Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồ Tát Phổ Hiền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bồ Tát Phổ Hiền. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

10 ĐẠI HẠNH NGUYỆN CỦA BỒ TÁT PHỔ HIỀN




10 ĐẠI HẠNH NGUYỆN CỦA BỒ TÁT PHỔ HIỀN

TK. Thích Liễu Nguyên phổ thơ

 

Một thường lễ kính chư Phật
Lễ Phật, tâm Phật dung Phật tuệ sanh
Kính Phật phước đức an lành
Nguyện làm Bồ Tát dưới chân Phật đài.

Hai thường xưng tán Như lai
Xưng đủ mười hiệu Như Lai tuyệt vời
Tán thán công đức biển trời
Nguyện làm Bồ Tát đời đời mười phương.

Ba thường rộng tu cúng dường
Cúng Phật, phát nguyện lên đường độ sanh
Dường là bố thí quần sanh
Nguyện làm Bồ Tát tu hạnh cúng dường.

Bốn thường sám hối nghiệp chướng
Sám xấu hổ lỗi lầm trước đã tạo
Hối quay đầu theo chánh đạo
Nguyện làm Bồ Tát thường tạo phước đức.

Năm thường tùy hỷ công đức
Tùy duyên hóa độ muôn ức nẻo đường
Hỷ xã Tâm Phật hằng nương
Nguyện làm Bồ Tát thuận đường Chuyển Luân.

Sáu thường thỉnh chuyển pháp luân
Thỉnh thay cả trời người ân cần thỉnh Phật
Chuyển rộng bánh xe pháp Phật
Nguyện làm Bồ Tát dựng đất Bồ đề.

Bảy thường thỉnh Phật trụ thế
Phật tại thế gian mọi bề sáng lạng
Trụ pháp vương hướng Phật đàng
Nguyện làm Bồ Tát phát quang pháp ngọc

Tám thường theo Phật tu học
Bồ tát nối gót thân tộc Như Lai
Được Phật truyền pháp không sai
Nguyện làm Bồ tát tương lai Phật thành.

Chín thường hằng thuận chúng sanh
Hằng luôn giỏi mắt từ ân phổ độ
Thuận theo Phật pháp giác ngộ
Nguyện làm Bồ Tát cứu độ muôn phương.

Mười thường đều cùng hồi hướng
Hồi quy về cùng chung đường Phật quả
Hướng đến chỗ pháp vô ngã
Nguyện làm Bồ Tát thuận đà thượng sanh.



Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát thùy từ chứng minh gia hộ

--- ooo ---

Đôi dòng cảm niệm:

Kính thưa chư Hành Giả, đặc biệt là những Hành Giả đang tu theo tông phái Tịnh Độ. Bên cận phải học và liễu ngộ 48 Đại nguyện của của Đức Phật A Di Đà, 12 Hạnh Nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm thì Quý Vị cần phải học và liễu ngộ 10 Đại Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.

Bồ Tát Phổ Hiền được thờ là sáng tổ của Tông phái Tịnh Độ. Khi quý vị tu học và liễu ngộ được như vậy mà phát lên Tín, Hạnh, Nguyện thâm sâu và vững chải thì lập tức đã được chiêu cảm vào trong những đại nguyện đó, từ đây nhiêu ích cho bản thân và cho muôi loài chúng sanh. Đó chính là công đức và thành quả giải thoát của Hành Giả Bồ Tát vậy.

Kính chúc Quý Vị và thân thuộc thân tâm thường an lạc và ngày càng tiến lên trên những quả vị Bồ Tát Thập Tín, Bồ Tát Thập Hạnh, Bồ Tát Thập Nguyện, Thập Địa Bồ Tát để phổ độ chúng sanh và mau thành Phật quả.





THEO CHÂN PHỔ HIỀN
Thơ: Liễu Nguyên

Thầm lặng tu hạnh Phổ Hiền
Nguyện lớn đã phát Thánh liền từ đây
Vun trồng đạo quả vững xây
Tu Di có đổi nguyện này chẳng phai.

Trên thừa chánh Pháp Như Lai
Chúng sanh phổ độ tương lai Phật thành
Bát Nhã Lục Độ chuyên cần
Chúng sanh mọi nẻo xa gần noi theo.

Ngàn sông ngàn núi cũng trèo
Phân thân hóa độ khắp nẻo gần xa
Vâng theo lời Phật Thích Ca
Phổ Hiền hạnh nguyện sáng cả Ta bà.

Tịnh độ xây đắp một nhà
Tôn thờ Phổ Hiền sáng ra Tông này
Hoa sen ngát nở từ đây
Tây Phương sen nở chốn này mà ra.

Khắp cả thế giới Ta Bà
Theo chân Phổ Hiền thoát ra luân hồi
Hoa sen nâng chỗ tòa ngồi
Mười phương pháp giới muôn đời Tuệ soi.





Nam-mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát

(Trích kinh Hoa Nghiêm, phẩm 40
Bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh)

1. MỘT NGUYỀN LỄ KÍNH NHƯ LAI

Phổ Hiền Bồ-tát dạy rằng

Đảnh lễ chư Phật lòng hằng kính dâng

Chư Phật số cực vi trần

Mười phương pháp giới quả nhân luân hồi

Trước mắt thâm tín sáng ngời

Thân khẩu ý… nghiệp thường thời tịnh tu

Sáng chiều tinh tấn công phu

Hằng hà chư Phật võng thù hồng ân

Hư không vô tận phù vân

Chúng sanh phiền não tỏ phân đời đời

Lòng thành kính lễ khôn vơi

Thân khẩu ý… niệm thời không quên!

