Hiển thị các bài đăng có nhãn Tứ Diệu Đế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tứ Diệu Đế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 9, 2017

Ý Trinh ghi Tứ Diệu Đế của Phật


TỨ DIỆU ĐẾ




Trong kinh Tạp A-hàm (Samyatt-Nikaya), Đức Phật có dạy các đệ tử của Ngài: “Hỡi các Tỳ kheo, các thầy đừng để tâm trí vào những tư tưởng sau đây: Thế giới là hữu hạn; thế giới là vô cùng. Điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là, ta dạy các thầy về Sự Khổ, Nguyên Nhân Sự Khổ, và Con Đường Đi Đến Diệt Khổ. Những điều đó có ích, vì chắc chắn sẽ đưa các thầy đến cứu cánh của giác ngộ và giải thoát vậy”.




Trong kinh Tứ thập nhị chương, do hai ngài Ma Đằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan đời hậu Hán (Trung Quốc) dịch, phần Tổng khởi có ghi: “Thế Tôn thành đạo dĩ, tác thị tư duy, ly dục tịch tĩnh thị tối vi thắng, trụ đại thiền định, giáng chư ma đạo. Ư Lộc Uyển trung, chuyển Tứ đế pháp luân, độ Kiều Trần Như đẳng ngũ nhân nhi chứng Đạo quả...”. Đoạn này có thể hiểu cách đơn giản là: Sau khi thành đạo, Đức Thích Ca khởi niệm suy nghĩ, xa lìa ái dục được tĩnh tại đệ nhất và đạt quả vị Chính đẳng Chính giác. Rồi Ngài an trụ trong thiền định hàng phục và chế ngự mọi ma lực. Sau đó, tại vườn Lộc Uyển, Thế Tôn đã lấy giáo lý Tứ đế để truyền giảng và độ nhóm ông Kiều Trần Như cùng năm người khác chứng Đạo quả.
Điều này cho thấy tầm quan trọng của Tứ Diệu đế trong kinh điển Phật giáo. Trong tư tưởng Phật giáo, Tứ đế hay Tứ Diệu đế là giáo lý cơ bản, lấy con người làm trung tâm và vì con người mà thực hiện. Đức Phật đã nhận thấy ở chúng sinh cái nhân thiện lành, đó là Phật tính, nếu biết tu tập đúng chính pháp đều có thể thành Phật (Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính). Phật vì lòng đại từ bi muốn lợi lạc cho chúng sinh mà thuyết giảng giáo pháp của mình. Đây là giáo lý Đức Phật thuyết giảng trong thời kỳ đầu nên cũng gọi là giáo lý Nguyên thủy.
Tứ đế hay Tứ Diệu đế là cách dịch của người Hán từ nguyên gốc Phạn ngữ là Catuariyasacca, cũng có cách gọi khác là Tứ Chân đế, Tứ Thánh đế. Tứ là số từ bốn; Diệu là tuyệt vời, khéo, hay, diệu dụng, mầu nhiệm; Đế là lời nói vững chãi, chắc thật, là chân ngôn, lời nói luôn đúng với chân lý. Tứ Diệu đế là bố điều chắc thật, diệu dụng không ai chối cãi được. Bốn đế lý ấy là:


1. Khổ đế (Dukkha Ariyasacca): nói về sự khổ ở đời. Khổ không chỉ có nghĩa là cảm giác đau đớn, khổ nhọc thân, tâm mà còn chỉ trạng thái cảm thấy không yên ổn, không thỏa mãn những mong muốn trong lòng. Tư tưởng Phật giáo cho rằng, con người sinh ra ở đời là khổ: “Đời là bể khổ”. Từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay không có lúc nào hết khổ. Vũ trụ tự nhiên thì luôn trong quá trình biến đổi Thành - Trụ - Hoại - Không. Về thân xác con người thì trải qua Sinh - Lão – Bệnh - Tử. Mà cả bốn quá trình ấy không khi nào xa lìa nỗi khổ: Sinh khổ (sinh ra là khổ), Lão khổ (quá trình già nua của thân thể là khổ), Bệnh khổ (có bệnh tật đau ốm là khổ), Tử khổ (chấm dứt sự sống là khổ). Rồi sống trong cuộc sống xã hội cũng luôn có nỗi khổ: Sở cầu bất đắc khổ (mong muốn mà không đạt được là khổ), Ái biệt ly khổ (yêu thương nhau mà phải xa lìa là khổ), Oán tăng hội khổ (ghét thù nhau mà phải sống gần nhau là khổ), Ngũ thụ uẩn khổ (năm giác quan tương tác với thế giới bên ngoài, thọ nhận tướng sắc của vật chất, bị hình tướng của vật chất che mất bản chất và mãi bị mê muội theo nó là khổ). Đó là tám nỗi khổ của con người mà Phật giáo gọi là Bát khổ.
Theo quan niệm của Phật giáo thì những thứ khổ con người phải chịu là cái khổ trong tam giới và đều là nhân để đời sau phải chịu quả trầm luân vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì sinh tử thật là khổ, không ai không gặp, không ai chối bỏ được, nó như là cái hiển nhiên đối với con người, nên gọi là Khổ đế.


2. Tập đế (Samudayat Ariyasacca): nói về nguyên nhân sự khổ. Tập có nghĩa là nhóm họp, gộp lại. Nếu quá khứ hay hiện tại con người không biết được đời là khổ, không biết vạn vật hữu hình hay vô hình chỉ là giả tạm, luôn biến đổi; không biết những ý nghĩ, lời nói và hành động của mình sẽ gây ra nghiệp nên lần hồi cứ làm theo mãi, vì suy nghĩ và hành động xấu mà ngày càng huân tập, nhóm góp điều xấu, bị xô đẩy trôi lăn mãi trong sinh tử luân hồi, nên gọi là Tập.
Đức Phật dạy rằng, vì vô mình che lấp nên con người không nhận ra thực tướng của vạn vật, rồi cứ tham đắm chạy theo cái hư ảo không vĩnh viễn đó nên tạo ra nghiệp. Đó là nguyên nhân của nỗi khổ. Trong đó, có ba thứ độc (tam độc): Tham (tham lam), Sân (giận, bực, nóng nảy), Si (ngu mờ, mê muội) là nguyên nhân chính nhất của nỗi khổ. Xét cho kỹ thì mọi việc làm thiện, ác (sẽ tạo ra các nghiệp) gắn liền với sinh tử trong tam giới mà con người không ai không vướng mắc, nên gọi là Tập đế.


3. Diệt đế (Nirodha Ariyasacca): nói về sự khổ bị tiêu diệt, được giải thoát. Diệt tức là tịch diệt hay Niết bàn. Nghĩa là nghiệp đã hết không còn khổ lụy sinh tử luân hồi nữa. Khổ là mầm gốc của phiền não. Mà phiền não được diệt nên những nghiệp quả trong tam giới cũng diệt. Nếu các nghiệp phiền não trong tam giới đã diệt thì liền chứng đắc được cảnh giới Niết bàn (Hữu dư Niết bàn). Khi xả báo huyễn thân (nghĩa là chết), thân tứ đại không còn (nhà Phật dùng từ tịch hoặc tịch diệt hay nhập Niết bàn) cái khổ của đời sau không còn tương tục nữa, khi ấy gọi là Vô dư Niết bàn. Cảnh giới Niết bàn thật vắng lặng, tĩnh tịch và an lạc, đoạn diệt hết thảy hoặc nghiệp luân hồi nên gọi là Diệt đế.


4. Đạo đế (Magga Ariyasacca): nói về phương pháp diệt trừ nguyên nhân sự khổ. Đạo là luân lý, là con đường đúng đắn, đạo còn có nghĩa là năng thông năng đạt, nó chính là những phương pháp, là con đường để cho chúng sinh theo đó mà tu tập để mong cầu vượt thoát khỏi trầm luân, khổ ải trong tam giới. Trong đó, Đức Phật chỉ ra tám con đường chính, bao gồm: thấy biết chân chính (chính kiến); suy nghĩ chân chính (chính tư duy); lời nói chân chính (chính ngữ); nghề nghiệp chân chính (chính nghiệp); đời sống chân chính (chính mệnh); siêng năng chân chính (chính tinh tiến); tưởng nhớ chân chính (chính niệm); định tâm chân chính (chính định). Tám con đường chân chính ấy, Phật giáo gọi là Bát Chính đạo.
Đạo đế có Ba mươi bẩy Phẩm trợ đạo và Bát Chính đạo nương trợ, tương hỗ với nhau chắc chắn có thể đưa chúng sinh vượt qua khổ ải, chứng nhập cảnh giới Niết bàn không hư dối, nên gọi là Đạo đế.
Phật giáo chủ trương vừa lấy trí tuệ diệt trừ vô minh, phá vòng luân hồi sinh tử, vừa thực hành tu tập diệt trừ tham dục để chuyển nghiệp đạt đến sự giải thoát. Tu hành để mong cầu giải thoát trong nhà Phật cũng có nhiều phương cách. Phật nói có tám vạn bốn ngàn pháp môn, bất kỳ ai thấy khế hợp và phát nguyện tu tập theo một pháp môn nào thì đều có thể trở thành bậc giác ngộ giải thoát, vì Phật tính trong mọi chúng sinh là không khác nhau và mọi pháp môn đều đưa đến giác ngộ. Tuy nhiên, cho dù là pháp môn nào đi nữa thì cũng lấy Tam vô lậu học (Giới - Định - Tuệ) làm căn bản và cương yếu.


Kinh sách Phật giáo thường ghi, vì lòng bi mẫn với chúng sinh, vì lòng thương tưởng với đời mà Đức Phật thị hiện ra ở cõi đời này. Ngài có mặt ở đời vì một đại nhân duyên là cứu khổ độ sinh. Như vậy, với Tứ Diệu đế, Phật giáo đã giải quyết vấn đề con người một cách rốt ráo, và Tứ Diệu đế cũng là giáo lý căn bản mà bất kỳ một người xuất gia học Phật dù thuộc hệ phái nào đều phải biết tới và tu tập theo để mong cầu giải thoát, chứng ngộ Niết bàn./.

Ý Trinh : Tứ Diệu Đế do Đức Đạt-Lai Lạt-Ma thuyết


TỨ DIỆU ĐẾ (BỐN CHÂN LÝ CAO CẢ)
Đức Đạt-Lai Lạt-Ma Thứ 14
thuyết pháp tại Đại Học Washington




Tất cả các tôn giáo, nói chung, đều có động lực từ lòng từ bi và nhân ái. Mặc dù các tôn giáo thường có sự khác biệt lớn trên bình diện triết học, nhưng mục đích cơ bản cũng đại khái giống nhau, đó là mang đến sự tiến triển tốt đẹp. Dĩ nhiên, mỗi tín ngưỡng có những phương pháp đặc thù. Mặc dù các nền văn hóa dĩ nhiên khác nhau, nhưng chúng tađang ngày càng đến gần nhau hơn, vì thế giới ngày càng thu nhỏ với sự tiến triển của ngành thông tin, tạo dịp tốt để chúng ta học hỏi lẫn nhau. Tôi cảm thấy điều này rất hữu ích.

Thí dụ, Thiên Chúa giáo có rất nhiều phương pháp rất thực tiễn và hữu ích để phụng sựnhân loại, nhất là trong lãnh vực giáo dục và y tế. Vì vậy, các tín đồ Phật giáo còn có nhiều điều cần học hỏi thêm về phương diện này. Đồng thời, Phật pháp có những phương pháp thiền định sâu xa và những lý luận triết lý mà các tín đồ Thiên Chúa cũng có thể học hỏi. Trong thời cổ đại ở Ấn Độ, các tín đồ Phật giáo và Ấn giáo học hỏi lẫn nhau rất nhiều.

Vì các hệ thống tôn giáo cùng có mục đích cơ bản là làm lợi lạc cho con người, vì vậykhông có gì sai trái nếu chúng ta học hỏi lẫn nhau về mặt khuyết điểm, còn về mặt ưu điểm thì giúp chúng ta tôn trọng lẫn nhau; điều này khuyến khích sự hòa hợp và thống nhất. Vì lý do này, tôi sẽ nói sơ qua về những tư tưởng Phật giáo.

