Chủ 財 主; vua thời đó là Cấp-tỳ 汲 毗; thành Ba-la-nại 波 羅 奈 như No. 2.

[18] Khiếm-noa-để-tả 欠 拏 底 寫; No. 1(1): có hai đệ tử Khiên-trà 騫 茶 (hay Khiên-đồ 騫 荼), và Đề-xá 提 舍 (hay Chất-sa 躓 沙).

[19] Bộ-tam-bà-phược 部 三 婆 縛; No. 1(1): A-tỳ-phù 阿 毗 浮, và Tam-bà-bà 三 婆 婆.

[20] Dã-thâu-đa-ra 野 輸 大多 囉 , No. 1(1): Phù-du 扶 遊, và Uất-đa-ma 鬱 多 摩.

[21] Tán-nhĩ-phược 散 爾 縛; No. 1(1): Tát-ni 隡 尼 , và Tỳ-lâu 毗 樓.

[22] Tô-lỗ-noa-đa-la 穌 嚕 拏 多 囉; No. 1(1): Thư-bàn-na 舒 盤 那, và Uất-đa-lâu 鬱 多 樓.

[23] Bà-la-đặc-phược-nhạ 婆 羅 特 縛 惹; No. 1(1): Đề-xá 提 舍, và Bà-la-bà 婆 羅 婆.

[24] Xá-lợi-phất 舍 利 弗; No. 1(1), ngoài Xá-lợi-phất 舍 利 弗 , kể thêm Mục-kiền-liên 目 揵 連.

[25] A-thâu-ca 阿 輸 迦 , No. 1(1): Vô ưu 無 優.

[26] Sát-ma-ca-lỗ 殺 摩 迦 嚕; No. 1(1): Nhẫn Hành 忍 行.

[27] Ô-ba-phiến-đổ 烏 波 扇 睹; No. 1( 1): Tịch Diệt 寂 滅.

[28]. Một-đề-du 沒 提 踰; No. 1(1): Thiện Giác 善 覺.

[29] Tô-rô-đế-lý-dã 穌 嚕 帝 里 野; No. 1(1): An Hòa 安 和.

[30] Tát-lý-phạ-mật-đát-ra-sa 薩 里 縛 蜜 怛 邋 囉; No. 1(1): Thiện Hữu 善 友.

[31] A-nan-đà 阿 難 陀; No. 1(1) , cùng tên.








Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Kinh Thất Phật Phụ Mẫu Tánh Tự

Thích Chánh Lạc dịch

Nguồn: Thích Chánh Lạc dịch, Hiệu-chú: Tuệ Sỹ – Đức Thắng



Nghe như vầy[2]:

Một thời, Phật ở nước Xá-vệ. Trong nước, có người phụ nữ có con trai tên là Vô Diên do đó được gọi là Mẹ Vô Diên[3]. Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo[4] đến nhà bà Vô Diên, ngồi thọ trai trên điện. Sau khi thọ trai[5], có khoảng mười Tỳ-kheo, ở chỗ khuất[6], bàn luận với nhau: Phật là bậc chúng ta tôn kính, thần uy vô cùng, biến hóa tự tại theo ý muốn, lẽ nào Ngài không biết Phật quá khứ và Phật tương lai, với tuổi thọ, tên họ cha mẹ, bao nhiêu đệ tử, sự tu hành và giáo pháp của các Ngài.

Phật bằng thiên nhĩ nghe các Tỳ-kheo bàn luận về việc này; Ngài đến hỏi:

"Này các Tỳ-kheo, các thầy bàn luận về việc gì?"

Các Tỳ-kheo thưa:

"Chúng con nghĩ rằng Phật có thần thông tối thượng, đạo đức vi diệu, hiểu biết cao xa, không ai có thể hơn Ngài được. Phật biết rõ chư Phật quá khứ, chư Phật tương lai, với tuổi thọ, tên họ cha mẹ, bao nhiêu đệ tử, sự tu hành và ý chí giáo lệnh."

Phật nói:

"Lành thay! Lành thay! Đúng như vậy. Các thầy hành pháp Sa-môn, nên nhớ nghĩ những việc lành như vậy. Các thầy muốn nghe tên họ chư Phật quá khứ với cha mẹ, đệ tử các Ngài không?"

Các Tỳ-kheo thưa:

"Chúng con muốn nghe."

Phật dạy:

"Các Thầy hãy lắng nghe! Đức Phật thứ nhất tên Duy-vệ[7], nhập Niết-bàn đến nay đã chín mươi mốt kiếp. Phật thứ hai tên Thức[8], nhập Niết-bàn đến nay cũng đã ba mươi mốt kiếp. Phật thứ ba tên Tùy-diệp[9], nhập Niết-bàn đến nay đã ba mươi mốt kiếp. Trong kiếp Phi-địa-la[10] sẽ có một ngàn Phật, thứ nhất tên Phật Câu-lâu-tần[11], đức Phật thứ hai tên Phật Câu-na-hàm Mâu-ni[12], thứ ba tên Phật Ca-diếp [13], thứ tư là Ta, Phật Thích-ca Văn-ni.