2. HAI NGUYỀN XƯNG TÁN CÔNG DÀY THẾ TÔN

Thế gian muôn vạn đáp đền

Chư Phật, Bồ tát… vững nền thiện sanh

Thậm thâm, thắng giải… đạo lành

Biện tài thiên nữ diệu hành vượt qua

Thinh âm vô tận hải hà

Công đức chư Phật hằng sa khó lường

Lời vàng vi diệu thanh lương

Ba đời cùng tột nối luôn khôn ngừng

Quá khứ, vị lai tôn xưng

Mười phương pháp giới không dừng không phai

Chúng sanh phiền não sâu dày

Khen ngợi chư Phật Như Lai tột cùng

Đời đời vô thủy vô chung

Tán dương chư Phật tâm tùng vô biên

3. BA NGUYỀN TU PHƯỚC CÚNG DƯỜNG

Hồng trần vô lượng pháp duyên

Chư Phật, Bồ tát hiện tiền độ sanh

Thậm thâm thắng giải đạo lành

Thức ăn thượng diệu lòng thành kính dâng

Cúng dường chư Phật báo ân

Mây hoa tàng lộng thanh vân khắp trời

Y phục hương sắc xinh tươi

Đèn lồng tô lạc tuyệt vời mùi thơm

Cúng dường công đức nào hơn?

Pháp bảo công đức diệu thường hằng sa

Thực hành lời Phật nở hoa

Lợi ích vô lượng liên tòa chúng sanh

Khổ đau gánh chịu hóa hành

Nhiếp thọ tu tập căn lành hoằng dương

Bồ tát vui hạnh cúng dường

Tâm bồ đề quyết thọ nương chẳng rời!

Vô lượng công đức phụng thời

Làm sao sánh được mười mươi pháp từ

Trăm, ngàn, vạn, ức, không hư…

Pháp bảo cao quý chơn như tịnh hằng!

Hành y hạnh Phật hóa thân

Pháp thân thanh tịnh muôn phần cúng dâng

Hư không vô tận phù vân

Cúng dường pháp bảo báo thân vô vàng.

4. BỐN NGUYỀN SÁM HỐI NGHIỆP VƯƠNG TỘI TRẦN

Từ vô thỉ… nghiệp đa mang

Tham lam, sân giận đắm trần ngu si

Khiến thân, khẩu, ý… sầu bi

Vô lượng ác nghiệp kéo trì cuốn lôi!

Báo ứng hình tướng luân hồi

Tướng hiền, tướng dữ… hụp trồi trầm luân

Một lòng sám hối quả nhân

Một lòng ly xả lòng trần vọng mê

Chúng sanh nghiệp báo trăm bề

Nay nguyền dứt bỏ đoạn lìa tiến tu

Một lòng tinh tấn công phu

Chí thành sám hối điều nhu tự lòng.

5. NĂM NGUYỀN TÙY HỶ CÔNG HUÂN

Chúng sanh nhất thiết trí không

Siêng tu cội phước thoát vòng huyễn thân

Trải qua số kiếp vi trần

Bất khả thuyết cõi Phật ân vô ngần

Mỗi kiếp thí xả tay chân

Hạnh ba la mật… vạn phần xả buông

Bồ đề vô thượng pháp vương

Phân chia xá lợi bốn phương phụng thờ

Chúng sanh cao thấp căn cơ

Tứ chủng, lục thú… đều nhờ tựa nương

Hữu học, vô học… chơn thường

Thanh văn, Duyên giác nối đường thậm thâm

Tu hạnh cần khổ khó làm

Bồ tát công đức nhẫn kham một bề

Hư không pháp giới đi về

Tích tu phẩm hạnh bồ đề tùy tâm.

6. SÁU NGUYỀN THỈNH CHUYỂN PHÁP LUÂN ĐỘ NGƯỜI

Chánh đẳng chánh giác pháp âm

Niệm niệm chư Phật hành thâm nhiệm mầu

Bất khả thuyết, bất khả cầu

Chư Phật, Bồ tát rộng sâu hoằng truyền

Thân khẩu ý… tỉnh mộng huyền

Thỉnh Phật thương xót pháp tuyên đôi lời

Ngữ ngôn Phật dạy tuyệt vời

Khiến người thức tỉnh, khiến đời thoát mê.

7. BẢY NGUYỀN THỈNH PHẬT Ở ĐỜI

Thỉnh cầu Phật ngự bồ đề

Duyên giác, Bồ tát đều về độ sanh

Thinh văn, hữu học, thiện lành

Vô học, trí thức… hóa hành nhân gian

Ta bà hiện khắp đạo tràng

Phật pháp tăng… ánh đạo vàng chiếu soi

Mười phương tươi đẹp tình người

Thỉnh Phật trụ thế đời đời thiên thu.

8. TÁM NGUYỀN HỌC PHẬT TÙY THỜI PHÁT MINH

Như Tỳ Lô Giá Phật… tu

Từ sơ khai đã công phu không ngừng

Đem thân bố thí bao dung

Lột da làm giấy điệp trùng hằng sa

Chẻ xương làm viết đơm hoa

Chích máu làm mực… kết tòa ngữ ngôn

Biên chép kinh điển tâm hồn

Chất cao như núi Linh Sơn đỉnh trời

Tôn trọng chánh pháp Phật ngôi

Vô lượng khổ hạnh đời đời vượt qua

Vô sanh pháp nhẫn trú tòa

Thinh văn, Duyên giác liên hoa sen vàng

Cư sĩ, trưởng giả... đạo tràng

Thiên long, Bát bộ, ngàn ngàn… chư thiên

Pháp âm vi diệu ngân huyền

Mỗi loài mỗi phép… hữu duyên an hòa

Chúng sanh thuần thục đơm hoa

Tùy theo căn tánh kết tòa Kim Cang

Tỳ Lô Giá Na… hiện thân

Ta bà pháp giới tụ phần tỏa hương

Một phương sáng rực mười phương

Học tập hạnh Phật… đẹp gương đạo từ

Tâm trần chuyển hóa chơn như

Phiền não đoạn tận… huyền thư an bình.