Căn bản của Phật pháp là Bốn Chân Lý Cao Cả (Tứ Diệu Đế) - những chân lý về khổ (khổ đế), nguồn gốc của khổ (tập đế), diệt khổ (diệt đế) và con đường diệt khổ (đạo đế). Tứ đế gồm có hai nhóm quả và nhân: đau khổ và nguồn gốc của đau khổ; sự chấm dứtđau khổ và con đường dẫn đến sự diệt khổ. Sự đau khổ giống như một căn bệnh; những điều kiện bên ngoài và bên trong tạo nên căn bệnh chính là nguồn gốc của đau khổ. Sự lành bệnh là sự chấm dứt nỗi đau khổ và những nguyên nhân gây khổ. Những phương thuốc trị bệnh là những con đường chân chính.

Lý do mà các quả, đau khổ và sự diệt khổ, theo thứ tự đi trước các nhân, nguồn gốc của khổ và con đường diệt khổ, là vì: Trước nhất, ta phải tìm ra căn bệnh, tức là khổ đế hay diệu đế thứ nhất. Nhưng nếu chỉ nhận diện ra căn bệnh thôi thì chưa đủ; muốn biết cần dùng thuốc gì thì phải biết nguyên nhân của căn bệnh. Vì vậy, chân đế thứ nhì của tứ diệu đế là nguyên nhân hay nguồn gốc của đau khổ.

Chỉ tìm ra nguyên nhân của căn bệnh thôi cũng chưa đủ, ta cần phải xác định xem có thể trị được bệnh hay không. Nhận thức rằng căn bệnh có thể chạy chữa được cũng tương tự như chân đế thứ ba, sự chấm dứt đau khổ và nguyên nhân của đau khổ.

Giờ đây, sự đau khổ mà không ai mong muốn đã được xác nhận; những nguyên nhântạo khổ cũng đã được nhận diện; đúng vào thời điểm mà ta hiểu rằng căn bệnh có thể chữa trị được thì ta sẽ dùng những thứ thuốc chuyên trị bệnh này. Tương tự như vậy, nương tựa vào những con đường dẫn đến sự giải thoát đau khổ là một điều thiết yếu.

Trước tiên, điều quan trọng nhất là nhận diện được sự đau khổ. Khổ, nói chung, gồm có ba loại - khổ vì đau đớn (khổ khổ); khổ vì thay đổi (hoại khổ); và khổ thâm nhập khắp cùng do ngũ uẩn (hành khổ).

Khổ vì sự đau đớn là những cái khổ mà chúng ta chịu đựng về thể xác hay tinh thần, thí dụ như bị nhức đầu. Không những con người mà thú vật cũng mong ước được thoát khỏicái khổ này. Có những phương cách để tránh khỏi một vài loại khổ này, thí dụ như uống thuốc, mặc đồ ấm vào và tránh xa nguyên nhân tạo ra đau đớn.

Loại thứ nhì, khổ vì thay đổi, là điều mà bề ngoài ta cho là lạc thú, nhưng nếu nhìn cho rõ, thì chỉ là sự đau khổ mà thôi. Lấy thí dụ như mua một chiếc xe mới là điều mà ta thường cho là thích thú. Khi mới có xe, ta rất vui vẻ, vừa ý và thỏa mãn, nhưng khi dùng nó thì vấn đề bắt đầu xảy ra. Nếu chiếc xe tự nó là một niềm vui sướng, thì khi càng sử dụng nguồn thỏa mãn này, lạc thú của ta phải tăng lên theo, nhưng điều này không diễn tiến như vậy. Khi được sử dụng nhiều, xe lại bắt đầu tạo ra sự rắc rối. Vì vậy, ta gọi đây là đau khổ vì thay đổi; sự thay đổi đã phát lộ bản chất khổ của sự vật.

Loại khổ thứ ba là nền tảng cho hai dạng đau khổ trước và biểu hiện của nó chính là tâm và thân ô nhiễm của chúng ta. Nó được gọi là khổ thâm nhập khắp cùng vì nó thâm nhập hay ảnh hưởng đến tất cả các loại chúng sinh trong luân hồi và do ngũ uẩn gây nên, vì vậy nó là nền tảng của đau khổ trong hiện tại và gây ra đau khổ trong tương lai. Không có cách nào tránh được loại khổ này, ngoại trừ bằng cách chấm dứt sự tái sinh liên tục.

Đây là ba loại khổ nên được nhận diện từ ban đầu. Như thế, không phải chỉ những cảm thọ được xem là khổ mà ngay cả những hiện tượng bên ngoài và bên trong, dựa trên đó mà những cảm thọ này phát sinh, cũng được xem là khổ; những dạng tâm thức và những trạng thái tâm thức đi kèm với cảm thọ cũng được xác định là khổ.




Nguồn gốc của những đau khổ này là gì? Dựa vào đâu mà khổ phát sinh? Nguồn gốc thứ nhất là nghiệp và nguồn gốc thứ nhì là phiền não; đây là chân đế thứ nhì trong tứ diệu đế; nguồn gốc thật sự của khổ. Nghiệp, hay hành động, đề cập đến những hành động ô nhiễm của thân, ngữ và ý. Từ quan điểm của bản chất hay thực thể, các hành động gồm có ba loại: đạo đức, vô đạo đức và trung hoà. Những hành động đạo đức là những nghiệp mang đến những quả vừa ý và tốt đẹp. Những hành động vô đạo đức là những nghiệp mang đến những quả đau khổ và tiêu cực.

Ba phiền não chính là si mê, tham ái và sân hận. Chúng gây ra nhiều loại phiền não khác như ghen ghét và ác cảm. Để chấm dứt những nghiệp hay hành động là nguyên nhâncủa khổ, điều cần thiết là phải chấm dứt những phiền não, tức là những nguyên nhân của nghiệp này. Vì vậy, giữa nghiệp và những phiền não, nguồn gốc chính của khổ chính là phiền não.

Khi ta tự hỏi những phiền não có thể loại bỏ được hay không, ta đã quan tâm đến diệu đếthứ ba, tức diệt đế. Nếu những phiền não có sẵn trong bản tính của tâm thì ta sẽ không thể nào loại bỏ chúng. Thí dụ, nếu sân hận thuộc về bản tính của tâm, thì bất cứ lúc nào tỉnh thức ta cũng sân hận, nhưng điều này hiển nhiên là không đúng. Đối với sự tham áita cũng lý luận tương tự. Do đó, bản tính của tâm và ý thức được xem là không bị ô nhiễm bởi những ô trược. Các ô trược có thể dễ bị loại bỏ và tách biệt khỏi tâm cơ bản.

Điều hiển nhiên là những tâm thái tốt mâu thuẫn với những tâm thái xấu. Thí dụ, tình thương và sự giận dữ không thể nào nảy sinh cùng lúc trong cùng một người. Khi ta đang giận một đối tượng, ta không thể thương yêu đối tượng này trong cùng lúc; tương tự như thế, khi ta đang cảm thấy thương yêu, ta không thể giận dữ trong cùng một lúc. Điều này cho thấy rằng hai loại tâm thức này khai trừ và mâu thuẫn với nhau. Do đó, khi ta tập quen với một tâm thái, tự nhiên tâm thái trái ngược sẽ dần dần yếu đi. Đây là lý do vì sao qua việc thực hành và phát triển lòng từ và bi - mặt tốt của tư tưởng- mặt xấu sẽ tự động giảm bớt.

Bằng cách này, ta có thể khẳng định rằng những nguồn gốc của khổ có thể được loại bỏdần dần. Với sự hoàn toàn hủy diệt của những nguyên nhân tạo khổ, ta có diệt đế. Đây là sự giải thoát cuối cùng – đích thực, an lạc vĩnh cữu và cứu độ. Đây là chân đế thứ ba của tứ diệu đế.

Ta nên tu tập theo con đường nào để đạt được diệt đế này? Vì những lỗi lầm bắt nguồn từ tâm, sự đối kháng phải được phát sinh trong tâm thức. Quả thật, ta cần hiểu biết sự hiện hữu tối hậu của vạn pháp, nhưng điều quan trọng nhất là biết được chân tướng tối hậu của tâm.

Trước tiên, ta cần phải nhận thức một cách mới mẽ, trực tiếp, hoàn toàn bất nhị nguyên về bản tính tối hậu của tâm một cách chính xác; đây là con đường thấy (kiến đạo). Giai đoạn kế tiếp là trở nên quen thuộc với nhận thức này; đây là con đường thiền định (tu tập). Trước hai giai đoạn này, điều thiết yếu là đạt được an định trong thiền định gồm hai phần, tức là sự hợp nhất của định và huệ. Trước điều này, nói chung, để có được một tâm thức đầy trí huệ vững mạnh, điều thiết yếu trước tiên là phát triển sự an định của tâm, gọi là định (tĩnh trụ).

Đấy là những giai đoạn của con đường, diệu đế thứ tư, cần thiết để thành tựu chân đếthứ ba, tức sự chấm dứt hai chân đế đầu, khổ và nguồn gốc của khổ. Tứ diệu đế là cấu trúc cơ bản trong tư tưởng và thực hành của Phật pháp.

Câu hỏi: Qua cái nhìn phiến diện, dường như có sự khác biệt giữa nguyên lý diệt dục trong Phật giáo và sự quan trọng ở Tây phương là đời sống phải có mục đích, ngụ ý rằng sự ham muốn là điều tốt.

Trả lời: Có hai loại ham muốn: Một loại thì phi lý và hòa lẫn với những phiền não. Loại thứ hai là loại mà ta thấy những gì tốt là tốt và cố đạt được nó. Loại ham muốn thứ nhì là đúng đắn và nhờ đó, một hành giả dấn thân vào sự tu tập. Tương tự như vậy, sự mưu cầu về tiến bộ vật chất, dựa trên nhận thức rằng nó có thể phụng sự nhân loại và vì vậyđó là một điều tốt, cũng là nhận thức đúng đắn.

Ghi chú : Trên đây là bài dịch từ trang 21-25 trong quyển ’Kindness, Clarity, and Insight’ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso, với sự đồng ý của Snow Lion Publications, www.snowlionpub.com. Jeffrey Hopkins dịch từ Tạng ngữ sang Anh ngữ và cùng hiệu đính với Elizabeth Napper. Nhà xuất bản Motilal Banarsidass Publishers Private Limited ấn hành tại Delhi năm 1997, và Snow Lion Publications ấn hành tại New York năm 1996, ấn bản thứ 12.

Xin hồi hướng mọi công đức đến sự toàn giác của tất cả chúng sinh. Mọi sai sót là lỗi của người dịch. Quan Âm Thiền Phật Học Viện, Ani Lozang Chophel, Lozang Ngodrub, Như-Ý Liên-Hoa dịch và hiệu đính tại Brisbane, Queensland. Tài liệu phân phát nhân dịpGeshe Lobsang Jamyang thuyết giảng về đề tài trên tại Chùa Linh Sơn, 89 Rowe Terrace, Darra Queensland, vào ngày 7 tháng 7 năm 2007.



Bài đọc thêm:

● Bài giảng về Tứ Diệu Đế của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Long Beach Convention Center

● Tứ Diệu Đế Nền Tảng Những Lời Phật Dạy- Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV

● Tứ Diệu Đế (Geshe Tashi Tsering - Việt Dịch: Lozang Ngodrub)

Ý Trinh : Tứ Diệu Đế Trích trong sách Phật Giáo Cơ Bản



Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
PHẬT HỌC CƠ BẢN
Chương trình Phật học Hàm thụ (1998-2002)
Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh

TẬP MỘT






Phần II - Bài 1
Bốn Chân Lý (Tứ Diệu Đế)
Thích Viên Giác



A- Dẫn nhập


Một hôm, Đức Phật đang ở tại Kosambi trong rừng cây simsàpa, Ngài nhặt một ít lá simsàpa đưa lên hỏi: «Này các Tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào? Lá simsàpa ở trong tay ta nhiều hay là ở trong rừng simsàpa nhiều?«.