"Phật Duy-vệ họ Câu-lân[14]. Phật Thức cũng họ Câu-lân. Phật Tùy-diệp cũng họ Câu-lân. Phật Câu-lâu-tần họ Ca-diếp. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, cũng họ Ca-diếp, Phật Ca-diếp cũng họ Ca-diếp. Nay, Ta, Phật Thích-ca Văn-ni họ Cù-đàm[15].

"Phật Duy-vệ dòng Sát-lợi. Phật Thức cũng dòng Sát-lợi. Phật Tùy-diệp cũng dòng Sát-lợi. Phật Câu-lâu-tần dòng Bà-la-môn. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni cũng dòng Bà-la-môn. Phật Ca-diếp cũng dòng Bà-la-môn. Đến nay, Ta, Phật Thích-ca Văn-ni dòng Sát-lợi.

"Phật Duy-vệ, cha tên Bàn-biểu,[16] vua dòng Sát-lợi; mẹ tên Bàn-đầu-mạt-đà[17], trị vì đất nước tên Sát-mạt-đề[18].

"Phật Thức, cha tên A-luân-noa[19], vua dòng Sát-lợi; mẹ tên Ba-la-ha-việt-đề[20], trị vì đất nước tên A-lâu-na-hòa-đề[21].

"Phật Tùy-diệp, cha tên Tu-ba-la-đề-hòa[22], vua dòng Sát-lợi; mẹ tên Da-xa-việt-đề[23], trị vì đất nước tên A-nâu-ưu-ma[24]. Phật Câu-lâu-tần, cha tên A-chi-vi-đâu[25], dòng Ba-la-môn; mẹ tên Tùy-xá-ca[26]. Quốc gia tên Luân-ha-lợi-đề-na[27]. Quốc vương hiệu Tu-ha-đề[28].

"Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, cha tên Gia-thiểm-bát đa[29], dòng Bà-la-môn; mẹ tên Uất-đa-la[30], nước tên Sai-ma-việt-đề[31]. Quốc vương hiệu Sai-ma[32].

"Phật Ca-diếp, cha tên A-chi-đạt-da[33], dòng Bà-la-môn; mẹ tên Đàn-na-việt-đề-da[34], nước hiệu Ba-la-tư[35]. Quốc vương hiệu Kỳ-thậm-đọa[36].

"Nay, Ta Phật Thích-ca Văn-ni, cha tên Duyệt-đầu-đàn[37], vua dòng Sát-lợi; mẹ tên Ma-ha Ma-da[38]. Nước tên Ca-duy-la-vệ [39], Đại vương đời trước tên Bàn-đề.[40]

"Phật Duy-vệ thọ tám vạn tuổi[41]. Phật Thức thọ bảy vạn tuổi[42]. Phật Tùy-diệp thọ sáu vạn tuổi[43]. Phật Câu-lâu-tần thọ bốn vạn tuổi[44]. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thọ ba vạn tuổi[45]. Phật Ca-diếp thọ hai vạn tuổi[46]. Ta, Phật Thích-ca Văn thọ trên dưới một trăm tuổi.

"Con Phật Duy-vệ tên Tu-viết-đa-kiện-đa[47]. Con Phật Thức tên A-đâu-la[48]. Con Phật Tùy-diệp tên Tu-ba-la-viết[49]. Con Phật Câu-lâu-tần tên Uất-đa-la[50]. Con Phật Câu-na-hàm Mâu-ni tên Đọa-di-đa-tiên-na[51]. Con Phật Ca-diếp tên Sa-đa-hòa[52]. Nay, con Ta, Phật Thích-ca Văn-ni tên La-vân[53].

"Phật Duy-vệ đắc đạo thành Phật dưới cây Ba-đa-la[54]. Phật Thức đắc đạo thành Phật dưới cây Phân-đồ-lợi[55]. Phật Tùy-diệp đắc đạo thành Phật dưới cây Tát-la[56]. Phật Câu-lâu-tần đắc đạo thành Phật dưới cây Tư-lợi[57]. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni đắc đạo thành Phật dưới cây Ô-tạm[58]. Phật Ca-diếp đắc đạo thành Phật dưới cây Ni-câu-loại[59]. Nay, Ta thành Phật Thích-ca Văn-ni dưới cây A-bái-đa[60]. Thị giả Phật Duy-vệ tên A-luân[61]. Thị giả Phật Thí tên Sai-ma-yết[62]. Thị giả Phật Tùy-diệp tên Phục-chi-diệp[63]. Thị giả Phật Câu-lâu-tần tên Phù-đề[64]. Thị giả Phật Câu-na-hàm Mâu-ni tên Tát-chất[65]. Thị giả Phật Ca-diếp tên Tát-ba-mật[66]. Ta, Phật Thích-ca Văn-ni, thị giả tên A-nan [67].[68]