9. CHÍN NGUYỀN HẰNG THUẬN CHÚNG SANH

Những là các loại chúng sinh

Mười phương pháp giới hữu tình hư không

Noãn, thai, thấp, hóa… tương đồng

Tướng mạo, thọ lượng… cũng dòng cỏ cây

Tứ đại danh hiệu chủng loài

Tâm tánh, tri kiến, hành nhai, dục tình

Y phục, ăn uống, thôn dinh

Cung điện, thành ấp, thiên binh, xóm làng

Hai chân, bốn chân, nhiều chân

Không sắc, hình sắc, tướng tâm chẳng đồng

Tâm tưởng, không tâm tưởng không

Tùy thuận tất cả… một lòng kính vâng

Như thờ cha mẹ, thầy thân…

A la hán - Phật… cũng vần Linh Sơn

Kẻ bệnh, tôi chăm sóc hơn

Người lầm lạc chỉ lối đường lần ra

Khéo phân biệt nẻo chánh tà

Đêm mờ, đuốc sáng vượt qua tối trời

Nghèo hèn được báu thảnh thơi

Bình đẳng lợi ích người người an vui

Bồ tát tùy thuận độ đời

Cúng dường chư Phật phụng thời kính tin

Thừa sự phá nẻo vô minh

Nương đức chư Phật thoát tình lầm mê

Như Lai thanh thoát đi về

Đại bi - đại trí… bồ đề lực tâm

Chánh đẳng chánh giác thậm thâm

Như giữa sa mạc gặp trầm thọ vương

Gốc to bóng mát hoa hương

Sum suê cành lá nước thường rưới tuông

Giữa dòng sanh tử vấn vương

Đại bi Bồ tát pháp thường rưới mưa

Bông hoa trổ nụ giao mùa

Chúng sanh thọ nhận phúc thừa Phật ban

Trần gian phiền não mơ màng

Quay đầu tỉnh giấc… mộng vàng tịnh tâm.

10. MƯỜI NGUYỀN HỒI HƯỚNG PHƯỚC LÀNH KHẮP NƠI

Từ trong vô lượng luân trầm

Kính lễ chư Phật thoát lầm mê tân

Khéo tu giải thoát phàm nhân

Nguyện hồi hướng khắp xa gần bá gia

Chúng sanh pháp giới ta bà

Thọ hưởng phước lực, thoát nhà tử sanh

Xa lìa ác quấy khổ dành

Về nương Cực lạc, quả lành nhàn vui

Thành tựu vô thượng cao ngôi

Hồi hướng công đức người người tịnh thanh

Thân khẩu ý… phúc quả thành

Sen vàng chín phẩm vô sanh ngự tòa

Niết bàn tự tánh nở hoa

Tâm chơn là Phật - Phật là tâm chơn.



10 ĐẠI HẠNH NGUYỆN CỦA BỒ TÁT PHỔ HIỀNNGUYỆN CỦA BỒ TÁT PHỔ HIỀN

Một thường lễ kính chư Phật
Lễ Phật, tâm Phật dung Phật tuệ sanh
Kính Phật phước đức an lành
Nguyện làm Bồ Tát dưới chân Phật đài.

Hai thường xưng tán Như lai
Xưng đủ mười hiệu Như Lai tuyệt vời
Tán thán công đức biển trời
Nguyện làm Bồ Tát đời đời mười phương.

Ba thường rộng tu cúng dường
Cúng Phật, phát nguyện lên đường độ sanh
Dường là bố thí quần sanh
Nguyện làm Bồ Tát tu hạnh cúng dường.

Bốn thường sám hối nghiệp chướng
Sám xấu hổ lỗi lầm trước đã tạo
Hối quay đầu theo chánh đạo
Nguyện làm Bồ Tát thường tạo phước đức.

Năm thường tùy hỷ công đức
Tùy duyên hóa độ muôn ức nẻo đường
Hỷ xã Tâm Phật hằng nương
Nguyện làm Bồ Tát thuận đường Chuyển Luân.

Sáu thường thỉnh chuyển pháp luân
Thỉnh thay cả trời người ân cần thỉnh Phật
Chuyển rộng bánh xe pháp Phật
Nguyện làm Bồ Tát dựng đất Bồ đề.

Bảy thường thỉnh Phật trụ thế
Phật tại thế gian mọi bề sáng lạng
Trụ pháp vương hướng Phật đàng
Nguyện làm Bồ Tát phát quang pháp ngọc

Tám thường theo Phật tu học
Bồ tát nối gót thân tộc Như Lai
Được Phật truyền pháp không sai
Nguyện làm Bồ tát tương lai Phật thành.

Chín thường hằng thuận chúng sanh
Hằng luôn giỏi mắt từ ân phổ độ
Thuận theo Phật pháp giác ngộ
Nguyện làm Bồ Tát cứu độ muôn phương.

Mười thường đều cùng hồi hướng
Hồi quy về cùng chung đường Phật quả
Hướng đến chỗ pháp vô ngã
Nguyện làm Bồ Tát thuận đà thượng sanh.


NAM MÔ THẬP QUẢNG ĐẠI NGUYỆN VƯƠNG ,ĐẠI HẠNH PHỔ HIỀN VƯƠNG BỒ TÁT

THỰC HÀNH TỪ THIỆN THEO MƯỜI ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHỔ HIỀN BỒ TÁT




THỰC HÀNH TỪ THIỆN

THEO MƯỜI ĐẠI NGUYỆN CỦA

ĐỨC PHỔ HIỀN BỒ TÁT



Pháp Hạnh



“Phần hương nhứt niệm pháp không vương.

Đại hạnh đồng tham biến kiết tường.

Sát hải trần thân thi diệu lực.

Trầm kha chướng nghiệp tổng an khương.”

Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ



Hội Từ Thiện Phật giáo Phổ Hiền (HTTPGPH) mang tên một vị Bồ Tát có “hành động lớn”. Bồ Tát Phổ Hiền có 10 hạnh nguyện rộng lớn cứu độ và giác ngộ chúng sanh. Ngài thực hành 10 hạnh nguyện này với vô số quyến thuộc để lợi ích cho đời. Chúng ta cũng vậy, muốn lợi ích chúng sanh phải phát nguyện rộng lớn nơi tự tâm và có những người cùng tâm nguyện với mình trên bước đường từ thiện. Đức Bồ Tát Phổ Hiền thị hiện với voi trắng 6 ngà an nhiên tự tại nhưng đầy uy nghiêm đi vào cuộc đời để lợi ích chúng sanh. Lấy hình ảnh đầy bi, trí, dũng này, HTTPGPH được thành lập để nương nhờ thần lực của bồ tát Phổ Hiền mà tu học chuyển hóa và làm lợi ích cuộc đời. Để làm được việc này, chúng ta cần phải áp dụng được 10 hạnh nguyện lớn của Ngài trong cuộc sống hằng ngày. Hãy cùng nhau chiêm nghiệm và tìm ra phương cách áp dụng mười hạnh nguyện thù thắng này trong đời sống và trong sứ mạng từ thiện xã hội.

1. Lễ kính chư Phật (Venerating all Buddhas): tức là thành tâm quy kính nương tựa nơi Phật bảo, là đấng phước trí vẹn toàn và tình thương không bờ bến. Phật dạy mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, tức là đều có hạt giống Phật trong tâm. Vậy, lễ kính chư Phật còn có thể hiểu trong ngôn ngữ hiện đại là TÔN TRỌNG THA NHÂN. Tôn trọng mỗi mỗi con người, tôn trọng mỗi mỗi mạng sống, và giúp người cơ hội phát huy Phật tánh sẳn có của mình. Trong phạm vi gia đình không thôi, nếu con cái tôn trọng cha mẹ và ngược lại, cha mẹ tôn trọng con cái, thì mọi người đều được hạnh phúc và có nhịp cầu cảm thông. Khi đi ủy lạo, thành viên của Hội Từ Tế (do Ni Sư Chứng Nghiêm lãnh đạo) chấp tay cung kính cúi chào người nhận. Cử chỉ này giúp cho người nhận phát huy phẩm giá của mình mà nổ lực vượt qua khó khăn. Vì vậy, Hội Từ Tế không những chi giúp người nghèo mà còn chuyển hóa họ trở thành những vị mạnh thường quân trong tương lai. Chúng ta nên học theo phương pháp này của Hội Từ Tế trong công tác cứu trợ và từ thiện của mình.

2. Xưng tán Như Lai (Praising the Thus Come One-Tathagata): Như Lai là đấng Giác Ngộ. Đấng đi vào thế giới khổ đau từ cảnh giới chân như thanh tịnh. Ta xưng tán Như Lai là ngợi khen, tri ân, và cung đón sự đến của Ngài với chúng ta. Nếu chúng ta ca ngợi đức Như Lai được, mà không ca ngợi được những đức tính tốt nơi tha nhân thì chúng ta chưa thành tựu được hạnh nguyện xưng tán Như Lai. Trong các kinh, đức Phật thường hay khen ngợi “hay thay, hay thay” với đệ tử của Ngài. Ban tặng lời khen chân thành không giả dối xu nịnh cho tha nhân là giúp họ PHÁT TRIỂN LÒNG TỰ TIN. Không có lòng tự tin thì làm sao một người dám bước lên hành trình chuyển hoá chính mình. Cha mẹ mà khen ngợi con cái thì con cái sẽ tiếp tục làm những việc tốt. Thầy Tổ mà khen ngợi đệ tử thì đệ tử sẽ nỗ lực tu học. Lãnh đạo mà khen ngợi nhân viên là giúp cho nhân viên thấy được điểm mạnh của mình...Khen ngợi giúp cho người phát hiện được chân như Phật tánh tiềm ẩn trong họ. Khen ngợi người cũng giúp ta bỏ tâm kiêu căng, coi mình là nhất. Được khen ngợi, tha nhân có lòng tự tin hăng say làm việc Đạo.

3. Quảng Tu Cúng Dường (Offering universally): là dâng cúng lên ngôi Tam Bảo. Phật dạy cúng dường phải hội đủ 5 phần (ngũ phần hương): 1/ hương của giới (kỷ luật), 2/ định (an trụ), 3/ huệ (trí tuệ giác ngộ), 4/ giải thoát (vượt qua mọi chướng ngại), và 5/ giải thoát tri kiến (cái nhìn thoáng rộng, không phân biệt ta và người, không chấp trước). Lại nữa, Phật dạy, phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật; vì lẽ đó, chúng ta tu học theo Ngài Phổ Hiền là phụng sự chúng sanh theo tinh thần ngũ phần hương (làm việc trong tinh thần kỹ luật, tương kính, làm việc với tâm an trụ và vui vẻ, làm việc có tổ chức và khoa học, làm việc với tinh thần phục khó, và cuối cùng, làm việc với tinh thần không suy tính vụ lợi, không khởi tâm cao ngạo. Chúng ta “quảng tu cúng dường” bằng cách PHỤNG SỰ THA NHÂN .

4. Sám Hối Nghiệp Chướng (Repenting unwholesome deeds): thân chúng ta đã gây ra nhiều nghiệp chẳng trọn lành (unwholesome), lời nói chúng ta đã gây nhiều đau khổ buồn giận cho người, ý chúng ta đã mưu đồ bao gian kế. Những nghiệp chướng đó từ vô thủy cho đến nay chồng chất tạo ra thân mạng và hành động ngày hôm nay. Chúng ta nhất tâm xin sám hối. Sám hối bằng cách thân làm những việc thiện, miệng nói những lời an ủi đến tha nhân, và ý nghĩ suy những điều tốt đẹp, những phương chước giúp đời. Sám hối nghiệp chướng là CHUYỂN HÓA NGHI ỆP XẤU.