«Bạch Đức Thế Tôn, lá trong tay Thế Tôn quá ít, còn lá trong rừng simsàpa thì quá nhiều«. Phật dạy: «Cũng vậy, này các Tỳ kheo, điều ta biết thì quá nhiều, nhưng những gì ta dạy cho các ông thì rất ít; nhưng đó là những gì cần thiết và căn bản cho sự giải thoát. Những gì ta đã dạy cho các ông? Chính là «Đây là Khổ«, «Đây là Khổ tập«, «Đây là Khổ diệt«, «Đây là con đường đưa đến Khổ diệt« (Tương Ưng V).

Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: «Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế« (Tương Ưng V).

Mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, vì vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nỗ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Giáo lý Tứ điệu đế được coi là thiện pháp tối thắng. Ngài Xá Lợi Phất nhận định: «Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ thánh đế« (Trung Bộ kinh I). Đức Phật cũng dạy: «Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ thánh đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra« (Tương Ưng V).

Cho đến lúc sắp nhập Niết bàn dưới cây sa la song thọ, một lần cuối, Ngài nhắc lại giáo lý Tứ đế: «Các thầy Tỳ kheo, đối với Bốn chân lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp« (kinh Di Giáo, Trí Quang dịch).

Như vậy, tầm quan trọng của giáo lý Tứ diệu đế đã được xác định bởi chính Đức Phật và những đệ tử xuất sắc của Ngài. Trải qua hơn 2.500 năm, giáo lý Tứ diệu đế vẫn được tất cả các bộ phái Phật giáo, Nguyên thủy hay Đại thừa, đều xiển dương và hành trì.


B- Nội dung
I- Định nghĩa
Tứ diệu đế là Hán dịch từ chữ Phạn Catvary Aryasatyani. Arya là Diệu, cao quý, mầu nhiệm; Satya là Đế, là sự thật, là chân lý. Tứ diệu đế còn được gọi là Tứ chân đế, Tứ thánh đế, Bốn chân lý mầu nhiệm.

1- Khổ đế (Dukkha): là thực trạng đau khổ của con người.

2- Tập đế (Samudaya): là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ.

3- Diệt đế (Nirodha): là sự kết thúc hay sự chấm dứt khổ đau.

4- Đạo đế (Magga): là con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau.

Giáo lý Tứ diệu đế được nói đến trong các kinh: Đế phân biệt tâm kinh (Trung Bộ III), kinh Phân biệt thánh đế (Trung A Hàm), kinh Chuyển pháp luân (Tương Ưng & Tạp A Hàm), và rải rác trong kinh tạng Pàli cũng như Hán tạng.

II- Nội dung Tứ diệu đế

1)- Khổ đế (Dukkha): Khổ đau là một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều ấy. Con người luôn có xu hướng vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không hiểu rõ bản chất của khổ đau nên không tìm được lối thoát thực sự; đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúccàng vướng vào khổ đau.
Khổ đế là một chân lý, một sự thực về bản chất cái khổ. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ« (Tương Ưng V). Như vậy, Khổ có thể chia làm 3 phương diện như sau:

a)- Về phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn. Khi ta bị một gai nhọn đâm buốt bàn chân hay một hạt cát vào trong mắt khó chịu..., đây là sự bức bách đau đớn của thể xác. Sự đau đớn của thể xác rất lớn, như Lão Tử nói: «Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân« (Có thân nên có khổ). Con người sinh ra đã vất vả khốn đốn; lớn lên già yếu, bệnh tật khốn khổ vô cùng; và cuối cùng, cái chết: sự tan rã cuối cùng của thể xác đem đến khổ thọ lớn lao.

b)- Về phương diện tâm lý: Là sự khổ đau do không toại ý, không vừa lòng v.v... Sự không vừa ý sẽ tạo nên nỗi đau đớn về tâm lý. Những mất mát, thua thiệt trong cuộc đời làm mình khổ. Người mình thương muốn gần mà không được, người mình ghét mà cứ gặp gỡ hoài, mình muốn tiền tài, danh vọng, địa vị nhưng nó cứ vụt qua ngoài tầm tay của mình. Cuộc đời như muốn trêu ngươi, những ước mơ không toại ý, lòng mình luôn trống trải, bức bách v.v... Đây là nỗi khổ thuộc về tâm lý.

c)- Khổ là sự chấp thủ năm uẩn (Upadana-skandhas): Cái khổ thứ ba này bao hàm hai cái khổ trên, như trong kinh đã dạy: «Chấp thủ năm uẩn là khổ«.

Năm uẩn là 5 yếu tố nương tựa vào nhau để tạo thành con người, gồm có: thân thể vật lý và cấu trúc tâm lý như: cảm giác, niệm tưởng, hành và thức (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Nói một cách tổng quát, khi ta bám víuvào 5 yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự ngã của ta, thì sự khổ đau có mặt. Ý niệm về «thân thể tôi«, «tình cảm tôi«, «tư tưởng tôi«, «tâm tư tôi«, «nhận thức của tôi«... hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ; từ đó, mọi khổ đau phát sinh. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, điên cuồngđều gắn liền với ý niệm về «cái tôi« ấy.
Tóm lại, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, ngã hóa năm uẩn.

2)- Tập đế (Samudaya): Tập là tích tập, các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau; đây là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ. Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau (Đạo đế).

Cuộc đời là khổ đau hay không khổ? Câu trả lời là tùy thuộc vào thái độ tâm lý, cảm thọvà nhận thức của mỗi người; nguyên nhân của khổ có nguồn gốc sâu xa trong tâm tưởngcủa con người. Phật giáo cũng nhìn thấy các nguyên nhân của đau khổ; có cái phát sinh từ vật chất hay hoàn cảnh xã hội, nhưng nguyên nhân thật sự vẫn là tâm thức.

Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái. Sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ thỏa mãn.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy rõ mới lầm tưởng rằng «cái tôi« là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãnnhu cầu của nó. Nói cách khác, do vô minh mà có chấp thủ «cái tôi« và «cái của tôi« như thân tôi, tình cảm tôi, tư tưởng tôi..., người yêu của tôi, tài sản của tôi, sự nghiệp của tôi... Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời.

Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình; lòng mình đầy tham lam, chấp thủ, nhận thức sai lầm thì khổ là chắc chắn. Nói cách khác, do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.

3)- Diệt đế (Nirodha): Diệt là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắtphiền não, nguyên nhân đưa đến đau khổ và sự chấm dứt khổ đau; cũng có nghĩa là hạnh phúc, an lạc. Diệt đế đồng nghĩa với Niết bàn (Nirvana/Nibbàna).
Đạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc. Vì vậy mà có sự tu tập để đạt được hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc có các mức độ khác nhau.

a)- Hạnh phúc tương đối: Một khi bạn đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợ hãi, bất an giảm hẳn, thân tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo; bạn nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản và rộng lượng hơn. Đó là một hình thức của hạnh phúc. Kinh Trung Bộ có một ví dụ: Có một người con trai đang yêu một cô gái. Tình cờ, anh ta bắt gặp cô gái nói chuyện, cười đùa với một chàng trai khác. Tâm hồn của người con trai đang yêu ấy bị xáo trộn mạnh mẽ, khó chịu, bực bội và đau khổ. Thời gian sau, người con trai ấy không còn yêu thương cô gái ấy nữa; lần này, anh ta gặp cô ái ấy đang nói chuyện, cười đùa với những chàng trai khác, nhưng hình ảnh ấy không làm tâm hồn anh ta đau đớnnữa. Cũng vậy, nhờ tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị đun nóng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng, sợ hãi, mà tâm ý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc và chính xác hơn, bạn tạo nên một phép lạ: thân tâmđược chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn đối với mọi người độ lượng, bao dung và khiêm tốn; đối với của cải, tài sản, danh vọng trở nên thanh thản hơn, không còn bị áp lực của nó đè nặng lên trái tim mình. Trên cơ sở ấy, bạn hưởng thụ đời sống có phẩm chất hơn.

Tóm lại, tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, sân và vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ được tăng phần hạnh phúc lên mức độ ấy.


Nếu bạn phát triển hạnh phúc tinh thần cao hơn bằng cách tu tập thiềnđịnh thì bạn sẽ có sự an lạc tuyệt vời. Đức Phật dạy: «Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có thể đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong một phút«. 

Những tâm lý được coi là bệnh của tinh thần gồm có 5 trạng thái tâm lý, thường gọi là 5 triền cái: tham lam, sân hận, hôn trầm ngủ nghỉ, dao động và hối hận, hoài nghi và do dự. Khi 5 loại tâm lý này có mặt, nó sẽ trói buộc và ngăn che tâm trí bạn; loại trừ chúng thì tinh thần sẽ sáng tỏ thanh tịnh và an lạc như mặt trăng thoát khỏi mây che. Các trạng thái hạnh phúc tinh thần này được gọi là Tứ thiền.

b)- Hạnh phúc tuyệt đối: Trên nền tảng hạnh phúc tinh thần, bạn phát triển tuệ quán, hướng tâm đến đoạn trừ toàn bộ phiền não vi tế, thâm sâu, bạn có thể đạt hạnh phúc tuyệt đối, tối thượng là Niết bàn. Diệt đếchính là Niết bàn. Niết bàn là sự thanh tịnh, là hạnh phúc tuyệt đối. Đức Phật dạy: «Vô bệnh lợi tối thắng, Niết bàn lạc tối thắng« (K.Magandiya, TBK II).
Niết bàn còn được diễn tả dưới nhiều danh từ khác nhau, tiêu biểu như: vô sanh, giải thoát, vô vi, vô lậu, đáo bỉ ngạn, tịch tịnh, chân như, thực tướng, pháp thân... Niết bànkhông phải là đối tượng của tư duy, khái niệm hay ngôn ngữ. Đây là trạng thái an lạc, hạnh phúc tuyệt đối khi tâm ý đã vắng mặt tham, sân, si.
Chúng ta thường quan niệm Niết bàn như một cảnh giới, một cõi nào đó cao cấp hơn cõi người, như là cõi thiên đường của các tôn giáo khác; đó là một sai lầm lớn. Niết bàn vượt thoát mọi khái niệm đối đãi về thời gian, không gian, có, không, lớn, nhỏ... Dù vậy, Niết bàn không phải là hư vô, mà là một thực tại thanh tịnh, siêu việt, không nằm trong phạm vi phân biệt của ý thức, hay nói cách khác, không thể nhận thức được Niết bàn khi đang còn tham, sân, si. Một vị Thiền sư nói: «Hãy nhìn những rặng núi, những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nhìn mọi vật với một nhãn quan mới, một nhãn quan không bị chi phối bởi tham sân si, thì cảnh đẹp kia chính là Niết bànđó ! Niết bàn không phải là một nơi chốn nào khác biệt với thế gian, một cảnh giới nào mà người ta có thể tìm đến. Niết bàn chính là ở đây«. Đức Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán đã đạt Niết bàn ngay trong đời sống này. Điều đó nghĩa là Niết bàn nằm ngay trong tầm tay của mỗi người. Biểu hiện của Niết bàn là không còn tạo nghiệp và không còn tái sinh.

4)- Đạo đế (Magga): Đạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, hạnh phúc trong đời sống hàng ngày hay hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn. Như vậy, toàn bộgiáo lý mà Đức Phật đã dạy đều là Đạo đế, tổng quát và căn bản gồm có 37 pháp, thường gọi là 37 phẩm trợ đạo. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, đây là những pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng rãi để chánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Đó là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn thần túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Tám thánh đạo phần« (kinh Đại Bát Niết Bàn).
Trong 37 pháp thì Tám thánh đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Đạo đế. Tám thánh đạo, còn gọi là Tám chánh đạo - con đường chân chính - có 8 chi phần:

1)- Chánh kiến (Sammà Ditthi): Thấy và hiểu đúng đắn, nghĩa là nhận thức đúng về đạo đức của cuộc sống, cái nào là thiện, cái nào là ác. Nhận biết đúng về bản chất của sự vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Nhận thức rõ bản chất của khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến hết khổ.