"Phật Duy-vệ có đệ tử đệ nhất tên Tắc, đệ nhị tên Chất-hàm[69]. Phật Thức có đệ tử đệ nhất tên A-tỷ-vụ, đệ nhị tên Tam-tham[70]. Phật Tùy-diệp có đệ tử đệ nhất tên Phật-đề, đệ nhị tên Uất-đa[71]. Phật Câu-lâu-tần có đệ tử đệ nhất tên Tăng-kỳ, đệ nhị tên Duy-lưu[72]. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni có đệ tử đệ nhất tên Chuyển Luân, đệ nhị tên Uất-đa[73]. Phật Ca-diếp có đệ tử đệ nhất tên Chất-da-luân, đệ nhị tên Ba-đạt-hòa[74]. Nay đệ tử đệ nhất của Ta, Phật Thích-ca Văn-ni là Xá-lợi-phất-la, đệ nhị tên Ma-ha Mục-kiền-liên[75].

"Phật Duy-vệ thuyết ba hội kinh cho các Tỳ-kheo. Hội thuyết kinh thứ nhất có mười vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thuyết kinh thứ hai có chín vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thuyết kinh thứ ba có tám vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.

"Phật Thức cũng có ba hội thuyết kinh. Hội thuyết Kinh thứ nhất có chín vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thuyết kinh thứ hai có tám vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thuyết kinh thứ ba có bảy vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.

"Phật Tùy-diệp có hai hội thuyết kinh. Hội thuyết kinh thứ nhất có bảy vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán. Hội thuyết kinh thứ hai có sáu vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.

"Phật Câu-lâu-tần thuyết pháp một hội, có bốn vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.

"Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thuyết pháp một hội, có ba vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.

"Phật Ca-diếp thuyết pháp một hội, có hai vạn Tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.

"Ta, Phật Thích-ca Văn-ni thuyết pháp một hội, có một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo đều đắc quả A-la-hán."

Phật bảo các Tỳ-kheo:

"Không thể đo lường và xưng tán hết trí của Phật. Các Thầy nên thọ trì về sự xuất hiện, cha mẹ, Quốc vương, sự giáo hóa của bảy đức Phật."

Phật lại dạy các Tỳ-kheo:

"Kinh luật không thể không học. Đạo pháp không thể không hành trì. Đức Phật như người lái chiếc thuyền trong biển lớn, cả ngàn vạn người đều nương nhờ vào người lái để đi qua biển. Đức Phật dạy mọi người hành pháp thiện, đắc đạo quả và hóa độ thế gian cũng như vậy."

Các Tỳ-kheo nghe kinh này vui mừng, làm lễ rồi lui ra.



CHÚ THÍCH

[1]. Bản hán: Thất Phật phụ mẫu tánh tự kinh, Vô danh dịch, thời Tiền Ngụy. Đại I, No. 4 , tr. 159a-160a. Tham chiếu: Phật thuyết Trường A-hàm kinh, Hậu Tần Hoằng thỉ niên, Phật-đà-da-xá cọng Trúc Phật Niệm dịch, 'Đệ nhất phần sơ đại bản kinh đệ nhất.' Đại I, No. 1(1) tr. 1a- 10c.

[2]. Nguyên Hán: Văn như thị 聞 如 是.

[3]. Vô Diên Mẫu 無 延 母, phiên âm của Mṛgāramātṛ (Pāli: Migāramātu), dịch Lộc Tử Mẫu 廘 子 母, tức bà Tỳ-xá khư (Pāli: Visākā).

[4]. Ngũ bách Tỳ kheo, 五 百 比 丘 (năm trăm Tỳ kheo); No. 1(1): Tỳ-kheo chúng thiên ngũ bách nhị thập nhơn, 大 比 丘 眾 千 二 百 五 十人 (chúng đại Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi người).

[5]. Hán: phạn dĩ, 飯 已, (sau khi thọ trai); No. 1(1): Ư khất thực hậu, 於 乞 食 後, (sau khi khất thực).

[6]. Hán: ư bình xứ, 於 屏 處 (ở chỗ khuất ); No. 1(1): ở Hoa lâm đường 花 林 堂 .

[7]. Duy-vệ, 維 衛; No. 1(1): Tỳ-Bà-Thi, 毗 婆 尸.

[8]. Thức, 式; No. 1(1): Thi-khí, 尸 棄.

[9]. Tùy-diệp, 隨 葉; No. 1(1): Tùy-xá-bà, 毗 舍 婆.

[10]. Phi-địa-la kiếp, 披 地 羅 劫; No. 1(1): Hiền kiếp,賢 劫.

[11]. Câu-lâu-tần, 拘 樓 秦; No. 1(1): Câu-lâu-tôn 拘 樓 孫.

[12]. Câu-na-hàm-Mâu-ni 拘 那 含 牟 尼.

[13]. Ca-diếp, 迦 葉.