5. Tùy Hỷ Công Đức (Rejoicing in the good deeds of others): Là vui với niềm vui của người, vui với việc thiện của người, và cùng nhau làm việc thiện đem an vui lợi lạc cho quần sanh. Tùy hỉ công đức có thể diễn dịch theo ngôn ngữ hiện đại là biết HỢP TÁC CÙNG NHAU LÀM VIỆC THIỆN. HTTPGPH kêu gọi các cá nhân và nhóm nhỏ đang làm công tác từ thiện cứu tế khắp nơi cùng làm việc với nhau. Nếu làm việc chung, mỗi cá nhân, mỗi nhóm vẫn giữ nguyên tình trạng của mình, nhưng có chung những phương tiện và sự hỗ trợ cần thiết.

6. Thỉnh Chuyển Pháp Luân (Petitioning the Dharma Wheel to be turned): khi đức Thế Tôn thuyết bài pháp đầu tiên, Ngài đã so sánh nó như là chuyển bánh xe. Bánh xe đưa chiếc xe tình thương và trí tuệ chuyên chở chúng sanh đến nơi an toàn. Bánh xe chánh pháp xoay chuyển mở ra không gian của tình thương rộng lơn . Mời thỉnh chư Phật chuyển bánh xe chánh pháp là xin Phật khai triển Pháp giới cho chúng sanh nương trú. Chúng ta cùng nhau mời gọi bao con tim mở rộng tình thương tạo nên một thế giới nhân bản và mẫn cảm hơn với nỗi đau của tha nhân. Thỉnh chuyển pháp luân là MỞ RỘNG VÒNG TAY TỪ ÁI.

7. Thỉnh Phật Trụ Thế (Pleading Buddha to remain in the world): tất cả những việc làm của chúng ta sẽ thiếu chân chánh nếu không có sự hướng đạo của Phật tánh. Khi không nương theo Phật tánh thì mọi sự dù tốt trên hình thức cũng dễ dàng thành ma sự. Chúng ta thỉnh Phật hiển hiện sáng ngời trong tâm ta và hướng dẫn ta trên con đường Bồ Tát Đạo. Thỉnh Phật trụ thế cũng là thỉnh những vị Phật tương lai đến với chúng ta. Những thiện nguyện viên, bảo trợ viên là những vị Bồ Tát cùng chung sức với Hội Từ Thiện Phổ Hiền xoa dịu nổi đau của tha nhân và giúp họ hành trang và công cụ Phật pháp để thành công trên đường đời. Thỉnh Phật trụ thế vì vậy là LÀM VIỆC VỚI PHẬT TÂM HẰNG HỮU TRONG SÁNG.

8. Thường tùy Phật học (Persistent in pursuing the Path): Trên bước đường thực hành Bồ Tát Đạo, chúng ta luôn trao dồi giáo lý về Tình thương, Lòng vị tha, và Tâm giác ngộ. Khi làm việc nhiều, chúng ta dễ sao lãng việc thực tập và dễ bị rơi vào tâm lý giãi đãi, lệ thuộc vào người khác. Thường tùy Phật học là tự giác nổ lực VUN BỒI HẠT GIỐNG PHẬT.

9. Hằng thuận chúng sanh (Flexibly and skillfully helping all sentient beings): Bồ Tát hằng thuận chúng sanh bằng cách hóa hiện ra vô sô thân hình khác nhau cho phù hợp vơi hoàn cảnh và địa vị của họ để giáo hóa và cứu trợ chúng sanh. Cũng như vậy, hành giả và thiện nguyện viên của Phổ Hiền trong mọi hình sắc và vai trò của mình, không phân biệt giàu nghèo, địa vị, đều có thể dấn thân làm lợi ích an vui cho người. Hằng thuận chúng sanh là TRIỂN KHAI PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO.

10. Phổ Giai Hồi Hướng (sharing merits universally): Hồi hướng là mang ra san sẻ phước báo của mình đến muôn loài. Trong Phật giáo, phước báo đóng vai trò quan trọng. Phước báo có hữu lậu và vô lậu. Chẳng hạn như làm việc thiện, bố thí cúng dường, thì sanh nhân giàu sang, nhưng được giàu sang rồi mà không lo tu thì cũng bị sa đọa . Hồi hướng là chia sẽ phước báo đến người. Khi chúng ta giàu mà xung quanh chỉ toàn những người nghèo, thì thử hỏi có vui gì? Khi đó, loạn tặc sẽ khắp nơi, ai ai cũng nơm nớp lo sợ, môi trường bị ô nhiễm, dù giàu mà vẫn phải hít bụi bặm và uống nước ô nhiễm thì đâu phải là hạnh phúc hoàn toàn . Hồi hướng là đem công đức mà mình tạo được gieo duyên lành để tương lai có một cuộc sống an lành sung túc biết hướng thiện, làm lành, và luôn giữ được tâm Bồ Đề. Hồi hướng còn là bỏ tâm tham chấp muốn giữ hết phước cho mình hay chấp thấy đo lường công quả hơn thua. Hồi hướng là tạo ra pháp giới rộng lớn cho mình trong hiện tại và mai sau, là SỐNG VỚI TÂM RỘNG RÃI.

Tóm lại, 10 nguyện lớn của đức Phổ Hiền là kim chỉ nam hướng dẫn đời sống tu học và làm việc cho Hội Từ Thiện Phật Giáo Phổ Hiền. Nó cũng là chìa khóa để đi đến hạnh phúc và giải thoát cho mình và cho người. Chúng ta hãy thể nghiệm 10 hạnh nguyện này trong cuộc sống và Phật sự từ thiện xã hội để mang an vui lợi lạc đến cho mình và người.



Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát

Các Đại Nguyện Của Đức Phật Và Bồ Tát


Các Đại Nguyện Của Đức Phật Và Bồ Tát


Đại Nguyện Của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát


“Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho các chúng sanh được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật đạo”.


Nếu chưa độ hết chúng sanh,
nguyện không chứng quả Bồ đề,
và nếu sự thọ khổ trong địa ngục hãy còn ,
thì thề không thành Phật
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát!