2)- Chánh tư duy (Sammà Sankappa): Suy nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng để đầu óc của mình nghĩ ngợi những vấn đề bất thiện như tham dục, tức tối giận hờn, bạo động hãm hại... dẫn tư duy của mình hướng về tâm cao thượng như tư duy về sự buông thả, sự giải thoát, về thương yêu giúp đỡ chúng sinh, về sự bất bạo động, nhẫn nhục, trầm tĩnh.

3)- Chánh ngữ (Sammà Vàcà): Ngôn ngữ đúng đắn, nghĩa là không nói những lời đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù. Nói những lời lẽ đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết hòa hợp, thương yêu và lợi ích.

4)- Chánh nghiệp (Sammà Kammanta): Hành vi đúng đắn, nghĩa là không có hành vi giết hại, trộm cướp, hành dâm phi pháp. Thực hành sự thương yêu, cứu giúp, không ham muốn thú vui bất thiện.

5)- Chánh mạng (Sammà Ajivà): Đời sống đúng đắn, nghĩa là phương tiệnmưu sinh, nghề nghiệp chân chính, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo.

6)- Chánh tinh tấn (Sammà Vàyàma): Nỗ lực đúng đắn, nghĩa là nỗ lựcđoạn trừ điều ác, nỗ lực thực hành điều thiện.

7)- Chánh niệm (Sammà Sati): Nhớ nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng nhớ nghĩ các pháp bất thiện, đừng để cho các đối tượng bất chính dẫn dắt mình đi lang thang. An trú tâm ý vào thiện pháp, không quên thiện pháp.

8)- Chánh định (Sammà Samàthi): Tập trung tư tưởng đúng đắn, nghĩa là đừng để tâm thức bị rối loạn, tập trung tư tưởng làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả phát triển tuệ giác.

Mối quan hệ giữa các chi phần Bát chánh đạo là không thể phân ly, chi phần này có trong chi phần kia, cái kia hỗ trợ cho cái này. 

Tám chánh đạo có thể chia làm 3 bước là Giới, Định và Tuệ. Giới là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng; Định là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; Tuệ là Chánh kiến, Chánh tư duy. Xác định Bát chánh đạolà con đường đưa đến giải thoát, Đức Phật dạy: «Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát thánh đạo thì ở đấy không có Tứ quả Sa môn« (kinh Đại Bát Niết bàn, TB I). Đức Phật dạy thêm: «Nếu những Tỳ kheo sống chân chính (theo Bát chánh đạo) thì cõi đời này không thiếu vắng những vị A La Hán«.

Con đường tu tập của Đạo đế là con đường nỗ lực tự thân của mỗi hành giả Phật tử; con đường ấy vừa thực tiễn vừa có hiệu quả ngay tại đời sống này.

III- Tu tập Bốn chân lý
Giáo lý đạo Phật không phải là một học thuyết, mà là một công trình tu tập, có thực hànhmới biến lý thuyết thành thực tiễn, thành chất liệu sống trong mỗi con người, như ăn cơm mới no, uống nước mới hết khát. Đó là chỗ khó khăn của người Phật tử, không thể nhờ cậy vào ai tu giúp cho mình, hoặc ai ban cho mình được giải thoát, hết khổ.

Trong kinh đưa ra 3 giai đoạn nhận thức và hành trì đối với Bốn chân lý, thuật ngữ gọi là Tam chuyển: Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển.
1)- Đối với Khổ đế:Thị chuyển là nhận thức, hay nhận diện cái khổ. Thấy được khổ là bước đầu tiên; nếu không thấy, không biết thì sẽ không có hành động diệt khổ. Khuyến chuyển là đi sâu hơn vào bản chất cái khổ, khởi lên ước muốn đoạn trừ khổ. Chứng chuyển cảm nhận một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất của khổ đau.

2)- Đối với Tập đế: Thị chuyển là nhận diện nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đoạn trừ các nguyên nhân ấy. Chứng chuyển là tu tập, nỗ lực để đoạn trừ chúng.
3)- Đối với Diệt đế: Thị chuyển là nhận thức được sự vắng mặt của đau khổ là hạnh phúc, là không có đau khổ, ta phải thấy điều ấy. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn được hạnh phúc, hưởng được niềm vui, thanh thản an lạc của đời sống. Chứng chuyển là đạt được, hưởng thụ thật sự trạng thái an lạc ấy.
4)- Đối với Đạo đế: Thị chuyển là nhìn thấy con đường, thấy được phương pháp diệt khổ, thấy rõ rằng đây là con đường đưa đến giải thoát; nói cách khác, thấy được lối thoát ! Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đi trên con đường ấy, khởi hành trên lộ trình ấy. Chứng chuyển là đi trên con đường ấy một cách trọn vẹn.
Tóm lại, đối với mỗi chân lý, chúng ta đều phải nhận thức rõ ràng. Từ nhận thức thông suốt sẽ dẫn đến ước muốn hành động, và cuối cùng đạt được mục đích. Chúng ta phải thấy rõ diễn biến của hành vi, ngôn ngữ và tư duy của chính mình, cái nào có đau khổ, gây ra đau khổ, ta phải nhận diện và diệt trừ chúng; ta chuyển hóa nó để hưởng được niềm an bình hạnh phúc của Diệt đế. Hạnh phúc hay đau khổ đều xuất phát từ nơi thân tâm của chúng ta.


C- Kết luận

Con người đau khổ không phải vì thiếu thốn vật chất, tiền của, danh vọng, mà chính là vì vô minh. Sự mê muội làm cho con người chưa nhận thức đúng đắn bản chất của cuộc đời. Đạo Phật chỉ dẫn cho con người một hướng đi, một lối thoát, cung cấp phương tiệnđể cho con người khai mở kho tàng trí tuệ của chính mình. 

Định nghĩa về vô minh, Đức Phật dạy: «Chính là không biết rõ khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đườngđưa đến diệt khổ, này các Tỳ kheo, đấy gọi là vô minh« (Tương Ưng V). Và ngược lại là minh, là trí tuệ. Dưới cái nhìn của trí tuệ, mối quan hệ duyên sinh của Bốn chân lý hiển lộrõ ràng, thấy được một chân lý là thấy được toàn bộ chân lý. 

Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy nguyên nhân của khổ, thấy khổ diệt, thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được nguyên nhân của khổ, cũng thấy được khổ, thấy được khổ diệt và con đường đưa đến diệt khổ. Ai thấy được khổ diệt, cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ, con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được con dường đưa đến khổ diệt, thì cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ và sự diệt khổ« (Tương ƯngV). Nhận thức đúng như thế là Chánh kiến, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tu tập Bốn chân lý; nói cách khác, Chánh kiến đi hàng đầu trong mọi pháp môn. Nhận thức sáng tỏ ấy còn gọi là Kiến đạo.

Giáo lý Bốn chân lý vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh. Một giáo lý hoàn chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con người, xã hội đương thời và vẫn thiết thựclợi ích cho con người và xã hội hiện đại.

Đặc tính của giáo lý Tứ diệu đế là con đường Trung đạo, không rơi vào cực đoan hưởng thụ dục lạc hay khổ hạnh ép xác. Giáo lý Tứ diệu đế bao hàm tất cả các giáo pháp mà Đức Phật đã dạy. Giáo lý Tứ diệu đế có thể thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có thể nếm hương vị giải thoát, đáp ứng được nhu cầu thoát khổ cho cá nhân và chuyển hóa xã hội./.Câu hỏi hướng dẫn ôn tập

1)- Tứ diệu đế là gì?
2)- Hãy trình bày mối quan hệ giữa giáo lý Tứ diệu đế và Bát chánh đạo.
3)- Tại sao Khổ (Dukkha) được xem là một chân lý (thánh đế)?

Source: Nguyệt san Giác Ngộ, Sài Gòn, 1999-2000

Ý Trinh chép Lời Phật Dạy Tứ Đế



Tứ diệu đế

Tứ diệu đế (zh. 四妙諦, sa. catvāry āryasatyāni, pi. cattāri ariya-saccāni, bo. bden pa bzhi བདེན་པ་བཞི་), cũng gọi là Tứ thánh đế (zh. 四聖諦), là bốn chân lý cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên, kinh Kinh Chuyển Pháp Luân.

Thực chất Tứ Diệu Đế là một phương pháp đủ cả hai "lý thuyết và thực hành", đưa hành giả tới giác ngộ giải thoát. Tứ Diệu Đế đòi hỏi có sự tu tập thực hành trong cuộc sống hàng ngày, nếu chỉ lý thuyết chỉ là giả thuyết.

Hiện nay giáo lý Tứ Diệu Đế là cốt lõi quan trọng nhất đã được tất cả các Tông phái công nhận như là điểm chung đồng và thuần túy nhất của đạo Phật. Thông suốt được những điểm giáo lý này có thể được xem như đã thâm nhập toàn bộ con đường giác ngộ giải thoát của Ðức Phật.



Tứ diệu đế

Tứ diệu đế được biết đến nhiều nhất từ bài thuyết pháp trong kinh Dhammacakkappavattana Sutta, trong đó có hai nội dung của Tứ diệu đế, trong khi các bộ khác có thể tìm thấy trong kinh Pali.

Dhammacakkappavattana Sutta

Theo truyền thống Phật giáo, Tứ diệu đế (bốn chân lý cao quý) là bài thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển của Đức Phật sau khi giác ngộ, được ghi trong kinh Dhammacakkappavattana Sutta ("Đàm luận về Chuyển pháp luân"). Trong bài thuyết giảng này, có bốn câu then chốt trình bày bốn chân lý cao quý, đó là:

Này các tỳ kheo, đây chính là Khổ thánh đế: sinh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ; thân ái biệt li là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm uẩn chấp thủ là khổ.

Này các tỳ kheo, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỉ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.

Này các tỳ kheo, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả li, giải thoát, tự tại đối với các ái.

Này các tỳ kheo, đây chính là Đạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt Khổ, chính là con đường thánh tám ngành: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.

Các đế

Kinh Pali có hình thức rút ngắn khác nhau của Tứ diệu đế với mục đích giúp người đọc dễ ghi nhớ. Những bản sớm nhất của câu kinh là "dukkham samudayo nirodho magga," có kèm theo các hậu tố sacca hoặc arya được thêm vào sau này. Câu kinh này tuy có chứa các lỗi ngữ pháp, nhưng vẫn được coi là chính xác theo truyền thống Pali, "không bao giờ sửa chữa kinh tạng". Theo K.R. Norman, những chân đế cơ bản bao gồm:

Khổ đế 
(idam dukkham, zh. 苦諦, sa. duḥkhāryasatya, bo. sdug bsngal bden pa སྡུག་བསྔལ་བདེན་པ་), chân lý về sự Khổ: Chân lý thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, gặp gỡ với người hoặc sự vật mình không thích đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn (zh. 五蘊, sa. pañcaskandha, pi. pañcakhandha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ. Xem tiếp "Bát khổ".


Khổ (Phật giáo)
Khổ (zh. 苦, sa. duḥkha, pi. dukkha) là một khái niệm quan trọng của Phật giáo, là cơ sở của Tứ diệu đế. Khổ là một trong ba tính chất của sự vật và được đúc kết trong câu nhận định Đời là bể khổ.

Không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu mới là Khổ; Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức, xuất phát từ Ngũ uẩn, chịu dưới quy luật của sự thay đổi và biến hoại. Như thế tất cả những điều an lạc đang có cũng là khổ vì chúng sẽ hoại diệt. Khổ xuất phát từ Ái (sa. tṛṣṇā) và con đường thoát khổ là Bát chính đạo..

Chân lý thứ nhất - Khổ đế - của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau: Sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; lo lắng, than thở, buồn rầu, tuyệt vọng là khổ; không đạt gì mình ưa thích là khổ; nói tóm lại: mọi thứ dính líu đến Ngũ uẩn là khổ." (sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tằng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ uẩn xí thạnh khổ.)