[14]. Câu-lân 拘 鄰; No. 1(1): Câu-lị-nhã, 拘 利 若.

[15]. Cù-đàm, 瞿 曇; Pāli: Gotama.

[16]. Bàn-biểu, 槃 裱; No. 1(1): Bàn-đầu, 槃 頭.

[17]. Bàn-đầu-mạt-đàø 槃 頭 末 陀; No. 1(1), Bàn-đầu-bà-đề; 槃 頭 婆 提.

[18]. Sát-mạt-đề, 殺 末 提; No. 1(1): Bàn-đầu-bà-đề, 槃 頭 婆 提.

[19]. A-luân-noa, 阿 輪 拏; No. 1(1), Minh Tướng, 明 相.

[20]. Ba-la-ha-việt-đề 波 羅 呵 越 提; No. 1(1), Quang Diệu,光 妙.

[21]. A-lâu-na-hòa-đề 阿 樓 那 惒 提; No. 1(1), Quang Tướng 光 相.

[22]. Tu-ba-la-đề-hòa, 須 波 羅 提 惒; No. 1(1)d, Thiện Đăng, 善 燈.

[23]. Da-xá-việt-đề, 耶 舍 越 提; No. 1(1) , Xứng Giới, 稱 戒.

[24]. A-nâu-ưu-ma, 阿(...)憂 摩; No. 1(1), Vô Dụ, 無 喻.

[25]. A-chi-vi-đâu, 阿 枝 違 兜; No. 1(1), Tự Đắc, 祀 得.

[26]. Tùy-xá-ca 隨 舍 迦; No. 1(1) , Thiện Chi, 善 枝ø.

[27]. Luân-ha-lợi-đề-na 輪 訶 唎 提 那; No. 1(1), An Hòa thành, 安 和 城.

[28]. Tu-ha-đề, 須 訶 提, No. 1(1), An Hòa, 安 和.

[29]. Da-thiểm-bát-đa 耶 睒 鉢 多; No. 1(1)d, Đại Đức, 大 德.

[30]. Uất-đa-la, 鬱 多 羅; No. 1(1), Thiện Thắng 善 勝.

[31]. Sai-ma-việt-đề, 差 摩 越 提 (có lẽ Skt. Kṣemavatī; Pāli: Khemavātī); No. 1(1): Thanh Tịnh thành, 清 淨 城.

[32]. Sai-ma 差 摩 (có lẽ Skt. Kwema; Pali: Khema ); No. 1(1), Thanh Tịnh, 清 淨.

[33]. A-chi-đạt-da, 阿 枝 達 耶; No. 1(1), Phạm Đức, 梵 德.

[34]. Đàn-na-việt-đề-da, 檀 那 越 提 耶; No. 1(1): Tài Chủ, 財 主.

[35]. Ba-la-tư, 波 羅 私; No. 1(1), Ba-la-nại, 波 羅 奈 城.

[36]. Kỳ-thậm-đọa, 其 甚 墮; No. 1(1), Cấp-tỳ, 汲 毗.

[37]. Duyệt-đầu-đàn, 閱 頭 檀, No. 1(1), Tịnh Phạn, 淨 飯.

[38]. Ma-ha Ma-da, 摩 訶 摩 耶; No. 1(1), Đại Thanh Tịnh Diệu, 大 清 淨 妙.

[39]. Ca-duy-la-vệ, 迦 維 羅 衛; No. 1(1), Ca-tì-la-vệ, 迦 毗 羅 衛.

[40]. Bàn-đề 槃 提 , không rõ.

[41]. No. 4, tuổi thọ của Phật; nhưng No. 1(1), tuổi thọ loài người đương thời.

[42]. Xem cht.41.

[43]. No. 1(1), người thời bấy giờ thọ bảy vạn tuổi.

[44]. Xem cht. 41.

[45]. Xem cht. 41.

[46]. Xem cht. 41.

[47]. Tu-viết-đa-kiện-đa, 須 曰 多 鞬 陀; No. 1(1), Phương Ưng, 方 膺.

[48]. A-đâu-la, 阿 兜 羅; No. 1(1) sđd.: Vô Lượng, 無 量.

[49]. Tu-ba-la-viết, 須 波 羅曰; No. 1(1) sđd.: Diệu Giác, 妙 覺.

[50]. Uất-đa-la, 鬱 多 羅; No. 1(1) sđd.: Thượng Thắng, 上 勝.

[51]. Đọa-di-đà-tiên-na, 墮 夷 陀 先 那; No. 1(1) sđd.: Đạo Sư, 道 師.

[52]. Sa-đa-hòa, 沙 多 和; No. 1(1) sđd.: Tập Quân, 集 軍.

[53]. La-vân, 羅 云; No. 1(1) sđd.: La-Hầu-La, 羅 候 羅.

[54]. Ba-đà-la, 波 陀 羅; No. 1(1) sđd.: Ba-ba-la, 波 波 羅.