25 ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT




1. Công đức tôi cúng dường Phật, Tăng và những hạnh nghiệp tu tập thanh tịnh của tôi đó , nay xin hồi hướng về đạo Vô thượng Bồ Đề , nguyện trải hằng sa kiếp tu hạnh Bồ Tát , đặng hóa độ chúng sanh , chớ tôi chẳng vì lợi ích một mình mà cầu mau chứng đạo quả .





2. Tôi nguyện hóa độ hết thảy mọi loài chúng sanh ở các thế giới trong mười phương đều phát tâm cầu đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, giữ gìn tâm Bồ Đề cho bền chắc , và khuyến hóa theo môn Lục Độ .

3. Tôi nguyện giáo hóa vô số chúng sanh ở các thế giới đều đặng thành Phật thuyết Pháp trước tôi , và trong khi thuyết Pháp , làm sao cho tôi đều xem thấy tất cả .



4. Tôi nguyện trong khi tu Bồ Tát đạo , làm đặng vô lượng việc Phật , và sanh ra đời nào cũng tu theo đạo ấy cả .



5. Bao nhiêu chúng sanh của tôi dạy dỗ đều đặng thanh tịnh, như các người đã có tu phép thiền định ở cõi Phạm Thiên , tâm ý không còn điên đảo . Nếu đặng các kẻ chúng sanh như vậy sanh về cõi tôi , thì khi ấy tôi mới thành đạo .


6. Tôi nguyện đem các món hạnh nguyện mà cầu đặng cõi Phật trang nghiêm và nguyên hết thảy các cõi Phật đều hiệp chung lại thành một thế giới của tôi .

Đường giới hạn xung quanh trong cõi ấy đều dùng những chất : vàng , bạc , ngọc lưu li , pha lê , xa cừ , xích châu và mã não , mà xây đắp cho cao lên đến cõi Phạm Thiên , còn mặt đất thì toàn là ngọc lưu ly tất cả .

Trong cõi ấy không có các món đất cát , buị bặm , chông gai , dơ dáy , và không có những sự cảm xúc , thô ác , và xấu xa , cũng không có những người đàn bà và tên hiệu của người đàn bà .


7. Hết thảy chúng sanh đều hóa sanh , chớ không phải bào thai trong bụng mẹ như các cõi khác , và hằng tu tập các pháp thiền định, vui đẹp tự nhiên , chớ không cần phải ăn uống những đồ vật chất .


8. Trong cõi tôi không có người Tiểu thừa , Thanh Văn và Duyên Giác . Thảy đều là các bực Bồ Tát , căn tánh cao thượng , tâm trí sáng suốt , người nào cũng đã xa lìa mọi sự tham lam , hờn giận , ngu si , và đã tu đặng các môn phạm hạnh cả .


9. Trong khi chúng sanh sanh về cõi tôi , thì tự nhiên đủ tướng mạo Tỳ khưu , đeêu có cạo tóc và đắp y một cách chỉnh đốn cả .


10. Chúng sanh trong cõi tôi muốn ăn , thì tự nhiên có bình bát thất bảo cầm ở nơi tay và đủ các món đồ ăn ngon đẹp đầy bát . Khi ấy lại nghĩ rằng : Chúng ta chớ nên dùng những đồ này , nguyện đem bố thí ; trước hết dâng cúng cho các Đức Phật , Bồ tát , Thanh Văn , và Duyên Giác , sau nữa thì chúng sanh nghèo hèn và các loài Ngạ quỉ đói khát đều dùng no đủ . Còn phần chúng đẹp, tức là món ăn .


11. Mọi người suy nghĩ như vậy , liền đặng pháp Tam Muội , gọi là “Bất Khả Tư Nghị Hạnh” . Có sức thần thông , dạo đi tự tại , không có sự gì ngăn ngại tất cả . Độ trong giây phút , mọi người được dạo khắp các thế giới mà cúng dường Phật , bố thí và diễn thuyết các Pháp cho chúng sanh nghe rồi trở về nước thì vừa đúng bữa ăn .


12. Tôi nguyện trong thế giới của tôi không có tám món chướng nạn và các sự khổ não , cũng không có những người phá hư giới luật .


13. Tôi nguyện trong thế giới ấy có nhiều món châu báu rất lạ lung và không cần gì phải dùng đến ánh sáng của mặt trời và mặt trăng . Các vị Bồ Tát tự nhiên xung quanh thân thể có hào quang sáng chói , soi khắp các nơi , thường chiếu luôn không có ngày đêm , chỉ xem lúc nào bong nở thì cho là ban ngày lúc nào bong xếp lại cho là ban đêm mà thôi . Còn khí hậu thường điều hòa , không nóng quá và không lạnh quá .


14. Nếu có vị Bồ Tát nào bổ xứ làm Phật các cõi khác , thì trước hết ở nơi cõi tôi , rồi đến cung trời Đâu Suất , sau mới giáng sanh đến cõi ấy .


15. Tôi nguyện hóa độ chúng sanh đều thành Phật hết rồi , tôi mới hiện lên hư không mà nhập diệt .


16. Trong lúc tôi nhập diệt thì có nhiều món âm nhạc tự nhiên kêu vang đủ pháp mầu nhiệm và các vị Bồ Tát nghe đều tỏ đặng các lẽ huyền diệu .


17. Thưa Đức Thế Tôn ! Tôi nguyên khi làm Bồ Tát mà dạo trong các cõi Phật , xem thấy những thức trang nghiêm những châu báu , những hình trạng, những xứ sở , và những hạnh nguyện của Chư Phật, thì tôi đều cầu đặng thành tựu tất cả .


18. Tôi nguyện các vị Đẳng Giác Bồ Tát đều ở trong cõi tôi mà đợi đến thời kỳ sẽ bổ xứ làm Phật , chớ không thọ sanh các cõi nào khác nữa . Nếu có vị nào muốn đến cõi khác thành Phật mà hóa độ chúng sanh , thì tùy theo ý nguyện .