Phân loại :
Xét theo nguyên nhân và mức độ gây khổ thì có tam khổ (ba loại khổ), còn nếu xét theo hình thức sự việc thì có bát khổ (tám loại khổ).
Tam khổ
Tam khổ là ba nỗi khổ xét theo nguyên nhân và mức độ gây khổ, gồm:
Khổ khổ (sa. duḥkha-duḥkha)Nghĩa là khổ vì những sự khổ của thế tục, chẳng hạn khổ vì đói khát, khổ vì phải trải nạn chiến tranh. Đây là mức độ khổ thấp nhất mà ai cũng cảm nhận được.
Hoại khổ (sa. vipariṇāma-duḥkha)Nghĩa là khổ vì sự thay đổi. Ở cấp độ này, ngay cả những kinh nghiệm tưởng có vẻ khoái lạc thì cũng là khổ. Sở dĩ con người cảm thấy các kinh nghiệm đó là vui sướng là bởi họ đã so sánh chúng với những kinh nghiệm đau đớn. Sự vui sướng đó chỉ là tương đối. Trong khi đó, sự vật luôn thay đổi, vì vậy sau một thời gian thì những kinh nghiệm tưởng chừng là vui sướng đó chỉ còn là sự nhàm chán, không thỏa mãn, sự vui sướng rồi cũng mất đi.
Hành khổ (sa. saṃskāra-duḥkha)Nghĩa là khổ vì duyên sinh, tức trạng thái khổ ở kiếp này không chỉ là nền tảng cho cái khổ trong kiếp này mà còn là nền tảng cho đau khổ trong kiếp sau. Cái khổ này nối tiếp nhau kéo từ đời này sang đời khác một khi con người vẫn nằm trong vòng vô minh. Sự nhận biết về khổ ở mức độ này là sâu sắc nhất.

Bát khổ :Bát khổ là tám nỗi khổ xét theo hình thức sự việc, thực ra đều thuộc loại Khổ khổ trong Tam khổ. Nhân sinh quan Phật giáo cho rằng "đời là bể khổ"; con người ai ai cũng phải chịu bát khổ, gồm:

Sinh khổ 
Con người khổ trong sự sinh sống. Người ta khổ từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ. Con phải nằm trong bụng mẹ chật hẹp, cũng là khổ. Mẹ phải mang nặng đẻ đau biết bao khó nhọc, đó là khổ. Sinh con ra rồi thì cha mẹ cũng phải khổ. Con người sống trên đời phải mưu kế sinh nhai, cũng là khổ.

Lão khổ
Khi đến tuổi già thì thân thể trở nên già nua, mắt mờ, tai điếc. Đó là khổ.
Bệnh khổ
Con người phải chịu đau đớn, khổ sở cả về thể xác và tinh thần khi mắc bệnh. Đó là khổ.

Tử khổ
Khi sắp chết thì sợ hãi tinh thần, ngạt hơi rất khổ. Chết đi rồi thì thân xác phân hủy, hôi tanh. Gia quyến đau lòng. Đó là khổ.

Ái biệt ly khổ
Con người phải chịu khổ khi yêu mà lại phải chia lìa điều mình yêu, hàng ngày đem lòng mong nhớ. Đó là khổ. Có hai loại ái biệt ly khổ: sinh ly (chia lìa nhau khi còn sống) và tử biệt (chia lìa nhau khi chết).

Sở cầu bất đắc khổ (hay cầu bắt đắc khổ)Con người khổ khi không được toại (bất đắc) nguyện vọng, tham muốn, khao khát của bản thân (sở cầu). Chẳng hạn, lúc đói thì muốn có cái ăn cái mặc; lúc no lại muốn giàu sang phú quý.

Oán tăng hội khổ
Con người chịu khổ khi phải tiếp xúc với những thứ mà không thích hoặc oán ghét.

Ngũ uẩn khổ (hay ngũ uẩn xí thạnh khổ)
Con người khổ vì có sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn - sắc, thụ, tưởng, hành và thức - trong cơ thể. Chẳng hạn, mơ ước (tưởng) quá thì cũng khổ, biết (thức) nhiều thì cũng khổ.

Tập đế (ayam dukkha-samudayo, zh. 集苦 諦, sa. samudayāryasatya, bo. kun `byung bden pa ཀུན་འབྱུང་བདེན་པ་), chân lý về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự tham ái (愛, sa. tṛṣṇā, pi. taṇhā), tìm sự thỏa mãn dục vọng, thỏa mãn được trở thành, thỏa mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi (zh. 輪迴; sa., pi. saṃsāra). Xem tiếp "Dục lạc".

Diệt đế (ayam dukkha-nirodha, zh. 滅苦諦, sa. duḥkhanirodhāryasatya, bo. `gog pa`i bden pa འགོག་པའི་བདེན་པ་), chân lý về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.

Đạo đế (ayam dukkha-nirodha-gamini patipada, zh. 道諦, sa. duḥkhanirodhagāminī pratipad, mārgāryasatya, bo. lam gyi bden pa ལམ་གྱི་བདེན་པ་), chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp diệt khổ là con đường Bát chính đạo.

Nguyên ngữ của Tứ diệu đế
Bốn cụm từ trong Tứ diệu đế có thể được dịch từ những cụm từ gốc sau:

Dukkha - "không thể chịu đựng," "sự không thể thỏa mãn được về tự nhiên và sự không an toàn chung về tất cả những điều kiện tự nhiên". Dukkha thường được dịch theo nghĩa không thật sự sát gốc là "chịu đựng," vì nó đề cập đến bản chất cuối cùng là không thỏa mãn lòng người của các trạng thái tạm thời về mọi thứ, bao gồm cả sự dễ chịu (nhưng vì là tạm thời nên không thể thỏa mãn con người). Trái ngược với sukha nghĩa là "niềm vui", từ Dukkha được một vài ngôn ngữ dịch sát nghĩa là "Khổ".

Samudaya - "gốc", "nguồn", "sự phát sinh", "tồn tại"; "tổng hợp của các yếu tố cấu thành hoặc các yếu tố của bất kỳ linh hồn hay sự tồn tại", "cụm", "đến với nhau", "sự kết hợp", "nguyên nhân xảy ra", "sự tăng lên".

Nirodha - đình chỉ; giải phóng; hạn chế; "phòng ngừa, ngăn chặn, bao bọc, kìm hãm".

Magga - "con đường", những điều quan trọng trong phiên bản dài hơn của cụm từ này, dukkha-nirodha-Gamini Patipada, có thể được dịch như sau:

Gamini: dẫn tới, chuẩn bị cho.

Patipada: con đường, lối đi, phương pháp; nghĩa là cách thức đạt được mục tiêu.

Khổ và Diệt khổ
Từ Dharmacakra, thường được sử dụng để đại diện cho Bát Chánh Đạo ,Tứ diệu đế thể hiện định hướng cơ bản của Phật giáo: chấp thủ và ái dục tuy có thể cho hạnh phúc tạm thời nhưng cuối cùng không bao giờ thỏa mãn được con người và dẫn tới đau khổ. Cứ thế, con người và sinh vật tái sinh lặp đi lặp lại, kiếp này qua kiếp khác. Bằng cách học theo con đường Phật giáo, tham ái và chấp thủ có thể được hạn chế, có thể đạt được sự an lạc, thoát khỏi vòng luân hồi.

Sự thật của Khổ, là không có khả năng đáp ứng, là đau đớn, là sự thấu hiểu cơ bản rằng cuộc sống này chỉ là "thế giới trần tục", là tạm bợ. Sự cố chấp và tham ái của mình với những thứ vô thường là Khổ. Chúng ta mong đợi hạnh phúc từ tâm trạng vô thường, và trông đợi những thứ vô thường, vì không bao giờ có cái gì là vĩnh hằng nên kết quả của sự trông đợi vô vọng ấy chỉ có thể là đau khổ, không thể đạt được hạnh phúc thực sự.

Khổ phát sinh khi chúng ta khao khát (Pali: tanha) và bám víu vào những thứ thay đổi. Sự khao khát cố chấp và ái dục tạo nên nghiệp, trói buộc chúng ta vào vòng luân hồi, vòng của cái chết và sự tái sinh. Tham ái bao gồm kama-tanha (khao khát khoái lạc), bhava-taṇhā (khao khát được tiếp tục chu kỳ của sinh và tử, trong đó có tái sinh), và vibhava-tanha (khát vọng không phải chịu cảm giác đau đớn).

Khổ có thể được diệt hoặc được hạn chế khi tham ái và chấp thủ ngừng lại.. Điều này cũng có nghĩa là không tạo thêm nghiệp nào nữa. Diệt khổ là niết bàn, buông bỏ, và an lạc. Nhà nghiên cứu Joseph Goldstein giải thích:

Ajahn Buddhadasa, một bậc thầy Thái Lan nổi tiếng của thế kỷ trước đã từng nói rằng khi người dân làng ở Ấn Độ nấu cơm và đợi cho cơm nguội, họ thường nói là "Chờ một chút cho gạo nhập Niết Bàn". Vì vậy ở đây, Niết Bàn có nghĩa là trạng thái mát mẻ, an lạc của tâm trí, thoát ra khỏi những ngọn lửa của phiền não. Như Ajahn Buddhadasa nhận xét, "Tâm càng an lạc, càng gần Niết Bàn". Chúng ta có thể suy ngẫm về trạng thái an lạc trong tâm trí của chúng ta khi ngày đã trôi và màn đêm vọng về.

Theo Phật giáo, ở moksha, giải phóng, người ta bắt đầu rút ra khỏi những tham ái và chấp thủ về sự vật và cảm giác vô thường. Thuật ngữ "đạo" thường mang nghĩa Bát Chánh Đạo, nhưng các nghĩa khác của "đạo" cũng có thể được tìm thấy trong các cuốn kinh. Phật giáo Nguyên Thủy coi cái nhìn sâu sắc vào bốn chân lý như giải phóng chính bản thân mình.

Bát chánh đạo nổi tiếng về lý thuyết rằng thế giới này chỉ là tạm bợ và không thỏa mãn, và làm thế nào để nắm giữ một thứ gì đó trong thế giới vô thường này, với một thái độ thân thiện và từ bi với người khác, một cách đúng đắn về hành xử, điều khiển được tâm trí, có nghĩa là đừng chứa chấp những suy nghĩ tiêu cực, mà hãy nuôi dưỡng những suy nghĩ tích cực, nhận thức liên tục của cảm xúc và phản ứng phát sinh sau đó, và cuối cùng là việc thực hành Thiền định. Đạo thì bổ sung gấp nhiều lần những lý thuyết và cái nhìn sâu sắc về việc giải thoát khỏi luân hồi.

Tứ diệu đế được học, được tiếp thu và hiểu để trở thành những kinh nghiệm cá nhân giúp ích cho bản thân của mỗi con người.



Chấm dứt luân hồi
Tứ diệu đế mô tả khổ và kết thúc của nó như là một phương tiện để đạt được sự an lạc trong cuộc đời này, và còn là một phương tiện để chấm dứt luân hồi. Một số giáo viên hiện đại có xu hướng để giải thích bốn chân lý theo phương pháp tâm lý học, bằng cách lấy khổ để có nghĩa là không hạnh phúc vì nỗi đau thể chất, và giải thích Tứ diệu đế như một phương tiện để đạt được hạnh phúc trong cuộc sống này. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng thông điệp Phật giáo không chỉ đơn giản là một thông điệp tâm lý, mà là một thông điệp phổ quát.

Trong bài giảng cuối cùng, kinh Đại Bát Niết Bàn (ngày cuối cùng của Đức Phật, Digha Nikaya 16) ", Đức Phật dạy như sau:

...mặc dù không nhận ra, mặc dù không thâm nhập vào nhưng Tứ Diệu Đế lâu nay vẫn đang được đi qua và trải qua bởi ta cũng như của các thầy[...] Nhưng bây giờ, các thầy Tỳ kheo, những điều này đã được nhận ra và thông qua, buông bỏ mọi thứ là sự khao khát cho sự tồn tại...