[55]. Phân-đồ-lị, 分 塗 利; No. 1(1) sđd.: Phân-đà-lị, 分 陀 利.

[56]. Tát-la, 薩 羅; No. 1(1) sđd.: Bà-la, 婆 羅.

[57]. Tư-lợi, 斯 利; No. 1(1) sđd.: Thi-lị-sa, 尸利 沙.

[58]. Ô-tạm, 烏 暫; No. 1(1) sđd.: Ô-tạm-bà-la, 烏 暫 婆 羅.

[59]. Ni-câu-loại, 尼 拘 纇; No. 1(1) sđd.: Ni-câu-luật, 尼 拘 律.

[60]. A-bái-đa, 阿 沛多; No. 1(1) sđd.: Bát-đa, 鉢 多.

[61]. A-luân, 阿 輪; No. 1(1), sđd.: Vô Ưu, 無 優.

[62]. Sai-ma-yết, 差 摩 竭; No. 1(1) sđd.: Nhẫn-Hành, 忍 行.

[63]. Phục-chi-diệp, 復 枝 葉; No. 1(1) sđd.: Tịch Diệt, 寂 滅.

[64]. Phù-đề, 浮 提; No. 1(1) sđd.: Thiện Giác, 善 覺.

[65]. Tát-chất, 薩 質; No. 1(1) sđd.: An Hòa, 安 和.

[66]. Tát-ba-mật, 薩 波 蜜; No. 1(1) sđd.: Thiện Hữu, 善 友.

[67]. A-nan, 阿 難; No. 1(1) sđd.: A-nan, 阿 難.

[68]. No. 4, đoạn văn này (từ Thị giả đến A-nan) đề cập đến những người hầu cận của các đức Phật. Nhưng theo bản No. 1(1) lại đề cập đến con của các đức Phật. Ở đây, nếu đem đối chiếu hai đoạn của chủ đề này, thì chúng ta thấy có những điểm đồng dị như trên.

[69]. Tắc và Chất-hàm, 塞, và 質 含; No. 1(1) sđd.: Khiên-trà và Đề-xá, 騫 茶, và 提 舍.

[70]. A-tỷ-vụ và Tam-tham, 阿 比 務 và 三 參; No. 1(1) sđd.: A-tỳ-phù và Tam-bà-bà, 阿 毗 浮 và 三 婆 婆.

[71]. Phật-đề và Uất-đa, 佛 提 và 鬱 多; No. 1(1) sđd.: Phò-du và Uất-đa-ma, 扶 遊 và 鬱 多 摩.

[72]. Tăng-kỳ và Duy-lưu, 僧 耆 và 維 留; No. 1(1) sđd.: Tát-ni và Tì-lâu, 薩 尼 và 毗 樓.

[73]. Chuyển Luân và Uất-đa, 轉 輪 và 鬱 多; No. 1(1) sđd.: Thư-bàn-na và Uất-đa-lâu, 舒 盤 那 và 鬱 多 樓.

[74]. Chất-da-luân Ba-đạt-hòa, 質 耶 輪 và 波 達 和; No. 1(1) sđd.: Đề-xá và Bà-la-bà, 提 舍 và 婆 羅 婆.

[75]. Xá-lợi-phất-la và Ma-ha Mục-kiền-liên, 舍 利 弗 羅 và 摩 訶 目 乾 連; No. 1(1) sđd.: Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, 舍 利 弗 và 目 乾 連 .

Kinh Thất Phật Cổ



Kinh Thất Phật Cổ




chú ý : Khi trì niệm danh hiệu trên sẽ hóa giải tất cả các nạn về "thất tinh lăng tiêu họa"




NGHI THỨC TỤNG NIỆM


Đứng:
Dốc lòng kính lễ, mười phương thường Trụ Tam Bảo.
Đệ tử con xin đem hương giới, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến cúng dàng.
Bản sư thích ca mâu ni phật và mười phương thường Trụ Tam Bảo.


Quỳ:
Con xin vì 4 ơn
Ơn trời đất chở che
Ơn cha mẹ sinh thành
Ơn thầy bạn dạy răn
Ơn nhân dân no ấm.
Xin vì chúng sinh 3 cõi
Cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, thề nguyện đoạn trừ nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng mà quy mệnh sám hối.
Đệ tử con chí tâm sám hối.
Úm sa pha ba pha, truật đã sa phạ, dạt ma sa phạ, bà phạ truật độ hám.
Phép này vô thương rất nhiệm mầu.
Trăm nghìn muôn kiếp dễ gặp đâu.
Con nay nghe thấy được thụ trì nguyện hiểu như lai nghĩa thật sâu.