19. Thưa Đức Thế Tôn ! Trong khi tôi tu đạo Bồ tát , nguyện đặng cõi Phật rất tốt đẹp nhiệm mầu . Các vị Bồ Tát phát Bồ Đề tâm , tu Bồ Tát hạnh, mà đặng bự bổ xứ thành Phật, đều sanh về trong cõi tôi cả .


20. Thưa Đức Thế Tôn ! Tôi nguyện đặng như vậy , tôi mới thành Phật , và nguyện ngồi khoanh chân trên tọa Kim cang ở dưới cây Bồ Đề , trong giây lát chứng thành chánh giác.


21. Khi thành Phật rồi , tôi biến hóa Phật và các vị Bồ Tát , nhiều như số cát sông Hằng , đặng dạo các thế giới mà hóa độ chúng sanh , giảng dạy các phép nhiệm mầu và khiến cho hết thảy nghe pháp rồi đều phát Bồ Đề tâm , cho đến khi thành đạo cũng không đổi dời tâm trí .


22. Khi tôi thành Phật rồi , chúng sanh ở trong các cõi nếu thấy đặng tướng tốt của tôi , hằng in nhớ trong tâm luôn luôn , cho đến khi thành đạo cũng không quên .


23. Tôi nguyện chúng sanh trong cõi tôi , người nào cũng đủ căn thân toàn vẹn , không thiếu món gì . Nếu các vị Bồ Tát muốn xem thấy tướng tôi , hoặc nằm , hoặc ngồi , hoặc đứng , hoặc đi, thì đêu thấy đặng cả . Khi thấy rồi , liền phát Bồ Đề tâm , và lại trong lúc thấy tôi , những sự hoài nghi về đạo Pháp tự nhiên hiểu biết đặng cả , không cần phải đợi tôi giải quyết nữa .


24. Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi , thì tôi đặng thọ mạng vô cùng vô tận , không kể xiết . Còn các vị Bồ tát trong cõi tôi cũng đặng sống lâu như vậy .


25. Trong lúc tôi thành Phật , có vô số Bồ tát đủ tướng mạo Tỳ Khưu, người nào cũng cạo đầu , đắp y , cho đến khi nhập Niết bàn thì những tóc không khi nào để mọc dài , và những y cũng không khi nào đổi bận như đồ người thế tục .

Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát!




12 Đại Nguyện Của Đức Phật Dược Sư



Nguyện thứ nhất: Ta nguyện đời sau, khi chứng đặng đạo chánh đẳng chánh giác, thân ta có hào quang sáng suốt, rực rỡ, vô biên thế giới, khiến cho tất cả chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy.
Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhựt nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả.
Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ vật dụng, chớ không cho ai phải chịu sự thiếu thốn.
Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ đề, hoặc có những người tu hành theo hạnh Thinh văn, Ðộc giác, thì ta cũng lấy phép đại thừa mà dạy bảo cho họ.
Nguyện thứ năm: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì ta khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.
Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn, không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, diên cuồng, chịu tất cả những bệnh khổ ấy mà sinh lòng khi đã nghe danh hiệu ta thì liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bịnh khổ ấy nữa.
Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ nghe danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề.
Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề.
Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần họ tu tập theo các hạnh Bồ tát đặng mau chứng đạo chánh đẳng Bồ đề.
Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào mà pháp luật nhà Vua gia tội phải bị xiềng xích, đánh đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bức rức, hễ nghe đến danh hiệu ta, thì nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy.
Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tạo miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyên niệm thọ trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm mầu kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn.

Nguyện thứ mười hai: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào nghèo đến nổi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh giải dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn: nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi thơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả.
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật!



48 Đại Nguyện Của Đức Phật A Di Đà





1. Lúc tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


2. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chán giác.


3. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


4. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


5. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


6. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


7. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


8. Giả sư khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


9. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


10. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


11. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


12. Lúc tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


13. Lúc tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


14. Lúc tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


15. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


16. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà cón nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


17. Lúc tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


18. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


19. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


20. Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


21. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


22. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


23. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


24. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


25. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


26. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


27. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


28. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


29. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


30. Lúc tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


31. Lúc tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


32. Lúc tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


33. Lúc tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


34. Lúc tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


35. Lúc tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


36. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


37. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


38. Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợ tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


39.Lúc tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


40. Lúc tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


41. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


42. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


43. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


44. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


45. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


46. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


47. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.


48. Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật!





12 Đại Nguyện Của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm



Nguyện Thứ Nhất: Khi thành Bồ Tát
Danh hiệu tôi: Tự Tại Quán Âm
Mười hai lời nguyện cao thâm
“Nghe tiếng cứu khổ” Quán Âm thề nguyền.


Nguyện Thứ Hai: Không nài gian khổ
Quyết một lòng cứu độ chúng sanh
Luôn luôn thị hiện biển đông
Vớt người chìm đắm, khi dông gió nhiều.

Nguyện Thứ Ba: Ta Bà ứng hiện
Chốn U Minh nhiều chuyện khổ đau
Oan oan tương báo hại nhau
Nghe tiếng than thở, mau mau cứu liền.

Nguyện Thứ Tư: Hay trừ yêu quái
Bao nhiêu loài ma quỉ gớm ghê
Độ cho chúng hết u mê
Dứt trừ nguy hiểm, không hề nhiễu nhương.

Nguyện Thứ Năm: Tay cầm Dương Liễu
Nước cam lồ rưới mát nhân thiên
Chúng sanh điên đảo, đảo điên
An vui mát mẻ, ưu phiền tiêu tan.


Nguyện Thứ Sáu: Thường hành bình đẳng
Lòng từ bi thương xót chúng sanh
Hỷ xả tất cả lỗi lầm
Thường hành bình đẳng, chúng sanh mọi loài.


Nguyện Thứ Bảy: Dứt ba đường dữ
Chốn ngục hình, ngạ quỉ, súc sanh
Cọp beo . . ., thú dữ vây quanh
Quán Âm thị hiện, chúng sanh thoát nàn.