Tính tương tự về mặt y tế
Mô hình Tứ diệu đế có thể là một sự tương quan với y học cổ điển Ấn Độ, trong đó Tứ diệu đế có chức năng như một sự chẩn đoán, và Đức Phật được biết đến như một bác sĩ:

Sự thật của Khổ: xác định bệnh và tính chất của bệnh (chẩn đoán).

Sự thật của Tập: xác định các nguyên nhân của bệnh tật (nguyên nhân).

Sự thật của Diệt: xác định một cách chữa bệnh (tiên lượng).

Sự thật của Đạo: đề xuất một cách điều trị cho các bệnh (toa thuốc).

Sự tương quan này được cho là để nhấn mạnh lòng từ bi của Đức Phật mong muốn chúng sinh có thể tự chấm dứt đau khổ, nhận sự an lạc vĩnh hằng.

Ý Trinh : Tứ Đế - Phật học cơ bản


PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC
Tâm Minh Lê Đình Thám

TỨ ĐẾ

Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các đạo lý khác trong đạo Phật, vì nếu không biết luân hồi là khổ, thì không thể phát tâm cầu đạo giải thoát, nếu khôngbiết cái khổ luân hồi do những nguyên nhân gì, thì cũng không biết được đường tu chân chính, đi đến giải thoát, và nếu khôngbiết đường tu giải thoát chân chính, thì không thể ra khỏi luân hồivà được chứng Niết-bàn.

Cả đến những vị tu theo Bồ-tát thừa, cũng cần nhận rõ cái khổ luân hồi, mới phát được thệ nguyện rộng lớn, độ thoát chúng sinh đồng thành Phật đạo.

Lần đầu tiên Phật thuyết pháp, độ cho 5 vị Tỳ-kheo ở Lộc uyển, Phật đã dạy: “Thế này là khổ, cần phải biết; thế này là tập, cần phải đoạn; thế này là diệt, cần phải chứng; thế này là đạo, cần phải tu”.

Vì thế, tất cả đệ tử Phật, muốn phát tâm đúng đắn, cần phải nghiên cứu suy xét, biết được luân hồi là khổ, biết được những tập nhân của luân hồi cần phải đoạn, biết được đạo quả diệt khổ luân hồi cần phảichứng, và biết được con đường diệt trừ tập nhân ấy ra khỏi luân hồi, cần phải tu hành. Những đạo lýdạy về cái khổ của luân hồi, tập nhân của luân hồi, đi đến đạo quả ấy, đều là những đạo lý chắn chắn xác thật, nên gọi là Tứ đế, gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.



A. KHỔ ĐẾ

Khổ đế nhận định chắc chắn luân hồi là khổ, sống chết là khổ. Thân thể của chúng sinh đối với hoàn cảnh, thường sinh ra ba cái thọ: Đối với cảnh nghịch thì sinh ra khổ thọ, đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thọ và đối với những cảnh không nghịch, không thuận thì sinh ra xả thọ. Nói một cách khác, là các cảnh có thể làm cho người ta hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không vui, không khổ. Nhưng cả ba thọ ấy cuối cùng đều sinh ra khổ cả. Khổ thị thì sinh ra khổ khổ, vì bản chất của nó là khổ, nên sinh ra khổ; lạc thọthì sinh la hoại khổ, vì những cảnh thuận mà mình không ưa thích, không thể tồn tại mãi được, đến khi nó diệt mất thì sinh ra khổ; xả thọ thì sinh ra hành khổ, vì tuy xả thọ không có khổ vui, nhưng thân thể và hoàn cảnh, do nhân duyên tạo thành, luôn luôn chuyển biến và lần đi đến chỗ diệt mất, nên cũng sinh ra khổ.

1. Sinh khổ: Sinh khổ, nghĩa là có sinh có khổ, vì đã có sinh thì nhất định phải có diệt và bị vô thườngchi phối, nên có khổ. Huống nữa, trong nhiều loài, chính trong lúc mới sinh ra, cũng đã phải chịu những cái khổ nhất định do thân thể yếu ớt và hoàn cảnh thay đổi, lại muốn duy trì được sự sống, còn phải tìm cái ăn, cái uống, phải chống cái nóng, cái rét, phải tự vệ đối với nhiều loài khác, phải đối phó với những tai họa thiên nhiên và nhân tạo, v.v. nên suốt đời vất vả lo âu, đó cũng là sinh khổ.

2. Lão khổ: Thân thể thường chuyển biến nên có lão khổ.

Người ta ai cũng muốn trẻ, muốn mạnh, nhưng sự già yếu cứ thôi thúc bên mình, cái già còn con mắt thì con mắt mờ, vào lỗ tai thì tai điếc, vào da thì da nhăn, vào xương sống thì lưng còng, cái già đến đâu thì suy yếu đến đó, làm cho không đủ sức thích nghi với hoàn cảnh thay đổi và dễ mắc bệnh tật.

3. Bệnh khổ: Lại trong đời sống, thân thể thường mắc nhiều tật bệnh, làm cho đau khổ. Nhất là khi đã già, sức đề kháng suy kém thì càng dễ sinh bệnh.

4. Tử khổ, là cái khổ trong lúc chết. Chúng sinh do nghiệp báo chịu một thân thể nào, thì gắn bó với thân thể ấy, xem thân thể ấy là thân thể duy nhất của mình, nên đến khi chết, sinh ra đau khổ vô hạn. Chúng sinh suốt đời yêu quí cái thân thể, chỉ sống với cái thân thể và do thân thể liên hệ mật thiết với người, với cảnh quanh mình, nên đến khi thân thể chết thì luyến tiếc vô hạn. Loài nào có thân thể xinh đẹp bao nhiêu, có hoàn cảnh thuận lợi bao nhiêu, thì lại càng luyến tiếc bấy nhiêu, đó là tử khổ.

5. Cầu bất đắc khổ: Ý niệm của con người thường rong ruổi theo hoàn cảnh, mong cầu những điều ưa thích. Khi mong cầu được cái này, thì lại mong cầu thêm cái khác, đến khi mong cầu chưa được, hoặc không được, thì buồn rầu và đau khổ.

6. Ái biệt ly khổ: lại sống trong cảnh vô thường, thì những cái mình ưa thích cũng đều là vô thường. Khi phải xa rời những cái mình yêu thích đó, như khi mẹ mất con, chồng mất vợ, người mất của báu, thì sinh ra đau khổ vô hạn.

7. Oán tắng hội khổ: Lại có những điều mình thù ghét, không thích mà nó cứ đến với mình, như mình muốn có con hiếu thảo mà sinh ra con bất hiếu, muốn có người láng giềng tốt mà lại phải ở với những người láng giềng xấu, muốn sống trong một chế độ tự do mà lại phải sống trong một chế độ độc tài, v.v. thì sinh ra khổ não.

8. Ngũ ấm xí thạnh khổ: Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, che lấp trí tuệ, làm cho không nhận được bản chất, nên gọi là ngũ ấm. Đến khi chúng sinh phát được chánh tín, muốn trừ bỏ sự che lấp ấy, để được giải thoát, thì lại bị thói quen mê lầm ràng buộc, muốn trừ mà trừ không được nên sinh ra khổ. Vì thế ngũ ấm xí thịnh khổng cũng có tên là xả bất đắc khổ.

Năm ấm ấy che lấp trí tuệ, như áng mây mù che lấp ánh sáng mặt trời. Khi nhận thấy thật có sắc và không, nghĩa là có những cái có hình, có tướng và không hình, không tướng thì những tư tưởng chấp thật có sắc, thật có không đó, che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ thật tướng của các thứ sắc, thứ không, là duyên khởi như huyễn, không có tự tính, đó là sắc ấm.

Khi thân đối với cảnh, cảnh đối với thân, có những khổ thọ, lạc thọ và xả thọ, mà không biết các thọ ấy đều do sự đối đãi giữa thân với cảnh mà thành, chấp là thật có, thì sự cố chấp này che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ thật tướng của các thọ, đó là Thọ ấm.

Khi tâm đối với cảnh, với thân, sinh ra có ưa ghét, có thân sơ, thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, tạo ra các tướng nơi thân, nơi cảnh, rồi nương theo các tướng đó, đặt ra những tên gọi, tạo thành cái cảnh danh ngôn đối với ý thức, tức là cái cảnh các sự vật có phân biệt, có tên gọi. Cảnh danh ngôn đó toàn là những tưởng tượng do ý thức biến hiện như cảnh chiêm bao. Nếu không biết như thế, lầm nhận cảnh đó là thật có ở ngoài tâm phân biệt, thì sự cố chấp này che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ được thật tướng của danh ngôn, đó là Tưởng ấm.

Lại tất cả sự vật, cho đến các luồng tâm niệm, đều sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, theo duyên chuyển biếnmãi mãi không thôi. Nếu không biết đạo lý duyên khởi như huyễn, chính nơi sinh thật không có gì đáng gọi là sinh, chính nơi diệt thật không có gì đáng gọi là diệt, mà chấp thật có sinh diệt, thật có sự chuyển biến, thì sự cố chấp đó che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ thật tướng của các sinh diệt, đó là Hành ấm.

Lại cái thức tâm theo nghiệp báo mà hiện ra thân thể và cảnh giới hàng ngày, chịu sự huân tập của các nghiệp mà chuyển biển không ngừng. Thức tâm ấy hình như yên lặng, nhưng không phải yên lặng. Thức tâm đó, chỉ là cái dụng riêng biệt của bản tính không riêng biệt, chỉ là một nhóm thức riêng biệt, hiện ra trong thức tính viên mãn cùng khắp, cũng như những luồng sóng hiện ra trong biển cả. Nếu không biết như thế, lầm nhận luồng sóng là biển, lầm nhận thức tâm là bản tính thanh tịnh, thì dễ lạc vào ngoại đạo, hoặc lầm nhận những quả dị thục nơi thức tâm của Thanh Văn thừa và Duyên Giác thừalà rốt ráo, là tối cao, tối thượng. Cái điều đó che lấp trí tuệ, làm cho không nhận được bản lai tự tính, nên gọi là Thức ấm.

Chỉ khi nào trừ bỏ được năm ấm, nghĩa là từ bỏ được những cố chấp mê làm che lấp trí tuệ, thì mới nhận được bản tính, nhập được với pháp giới tính, và lên quả vị Nhân địa của Như Lai.

Người học đạo biết rõ năm ấm là như thế, nhưng do thói quen mê lầm, muốn thoát ly mà chưa thoát lyđược, thì vẫn còn mắc xả bất đắc khổ. Người thế gian bị năm ấm che mất tâm tính, luôn luôn ở trong đường luôn hồi, chịu cái khổ luân hồi mà không tìm lối giải thoát, đó là vì năm ấm quá nặng nề, quá mãnh liệt, nó làm cho phải luân hồi trong vô lượng, vô số kiếp, chịu vô lượng, vô số đau khổ, thế gọi là ngũ ấm xí thịnh khổ. Xác chết của một chúng sinh, trong nhiều đời, chồng chất lại cao hơn núi Tu-di, nước mắt của chúng sinh, trong nhiều đời, chứa nhóm lại còn nhiều hơn nước biển, đó là kết quả của ngũ ấm xí thịnh khổ.

Tất cả những điều khổ đã nói trên kia, xét ra quả thật là khổ, nên gọi là Khổ đế. Chúng sinh trong đường luân hồi, cần suy xét chín chắn, biết rõ luân hồi là khổ, chẳng những ở tam ác đạo là khổ, mà ở các cõi trời cũng vẫn là khổ, để tăng thêm lòng mong muốn giải thoát. Việc biết luân hồi là khổ và mong muốn giải thoát là điều cần yếu cho những người học đạo.





B. TẬP ĐẾ
Đã biết cái khổ luân hồi thì cần suy xét nhận rõ những nguyên nhân tập hợp lại mà duyên sinh ra cái khổ đó. Phải chính nơi cái khổ luân hồi, mà nhận cho được nguyên nhân của nó, một cách xác thật, không nên để cho những tà thuyết mê hoặc.