(Nam mô bổn sư thích ca Mâu Ni Phật) 3 lần


Nam mô : Đại Khôi Dương Minh Tham Lang Thái Tinh Quân.
Nam mô : Đại Thước Âm Tinh Cự Môn Nguyên Tinh Quân.
Nam mô: Đại Quyền Chân, Thân Lộc Tồn Chính Tinh Quân.
Nam mô : Đại Hành Tiên Minh Văn Khúc Nữu Tinh Quân.
Nam mô: Đại Tất Đán Nguyên Liêm Trinh Cường Tinh Quân.
Nam mô : Bắc Cực Vũ Khúc Kỷ Tinh Quân.
Nam mô: Phiêu Thiên Quan Phá Quân Quan Tinh Quân.
Nam mô: Đông Minh Ngoại Phụ Tinh Quân.
Nam mô: Ấn Quan Nội Bật Tinh Quân. 

Các Đức Đai Thiên Thệ.

Vô thượng Cát Tường Tôn.
Ở đời quá khứ kia.
Các ngài đã tu chứng
Ly dục xuất thế gian.
Rủ lòng đại từ bi.
Thương xót các chúng sinh.
Hai nhăm hữu đời sau.
Mà hóa thân thị hiện.
Ở giữa vòm trời.
Làm Thất Bắc Đẩu Tinh Quân.
Gồm ngoại phụ, nội bật.
Chúa tể của muôn cõi.
Quý thay. Quý hóa thay.


Thích ca Văn Đại Sư
Đã vì đại chúng đây.
Khai diễn cho được biết.
Thất Bắc Đẩu Tinh Quân.
Đều là các cổ phật.
Đời quá khứ thị hiện.
Chúng con nay được nghe
Nguyện xin vì hậu thế
Mà diễn nói rộng rãi.
Bản Kinh Công Đức này.


Úm hạt na đàn na.
Cha cha dé, ma ha dé
Sắt cha, sắt cha dé.
(Hạt bát ma duệ sa bà ha) 3 lần

Nam mô Hội Thượng Bắc Đẩu Nguyên Tinh Chư Phật Bồ Tát ma ha tát.
Nam mô Tiêu tại Diên Thọ Bắc Đẩu Cổ Phật Tinh quân






Thế nào là 7 đức Phật quá khứ, nguyên thủy thất Phật?


Bảy vị Phật quá khứ hay 7 vị Phật nguyên thủy, quá khứ thất Phật, nguyên thủy thất Phật, là tên gọi chung chỉ 7 vị Phật được đề cập tới kinh sách Phật giáo, trong Đại bổn kinh của Trường bộ kinh (Trường a hàm kinh). Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) thuộc Hiền kiếp là vị Phật cuối cùng trong số này.


Lịch sử chư Phật này ghi trong các kinh, luật: Tạp A-hàm 34, Trường A-hàm 1, kinh Đại Bản, Kinh Tăng Nhất A-hàm 45, Kinh Hiền Kiếp 7, Kinh Thất Phật Phụ Mẫu Tự Tính Tự, Kinh Thất Phật, Phật Bản Hạnh Kinh Tập 11, Hữu Bộ Tì-nại-da Phá Tăng Sự, Kinh Du Hành Bản Khởi… về nhân thân, sự ra đời, dòng họ, cha, mẹ, thê tử, đệ tử, thị giả, nơi ở, đạo tràng, chúng hội thuyết pháp đầu tiên.

Tập Dị Môn Túc Luận 3 (Đại 26, 378 hạ) đã đặt vấn đề: Đời quá khứ là gì? Và trả lời rằng:

“Các hành đã khởi, đã cùng khởi, đã sinh, đã cùng sinh, đã chuyển, đã cùng chuyển, đã nhóm họp, đã xuất hiện, rơi vào quá khứ, diệt hết và biến đổi thành tính quá khứ, loại quá khứ, thuộc về đời quá khứ, đó là nghĩa quá khứ thế”.

Một vấn đề nữa, quá khứ chư Phật trên thuộc về kiếp nào? Kiếp chia làm 3 loại: Đại kiếp, Trung kiếp và Tiểu kiếp. Đại kiếp hiện tại gọi là Hiền kiếp, Đại kiếp quá khứ gọi Trang Nghiêm kiếp, Đại kiếp vị lai gọi là Tinh Tú kiếp. Trong mỗi kiếp có 1.000 vị Phật ra đời. Như vậy 7 vị Phật trên thuộc về Quá khứ Trang Nghiêm kiếp, lần lượt ra đời từ đầu kiếp 91 trở đi, tức tuổi thọ loài người từ 80.000 tuổi, 70.000 tuổi… 30.000 tuổi đến Đức Phật Thích-ca Mâu-ni ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 4,5 trước Tây lịch.

Thường trong giai đoạn đầu, khi chư Phật ra đời đệ tử đều thanh tịnh, chư Phật chỉ nói một bài kệ ngắn gọn, đệ tử y theo đó tu hành nhanh chóng chứng quả giác ngộ. Nội dung chung nhất là luôn phải chiết phục thân, khẩu, ý, luôn ngăn chận đừng làm các điều ác mà phải hành động thiện, thể hiện điều thiện qua đi, đứng, nằm, ngồi, qua đối nhân, xử thế…

Vì thế trong Phẩm Tự, Kinh Tăng Nhất A-hàm 1 (Đại 2, 551 thượng) giải thích ý nghĩa cô đọng như sau: “Nghĩa của Tứ-hàm thì trong một bài kệ đều có đầy đủ giáo pháp của chư Phật và giáo pháp của Bích-chi-phật, Thanh văn. Sở dĩ như vậy là vì các điều ác đừng làm thì cấm giới đầy đủ, đạo hạnh thanh bạch; Còn tuân thủ làm các điều thiện thì tâm ý thanh tịnh, tự lòng mình trong sáng, đọan trừ tà kiến điên đảo, đó là lời chư Phật dạy, trừ bỏ ngu hoặc”.

1) Tỳ Bà Thi Phật:

Nhập Niết Bàn cách đây chín mươi mốt kiếp, thọ tám vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Duy Vệ, trị vì đất nước tên Sát-mạt-đề. Thị giả của Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên A-thâu-ca. Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-bà-thi Như Lai có sáu vạn hai ngàn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới Kệ:

忍辱爲第一

佛說無爲最

不以剃鬚髮

害他爲沙門

Phiên âm:

Nhẫn nhục vi đệ nhất

Phật thuyết vô vi tối

Bất dĩ thế tu phát

Hại tha vi sa-môn

Tạm dịch:

Nhẫn nhục là bậc nhất

Niết-bàn là tối thượng

Xuất gia não hại người

Không xứng danh Sa-môn


Tỳ Bà Thi Phật


2) Thi Khí Phật:

Nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ bảy vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Phật Thức, trị vì đất nước tên A Lâu Na Hòa Đề. Thị giả của Thi-khí Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên Sát-ma-ca-rô. Hội thuyết pháp thứ nhất của Thi-khí Như Lai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có tám mươi ức Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

若眼見非邪

者不座牀亦復然

執志爲專一

是則諸佛敎

Phiên âm:

Nhược nhãn kiến phi tà

Tọa sàng diệc phục nhiên

Chấp chí vi chuyên nhất

Thị tắc chư Phật giáo

Dịch nghĩa:

Như mắt thấy sai quấy

Chỗ nằm ngồi cũng vậy

Giữ chí cho chuyên nhất

Là lời chư Phật dạy

Thi Khí Phật

3) Tỳ Xá Phù Phật: Nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ sáu vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Tùy Diệp, trị vì đất nước tên A-nâu-ưu-ma. Thị giả của Phật Tỳ-xá-phù, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Ô-ba-phiến-đổ. Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-xá-phù Như Lai có tám vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có sáu vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

不 害 亦 不 非

奉 行 於 大 戒

於 食 知 止 足

座 牀 亦 復 然

執 志 爲 專 一

是 則 諸 佛 敎

Phiên âm:

Bất hại diệc bất phi

Phụng hành ư đại giới

Ư thực tri chỉ túc

Tọa sang diệc phục nhiên

Chấp chí vi chuyên nhất

Thị tắc chư Phật giáo

Tạm dịch:

Không hại, không sai trái

Luôn hành trì đại giới

Ăn uống biết dừng đủ

Chỗ nằm ngồi cũng vậy

Giữ chí cho chuyên nhất

Là lời chư Phật dạy

Tỳ Xá Phù Phật

4) Câu Lưu Tôn Phật: Xuất hiện vào kiếp thứ sáu trong hiền kiếp, thọ bốn vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Câu Lâu Tần, trị vì đất nước tên Luân-ha-lợi-đề-na. Thị giả của Phật Câu-lưu-tôn, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Một-đề-du. Câu-lưu-tôn Như Lai thuyết pháp một hội có bốn vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

譬如蜂採花

其色甚香潔

以味惠施他

道士遊聚落

不誹謗於人

亦不觀是非

但自觀身行

諦觀正不正

Phiên âm:

Thí như phong thái hoa

Kỳ sắc thậm hương khiết

Dĩ vị huệ thí tha

Đạo sĩ du tụ lạc

Bất phỉ báng ư nhân

Diệc bất quán thị phi

Đản tự quán thân hành

Đế quán chánh bất chánh

Tạm dịch:

Như ong hút mật hoa

Hương sắc hoa càng thắm

Đem vị ban cho người

Tỳ kheo vào làng xóm

Không phỉ báng một ai

Thị phi chẳng nhìn đến

Chỉ xét hành vi mình


Có đoan chính hay không



5) Câu Na Hàm Mâu Ni Phật:

Xuất hiện vào kiếp thứ bảy, thọ ba vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước tên Sai-ma-việt-đề. Thị giả của Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên To-rô-đế-lý-dã. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thuyết pháp một hội có ba vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

執志莫輕戲

當學尊寂道

賢者無愁憂

當滅志所念

Phiên âm:

Chấp chí mạc khinh hý

Đương học tôn tịch đạo

Hiền giả vô sầu ưu

Đương diệt chí sở niệm

Tạm dịch:

Giữ tâm chớ khinh đùa

Cần học đạo tịch diệt

Hiền giả không sầu lo

Quyết tâm diệt sở niệm



6) Ca Diếp Phật:

Xuất hiện vào kiếp thứ tám, thọ hai vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước tên Ba-la-tư. Thị giả của Ca-diếp Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tát-lý-phược mật-đát-la. Phật Ca-diếp thuyết pháp một hội có hai vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.