Phật thấy rõ những nguyên nhân của luân hồi, vì đã thiết thật biết hết những sự chuyển biến theonghiệp báo của các chúng sinh trong vô lượng, vô số kiếp. Những nguyên nhân của luân hồi mà Phật đã dạy, có thể nhận rõ nơi cái quả luân hồi hiện tại, nó xác thật chắc chắn là nguyên nhân của luân hồi, nên gọi là Tập đế.

Nói tóm lại, nguyên nhân của luân hồi là lòng khát ái, nghĩa là lòng khao khát ưa thích đối với sự sống còn, sự hay biết, đối với thân thế và hoàn cảnh, phân tích ra thì cả 10 nguyên nhân chính là những tư tưởng sai lầm, ràng buộc và sai khiến chúng sinh, đó là 10 kết sử. Trong 10 kết sử, có 5 cái thuộc về tính chấp, là tham, sân, si, mạn, nghi, cũng có 5 tên là 5 độn sử, còn 5 cái nữa thuộc những cố chấp về tri kiến và thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, và tà kiến, cũng có tên là 5 lợi sử.

Do 10 kết sử là nguyên nhân của luân hồi, nên cần biết rõ hành tướng của nó để doạn trừ cho kỳ hết.

1. Tham: Là đối với những cái gây ra lạc thọ hoặc hỉ thọ và những phương tiện để có các cái đó, sinh lòng đắm trước, muốn thu góp tất cả về phần mình.

2. Sân: Là đối với những cái gây ra khổ thọ hoặc ưu thọ và những phương tiện gây ra các cái ấy, đem lòng ghét bỏ, muốn gạt đi nơi khác, muốn trút hết cho người khác.

3. Si: Là đối với sự thật nhân quả, mê lầm không rõ, do đó phát sinh ra những tư tưởng sai lầm và những lối tu hành không đúng Chánh pháp. Si còn có tên là vô minh, khi nào chưa trực nhận bản tánh, chưa nhập một lời pháp giới tánh, thì chưa dứt sạch vô minh.

4. Mạn: Là tự đề cao mình, phân tích ra có ngã mạn, xem cái ta là quý báu hơn hết, quá mạn là mình chỉ bằng người, lại cho là hơn người, mạn quá mạn là chính chỗ mình thua kém người, lại tự phụ là hơn người, tà mạn là tự cảo tự đại với những tà pháp, với những chức vụ cao trong tà đạo, tăng thượng mạn là chưa chứng đã xưng là chứng, chưa ngộ đã xưng là ngộ, lại có cái mạn bình thường, mình có hơn người một ít mà cho là hơn nhiều. Mạn có tác hại tăng trưởng các hiến chấp, sinh lòng tự mãn, làm trở ngại rất nhiều cho sự tu tập.

5. Nghi: Là đối với Chánh pháp, sinh lòng do dự, không tin chắc chắn, như đã phát lòng tin với Tam bảo, lại còn cầu thần, vái quỷ, bảo rằng “Phật thì xa, bản nha thì gần”.

6. Thân kiến: Là chấp cái thân ngũ uẩn là ta, nhận định chắc chắn có cái ta và không tin đạo lý vô ngã.

7. Biên kiến: Là chấp có hai bên, chấp những sự đối đãi là thật có, như chấp thật có thường, có đoạn, có trước, có sau, có cao, có thấp, v.v.

8. Kiến thủ kiến: Là cố chấp những thành kiến đã có từ trước, dù được nghe đạo lý chân thật, nhận địnhlà đúng, cũng không chịu rời bỏ.

9. Giới thủ kiến: là cố chấp những giới ngoại đạo đã được truyền thọ, khi đã được nghe Chánh pháp, cũng không chịu rời bỏ.

10. Tà kiến: Là cố chấp những ngoại đạo tà giáo đã học được, hoặc bát không nhân quả, hoặc tin những điều trái với nhân quả.

Mười kết sử này buộc con người, sai khiến con người, làm cho phải xoay chuyển mãi mãi trong đườngluân hồi.

Các kết sử còn chia ra có kết sử câu sinh và kết sử phân biệt. Kết sử phân biệt phụ thuộc vào ý thức, nên đến khi ý thức chứng được chân lý vô ngã, tức là kiến đạo, thì các kết sử phân biệt đều được đoạn trừ, do đó, nên gọi là kiến sử đoạn hoặc, hay kiến hoặc. Những kết sử câu sinh là những tập quán mê lầm từ nhiều kiếp để lại và dây dưa trong tiềm thức, cần phải liên tục tu tập chánh quán lâu ngày mới đoạn trừ hết, nên cũng có tên là tư sử đoạn hoặc, hay là tư hoặc.

Trong 10 kết sử, có hai kết sử rất quan trọng, vì là cỗi gốc của tất cả phiền não mê lầm, đó là thân kiếnvà si. Do si mê nên mặc dầu, xét rõ thật tế không có cái ta riêng, lại cứ nhận rằng có cái ta riêng và mặc dầu, được nghe Chánh pháp, vẫn không chịu dứt bỏ sự cố chấp ấy. Như thế là do si mà có thân kiến, rồi do thân kiến mà có cái ta chịu sống, chịu chết, trong đường luân hồi.





C. DIỆT ĐẾ

Đã biết nguyên nhân của luân hồi, thì cần phải diệt trừ hết 10 kết sử để ra khỏi luân hồi.

Những vị đoạn được tất cả kiến hoặc trong tam giới, không còn phân biệt ngã chấp thì chứng quả Tu-đà-hoàn, những vị Tu-đà-hoàn diệt trừ được sáu phẩm tư hoặc của Dục giới, không trở về Dục giới nữa, thì chứng quả A-na-hàm. Những vị A-na-hàm hiệt trừ hết 72 phẩm tư hoặc của các cõi Tứ thiền, Tứ không thì chứng quả A-la-hán. Chứng được các đạo quả này của Thanh Văn thừa, thì chắc chắn ra khỏi luân hồi, các vị Tu-đà-hoàn thì chứng được Hữu dư y Niết-bàn, các vị A-la-hán thì chứng được Vô dư y Niết-bàn, nên gọi là Diệt đế.







D. ĐẠO ĐẾ

Đạo đế là con đường tu hành chắc chắn diệt trừ các kết sử là tập nhân của luân hồi, để chứng quả giải thoát ra khỏi luân hồi.

Phương pháp tu tập ra khỏi luân hồi rất nhiều, nay chỉ nói về hai pháp là 5 quán đỉnh tâm và 37 đạo phẩm:




a. Năm quán đỉnh tâm: Năm phép quán này, nhằm làm cho những phiền não sâu nặng nhất dừng nghỉ, nên gọi là đỉnh tâm.

1. Quán bất tịnh: Quán này xét nhận thân và cảnh đều nhơ nhớp, không sạch, dễ làm cho lòng tham dục ngừng nghỉ.

Đối với thân người, thì xét nó, bề ngoài mồ hôi nhễ nhại, lâu ngày không tắm rửa thì hôi hám không thể chịu được, rồi xét bề trong cái thân, sau lớp da mỏng thì toàn là máu, mỡ, thịt, xương rất nhơ nhớp và chứa đựng những tiểu tiện, đại tiện rất hôi thôi. Xét cho cùng, thì cái thân người khi ở trong thai, lúc mới sinh đã nhơ nhớp rồi và đến khi chết thì lại càng hôi thối nhơ nhớp hơn nữa.

Có phép quán bất tịnh, quán thân người khi chết rồi, thì máu da nhợt nhạt, có từng bợt xanh, bợt tím, bụng phình to lên, rồi nứt ra, chảy nước hôi hám, cuối cùng da thịt tiêu hết, chỉ còn bộ xương, rồi bộ xương còn đó cũng tan nát ra đất, ra bụi, gặp một trận gió thì bụi bay hết, không còn gì là cái thân nữa.

Quán thân mình như thế, quán thân mọi người cũng như thế, thì đối trị được lòng dâm dục.

Đối với hoàn cảnh thì quan sát tất cả đều vô thường, như hoa nở rồi tàn, không có gì đáng ưa thích cả. Loài người sống trong cảnh đất bụi, bùn lầy, ít ngày không quét, không lau thì đã nhơ nhớp, nên trong cảnh ấy thật không có gì đáng ham muốn.

Xét như vậy, thì trừ được lòng ham muốn ngoại cảnh và giữ được tâm thanh tịnh.

2. Quán từ bi: Đối với người hay nóng giận, thì nên học phép quán từ bi để đối trị. Phép này xem xétloài người chịu nhiều thứ khổ. Trong lúc sống khổ như thế, loài người lại tranh giành lợi lộc với nhau, gây ra những nghiệp ác, để về sau phải chịu quả báo khổ trong nhiều đời, rất đáng thương xót.

Với lòng từ bi đó, mỗi khi thấy có người bị đọa đày, áp bức, giết hại, thì người tu hành phải hy sinh tất cả để cứu khổ, cứu nạn, đi đến diệt những kẻ hung bạo sát nhân, để cứu vớt người lương thiện.

Người tu hành, tu phép quán từ bi, luôn luôn ở về phía đa số bị áp bức, không từ một hy sinh nào, một hành động đối nghịch nào mà vẫn không thù, không giận.

3. Quán nhân duyên: Quán nhân duyên là quán tất cả sự vật, dầu thân tâm, dầu cảnh giới, đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, nhân duyên tan rã là giả dối diệt mất, sự thật thì không có gì đáng gọi là thân tâm và cảnh giới cả. Pháp quán này, đối trị lòng si mê chấp thật có thân tâm, thật có cảnh giới.

4. Quán giới phân biệt: Quán giới phân biệt là xem xét chia chẻ nơi thân, nơi cảnh thành 18 giới riêng biệt. Trong 18 giới ấy (6 căn, 6 trần, 6 thức) không tìm ra được cái gì gọi là ta, nhưng ngoài 18 giới ấy ra, thì không còn cái gì, có thể gọi là ta được. Như thế, cái ta chỉ do một số tâm pháp và sắc pháp kết hợp lại mà thành, chỉ có tên gọi, chứ không có thật thể.

Cũng có thể phân tích cả thân và cảnh thành năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hoặc thành 6 đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức), để thấy rõ tất cả chỉ là tướng hòa hợp, chỉ có danh mà không có thật, trong đó không có gì đáng gọi là ngã cả.

Phép quán này, đối trị được ngã kiến và làm cho nhận được các pháp đều vô ngã.

5. Quán sổ tức: Đối với những người, tâm thường tán loạn, thì nên tập phép quán sổ tức. Sau khi điều hòa hơi thở, người tu hành tập đếm hơi thở từ 1 cho đến 10, rồi bắt đầu đếm trở lại từ 1 đến 10, phải chuyên tâm đếm như thế, một cách rõ ràng dứt khoát, không có nhầm lẫn. Tập lâu ngày, phép sổ tức thì tâm được định tĩnh, không còn tán loạn nữa.

Những người mới tu hành, đều nên tập 5 phép quán đỉnh tâm, tùy tự xét tâm mình, phiền não nào nặng hơn, thì tập phép đối trị phiền não ấy trước. Về sau thì có thể tập đủ năm phép, để cho phiền não được nhẹ nhàng và tâm được chánh định.

b. 37 đạo phẩm, gồm có: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, bát chánh đạo, và thất giác chi.

1. Tứ niệm xứ: Sau khi tu năm phép quán đỉnh tâm, người tu hành đã được phiền não nhẹ nhàng và bắt đầu được chánh định. Nhờ có định, người tu hành phát ra trí tuệ, diệt trừ 4 kiến chấp điên đảo thế gian là: Không sạch bảo là sạch, khổ bảo là vui, vô thường bảo là thường, vô ngã bảo là ngã, đồng thờiphát sinh bốn chánh quán là thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã.

Bốn chánh ấy là tứ niệm xứ gồm có:

- Quán thân bất tịnh: Nghĩa là quán thấy cái thân mình không sạch sẽ, không đáng lưu luyến. Nhớ giữ luôn quan niệm như thế, nếu không bị cái thân sai khiến, ngược lại, còn sai khiến được cái tâm làm các điều thiện.

- Quán thọ thị khổ: Nghĩa là quán thấy có lãnh nạp thì có khổ. Thọ ước lược có ba thứ là lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ. Khổ thọ sinh ra khổ khổ, lạc thọ sinh ra hoại khổ, xả thọ sinh ra hành khổ, nên hễ có thọ thì có khổ.

Các thọ ấy đều sinh ra do sự đối đãi giữa thân thể và cảnh giới. Nếu không nhận cái thân là mình, thì không gắn bó với thân và sẽ không theo cái thân, mà nhận các sự sống chết.

- Quán tâm vô thường: Nghĩa là quán thấy cái tâm ý phân biệt, duyên với cảnh danh ngôn, là vô thường. Cái ý thức ấy rong ruổi theo cảnh, chuyển biến mãi mãi, khi ngủ mê, khi chết giấc đã không còn, huống nữa, là khi chết. Thế mà trong thế gian, nhiều người lại tin rằng, cái ý thức phân biệt đó, vẫn tồn tại sau khi chết, đi đến tin có cái hồn biết người, biết mình, sống mãi dưới âm phủ.

Sự sai lầm ấy, làm trở ngại cho lòng tin chắc chắn về nhân quả và nghiệp báo.

Người ta thường tự hào với những tri thức của mình. Sự thật thì mọi sự hiểu biết, đều do học hỏi mà có, đều từ ngoài đưa vào, chứ cái hiểu biết riêng biệt của mình thì chẳng có là bao.

Vậy chẳng những cái thân, do sự kết hợp của các thứ vật chất từ ngoài đưa đến mà thành, mà cả cái tri thức cũng do từ ngoài đưa vào mới có, không có gì gọi là riêng mình và cũng không có gì gọi là chắc thật cả.

Lại cái ý thức đó lúc nhỏ khác, lúc lớn khác, khi chưa học khác, khi đã học khác, khi chưa tu khác, khi đã tu khác, nên quả thật là vô thường.

Nhận biết ý thức là vô thường, thì phá được thường kiến chấp có cái hồn bất diệt, đồng thời cũng giác ngộ được cảnh danh ngôn là giả dói, không thật và do tâm phân biệt biến hiện.

- Quán pháp vô ngã: Nghĩa là quán thấy tất cả sự vật, dầu tâm, dầu cảnh, đều khôn có tự tính.

Tất cả các sự vật ấy, đều có thể nói được, có thể nghĩ được, nên gọi là pháp. Những sự vật có hình tướng đều do nhiều bộ phận hợp lại mà thành, nên đều là Nhất hợp tướng, dầu cho nhỏ như hạt bụi, hễ đã có hình tướng, thì đều có thể chia chẻ được, nên cũng đều là nhất hợp tướng.

Nhất hợp tướng như một tập giấy, do nhiều tờ giấy hợp lại mà thành, mỗi tờ giấy đều không phải là tập giấy, nhưng ngoài các tờ giấy ra, cũng không còn gì là tập giấy. Lại tập giấy có thể kết hợp lại với một tập giấy khác, mà thành một tập giấy lớn hơn, hoặc có thể chia ra thành hai tập giấp nhỏ hơn. Rõ ràngtập giấy chỉ có tên gọi, chứ không có thật thể.

Cái tâm thức, cũng đều do nhân duyên hội họp mà phát sinh. Ngoài các nhân duyên ra, cũng không tìm được cái gì là tâm thức.

Lại, tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập. Tâm đối với cảnh, cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với chết, có đối với không, tất cả sự vât đều do đối đãi mà thành và cái này có, nên cái kia có.

Xét cho cùng, tất cả các tâm pháp và sắc pháp chỉ có tánh đối đãi, chứ riêng một mình thì không có tánh gì cả, nghĩa là không có tự tánh, không có tự tánh là vô ngã, tâm cũng vô ngã, thân cũng vô ngã, người cũng vô ngã, mình cũng vô ngã, cảnh cũng vô ngã, thời gian, không gian cũng vô ngã, cho đến khi sống cũng vô ngã, chết cũng vô ngã.

Người tu hành giữ tâm niệm luôn luôn ở trong bốn chánh quán như thế, thì trí huệ ngày thêm phát triển và những bậc lợi căn, có thể chứng được Tu-đà-hoàn.

2. Tứ chánh cần: Là bốn sự siêng năng chân chánh tu tập bỏ ác làm thiện.

Bốn sự siêng năng ấy là:

Những điều ác đã làm thì quyết tâm không làm nữa, những điều ác chưa làm thì quyết tâm không làm, những điều thiện đã làm thì quyết tâm làm thêm nữa, và những điều thiện chưa là thì quyết tâm làm cho được.

Tứ chánh cần là giới, nhờ tinh tiến giữ giới như thế, mà người tu hành được định tuệ phát triển, theo con đường chân chánh.

3. Tứ như ý túc: Là bốn chỗ nương đứng để phát khởi sáu thứ thần thông, vì thế tứ như ý túc cũng có tên là tứ thần túc.

Túc là chân, như cái thân phải nương với cái chân mới đứng được, sáu thứ thần thông phải nương với 4 thần túc mới phát sinh được.

Bốn thần túc là dục, tinh tiến, định và quán (theo các kinh điển, tên của tứ thần túc có khác nhau ít nhiều, nhưng ý nghĩa vẫn như nhau).

Người tu hành khi quán năm phép định tâm đã có định, đến khi tu tứ niệm xứ, và tứ chánh cần, thì trí tuệ phát triển thêm nhiều, nên định lại hóa thành kém thua. Vì vậy, người tu hành cần phải tu tứ thần túc, để cho định tăng lên, cân xứng với tuệ. Định và tuệ cân xứng nhau, thì như con chim đủ hai cánh, làm việc gì cũng thành tựu, nên gọi là tứ như ý túc, gồm có:

- Dục như ý túc: Là do quyết tâm tu hành do định tuệ cân nhau, mà được thần thông.

- Tinh tiến như ý túc: Là do tinh tiến tu hành cho định tuệ cân nhau, mà được thần thông.

- Đinh như ý túc: Là do tu chánh định, mà được thần thông.

- Quán như ý túc: Là do chuyên tâm trong chánh quán, mà được thần thông.

Sáu thứ thần thông là thiên nhãn thông, thấy những cõi xa xăm, thiên nhĩ thông, nghe những tiếng ở xa, tha tâm thông, biết được ý nghĩ người khác, thần túc thông, làm được những điều biến hóa kỳ diệu, túc mạng thông, nhớ lại các đời trước, và lậu tận thông, tiêu diệt hết các sự mê lầm. Trong sáu phép thần thông, 5 phép trước chung với thế gian, duy có lậu tận thông là phép riêng xuất thế gian.

Người tu hành chỉ cốt được lậu tận thông nhưng do định tuệ cân nhau, nên cũng được cả các thần thông khác.

4. Ngũ căn: Là năm cái cội gốc, để phát sinh các thiện pháp gồm có:

- Tín căn: Là trong tâm đã ghi sâu lòng tin Tam bảo và Tứ đế.

- Tinh tấn căn: Là trong tâm đã ghi sâu lòng cương quyết tu hành các thiện pháp.

- Niệm căn: Là trong tâm luôn luôn nhớ nghĩ chánh pháp.

- Định căn: Là tâm luôn luôn chuyên nhất không có tán loạn.

- Tuệ căn: Là tâm luôn luôn suy xét chân lý, phân biệt chánh, tà.

Sau khi định tuệ đã cân nhau, thần thông đã thật hiện, người tu hành năm căn để có khả năng phát sinh các thiện pháp khác và uốn dẹp các phiền não.

5. Ngũ lực: Khi năm căn phát triển mạnh mẽ, đủ sức tăng trưởng mạnh hơn nữa các thiện pháp và đối trị mạnh hơn nữa các thiện pháp và đối trị mạnh hơn nữa các phiền não mê lầm, thì gọi là ngũ lực.

Ngũ lực gồm tín lực, tinh tiến lực, niệm lực, định lực, và tuệ lực.

6. Bát chánh đạo: Trong nhiều kinh điển, thường theo trình tự để Thất giác chi trước Bát chánh đạo. Nhưng Bát chánh đạo là đường lối tu hành trừ kiến hoặc, còn Thất giác chỉ là đường lối tu hành trừ tư hoặc, nên để Bát chánh đạo trước Thất giác chi là đúng hơn.

Bát chánh đạo gồm có 8 phần:

- Chánh tri kiến: Sau khi được ngũ lực, phát sinh các thiện pháp đối trị các kiến hoặc, thì nhận rõ đạo lýtứ đế, phát ra vô lậu tuệ, hướng về quả Niết-bàn, đó là Chánh tri kiến.

- Chánh tư duy: Chánh tư duy nương với chánh tri kiến, suy xét chân lý khiến cho chân trí vô ngã thêm tăng trưởng.

- Chánh ngữ: Chánh ngữ nương với ý nghiệp thanh tịnh trong chánh tư duy mà tu khẩu nghiệp thanh tịnh, không phát ra những lời nói sai lầm, đó là Chánh ngữ.

- Chánh nghiệp: Chánh nghiệp là nương theo ý nghiệp, thanh tịnh mà tu thân nghiệp thanh tịnh, trừ diệttất cả các tà nghiệp.

- Chánh mạng: Chánh mạng là nương với ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp thanh tịnh mà sống theo Chánh pháp, xa rời các tà mạng.

Ba phần chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng lấy vô lậu thế giới làm thể.

- Chánh tinh tấn: Chánh tinh tấn là cố gắng tu trì theo chánh pháp, diệt trừ những kiến hoặc nhỏ nhiệm trong ba cõi.

- Chánh niệm: Chánh niệm là nương với vô lậu tuệ, luôn luôn nhớ nghĩ đạo lý vô ngã, diệt trừ những kiến chấp sai lầm.

- Chánh định: Chánh định là thiền định thanh tịnh vô lậu, phát sinh vô ngã trí, giác ngộ sinh không chân như và chứng quả Tu-đà-hoàn.

7. Thất giác chi: Các vị Tu-đà-hoàn đã diệt trừ các kiến hoặc, diệt trừ phân biệt ngã chấp, vào đượcthánh vị, nhưng còn có những tư hoặc dây dưa trong tiềm thức, gây trở ngại cho sự giác ngộ hoàn toàn.

Vì vậy, các vị phải nương với vô ngã trí, dùng sinh không quán để diệt trừ các tư hoặc trong chín địa.

Thất giác chi cũng có tên trong thất giác phần, thất đẳng giác chi, hoặc thất Bồ-đề phần, gồm có:

- Trạch pháp giác chi: Là dùng trí tuệ vô lậu, phân biệt chân ngụy.

- Tinh tấn giác chi: Là dũng mãnh dùng sinh không quán, mà trừ các tư hoặc, thực hành Chánh pháp.

- Hỷ giác chi: Là vui mừng được pháp giải thoát và tùy hỉ tất cả các thiện sự.

- Khinh an giác chi: Là sự khoan khoái yên lành do đã diệt trừ các kiến hoặc.

Sự khoan khoái yên lành này, diệt trừ được các tư hoặc nặng nề, nên cũng có tên là Trừ giác chi.

- Niệm giác chi: Là luôn luôn ở trong sinh không quán, làm cho định và tuệ cân nhau.

- Định giác chi: Là dùng sinh không quán, đối trị các tư hoặc, làm cho tâm không tán loạn.

- Hành xã giác chi: Là dùng sinh không quán, phóng xả hết tất cả các pháp thế gian, không giữ một bóng dáng gì trong tâm, làm cho tâm luôn luôn được thanh tịnh sáng suốt.

Các vị Tu-đà-hoàn, nương với sinh không quán, dùng các giác chi mà đối trị các tư hoặc.

Khi diệt được sáu phẩm trước của tư hoặc Dục giới, thì chứng quả Tư-đà-hàm.

Khi diệt hết 9 phẩm tư hoặc Dục giới, thì chứng quả A-na-hàm, không trở lại Dục giới nữa.

Khi diệt trừ hết các tư hoặc của Dục giới, Tứ thiền và Tứ không thì chứng quả A-la-hán hoàn toàn giải thoát ra khỏi ba cõi.