Giới kệ:

一切惡莫作

當奉行其善

自淨其志意

是則諸佛敎

Phiên âm:

Nhất thiết ác mạc tác

Đương phụng hành kỳ thiện

Tự tịnh kỳ chí ý

Thị tắc chư Phật giáo

Tạm dịch:

Đừng làm các điều ác

Vâng làm các điều thiện

Giữ tâm ý trong sạch

Là lời chư Phật dạy




7) Thích Ca Mâu Ni Phật:

Xuất hiện vào kiếp thứ chin, thọ trên dưới 100 tuổi (Khi giảng kinh, Ngài nói Ngài thọ trên dưới 100 tuổi, thật tế Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi). Ngài trị vì đất nước tên Ca-duy-la-vệ. Thị giả của Thích Ca Như Lai, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên A-nan-đà. Phật Thích Ca thuyết pháp một hội có một ngàn hai trăm năm mươi Bí-sô đắc quả A-la-hán.(Nếu kể thêm vị Phật tương lai là Phật Di Lặc thì chúng ta có tất cả 8 vị Phật thị hiện ở cõi Ta bà này).

Giới kệ:

護口意清淨

身行亦清淨

淨此三行迹

修行仙人道

Phiên âm:

Hộ khẩu ý thanh tịnh

Thân hành diệc thanh tịnh

Tịnh thử tam hành tích

Tu hành tiên nhân đạo

Tạm dịch:

Giữ miệng, ý thanh tịnh

Thân hành cũng trong sạch

Ba nghiệp đều thanh tịnh

Đạo Như Lai tu hành


Giới Bồ-tát cũng hình thành từ 7 kệ trên, cho thấy rõ trong Tam Tụ Tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới tức không làm các điều ác. Nhiếp thiện pháp giới tức làm tất cả các điều thiện, Nhiêu ích hữu tình giới làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Như vậy Bảy kệ giới của chư Phật quá khứ là giới luật căn bản của Đạo Phật, không luận xuất gia hay tại gia.

Để kết thúc xin dẫn ra bài kệ của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni mà trong Luật Bí Sô thuộc Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ coi đó là Giới Kinh được Ngài đúc kết sau khi Thành đạo:

Tỳ-bát, Thí-thức Khí

Tỳ-xá, Câu-lưu-tôn

Yết-nặc-ca Mâu-ni

Ca-diếp, Thích-ca Tôn

Như vậy Trời trong trời

Bậc Vô-thượng Điều ngự

Bảy Phật đều hùng mạnh

Hay cứu hộ thế gian

Đầy đủ đại danh xưng

Đều nói Giới kinh này.

Chư Phật và đệ tử

Đều cùng tôn kính giới

Do cung kính Giới kinh

Chứng đặng quả Vô-thượng

Người nên cầu xuất ly

Siêng tu trong Phật giáo

Hàng phục quân sanh tử

Như voi phá nhà cỏ

Ở trong pháp luật này

Thường tu không phóng dật

Làm khô biển phiền não

Sẽ hết ngằn mé khổ

Như Giới kinh này nói

Hòa hợp làm trưởng tịnh

Phải cùng tôn kính giới

Như trâu mao tiếc đuôi

Tôi nói Giới kinh rồi

Chúng Tăng trưởng tịnh xong

Phước lợi các hữu tình

Đều trọn thành Phật Đạo


.
Hình tượng 7 vị Phật tại Quần thể hang động Ajanta, Ấn Độ. 



Trong 3 kiếp quá khứ, hiện tại, vị lai đều có cả nghìn vị Phật; tuy nhiên đại diện thường được nhắc tới cho các vị Phật quá khứ là Nhiên Đăng Cổ Phật (Dipankara), đại diện thường được nhắc tới cho các vị Phật hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, đại diện thường được nhắc tới cho các vị Phật vị lai là Di Lặc Tôn Phật (vị lai có ý nghĩa bề mặt là "chưa đến" hay thuộc về "tương lai").

Số lượng các vị Phật theo kinh điển mô tả là hằng hà sa số (nhiều như cát sông Hằng), do vậy tìm hiểu khởi nguồn của chư Phật là không thể, quá phạm vi kiến thức mà một chúng sinh có thể biết, đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi được hỏi về vấn đề này bởi một người Bà La Môn, Ngài đã im lặng không trả lời vì nó thật sự không cần thiết, một việc vô nghĩa đối với giáo pháp tu tập để đạt giác ngộ.