Nguyện Thứ Tám: Giải thoát còng la
Nếu tội nhân sắp bị khảo tra
Thành tâm lễ bái thiết tha
Quán Âm phò hộ, thoát ra nhẹ nhàng.


Nguyện Thứ Chín: Cứu vớt hàm linh
Trên con thuyền Bát Nhã lênh đênh
Bốn bề biển khổ chông chênh
Quán Âm độ hết, đưa lên Niết Bàn.


Nguyện Thứ Mười: Tây Phương tiếp dẫn
Tràng hoa thơm, kỹ nhạc, lộng tàn
Tràng phan, bảo cái trang hoàng
Quán Âm tiếp dẫn, đưa đàng về Tây.


Nguyện Thứ Mười Một: Di Đà thọ ký
Cảnh Tây Phương, tuổi thọ khôn lường
Chúng sanh muốn sống miên trường
Quán Âm nhớ niệm, Tây Phương mau về.


Nguyện Thứ Mười Hai: Tu hành tin tấn
Dù thân nầy tan nát cũng đành
Thành tâm nghiêm chỉnh thực hành
Mười hai câu nguyện độ sanh đời đời.




Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát!






10 Đại Nguỵên Của Đức Phổ Hiền Bồ Tát



Nhứt giả lễ kính chư Phật
Nhị giả xưng tán Như Lai
Tam giả quảng tu cúng dường
Tứ giả sám hối nghiệp chướng
Ngũ giả tùy hỷ công đức
Lục giả thỉnh chuyển pháp luân
Thất giả thỉnh Phật trụ thế
Bát giả thường tùy Phật học
Cửu giả hằng thuận chúng sanh
Thập giả phổ giai hồi hướng



Đại Nguyện Của Chuẩn Đề Vương Bồ Tát




Ngài Chuẩn Đề Vương Bồ Tát có lời đại nguyện rằng:



Nguyện hộ trì Phật pháp và hộ mạng cho những chúng sanh nào trí tuệ kém cỏi, nghiệp chướng sâu dày, thân nhiều tật bệnh, và thọ mạng ngắn ngủi...

Nam Mô Chuẩn Đề Vương Bồ Tát!

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

PHỔ HIỀN BỒ TÁT Từ Huấn




TÔN SƯ

(PHỔ HIỀN BỒ TÁT Từ Huấn)






Tam giáo Thánh Nhân, các đế vương cổ đại chẳng có ai là không có thầy. Phổ độ lần này, những người tiến đạo cũng có vị thầy truyền đạo ( nhân sư, thiên sư ). Phụ mẫu sanh thân, thế nhưng chẳng thể liễu đoạn sanh tử thay cho; [Thầy truyền đạo, độ cứu tánh mệnh] , ân thầy nặng sâu. Người mà tôn sư thì là đang kính người ấy có đạo. Nếu tuổi tác của thầy nhỏ hơn mình, học chẳng bằng mình, công danh chẳng bằng mình, lời nói chẳng hơn mình, độ lượng chẳng cao hơn mình, nếu đã nhận được sự khai thị dẫn bảo thì phải tôn kính. Nếu tuổi tác của thầy lớn hơn mình, học thức, công danh, sự độ lượng … đều nhận được sự kính phục ! Vậy thì việc tôn kính đương nhiên là điều tất nhiên chẳng cần nói.






Cách nói về sự tôn sư :



1. Phải tâm thành ý thật, không được lừa gạt
2. Phải cẩn thận lời nói, không được cãi lại
3. Phải lễ phép chu đáo, không được khinh mạn

Ngoài trừ 3 điểm trên, những việc trong đạo trường cũng phải tuân thầy, nghiêm túc chẳng khước từ gian khổ vất vả đi bàn cho tốt, có lỗi sai thì thụ quy sửa lỗi. Cái lớn của việc tôn sư là thay thầy khai hoang, dẫn độ các Nguyên Nhơn, tuyệt chẳng cảm thấy khổ thì công là lớn đấy.

Kế đến, phải nhận rõ đại ý trong đạo, phải hiển thị lợi ích trong đạo, dùng lời lẽ hộ trì, đấy cũng là việc tôn sư. [Nếu gặp phải việc có ma khảo, trước tiên phải nghĩ cách bảo toàn, cẩn thận thủ hộ cái đúng]. Chẳng phô bày khuyết điểm của thầy, chẳng biểu lộ tuyên dương những ưu điểm của bản thân. Sư trưởng có lỗi thì ông trời giám sát, chẳng liên quan với hậu học thì cũng chẳng liên lụy được con; chỉ cần trọng đạo tôn sư thì thần tất ghi công, tuyệt đối sẽ không cô phụ để cho con chịu thiệt thòi.



Trong đạo trường, điều kị nhất là sự tự ngã tự đại, chẳng có tôn ti trật tự tôn kính, bới móc thị phi của đạo thân, bàn luận những thị phi tốt xấu, lôi kéo dụ dỗ đạo thân về phía mình, tự lập môn hộ phái biệt], những cái này chắc chắn chịu sự khảo sát nghiêm trọng của ông trời, uổng phí việc tiến đạo tu đạo, tự chiêu ma nghiệt, những người như vậy chẳng có đạo có thể tu, cuối cùng cũng chẳng cách nào thành đạo, tâm phải cẩn thận đấy.



Rất nhiều nam nữ mới vào cửa đạo, dựa theo pháp mà hành trì; lâu rồi oan nghiệt phó thân ( nhập vào người ) , dần dần sanh bệnh nghi, dần dần mệt mỏi biếng nhác, xem thường đại đạo, khinh đạo thì tất nhiên khinh thầy, khinh thầy thì chắc chắn phản bội lại thầy, phần nhiều quay trở về sự đọa lạc.



Những Tình Huống Khi Sư ( phản bội lại thầy ) : do bị trách phạt, nhẫn chịu không nổi, nổi giận khinh thầy; do dành công đoạt quả, nói rằng thầy có hành vi thiên vị, cho nên đổi lòng mà phản bội thầy; do tham tiền tài, gạt lấy công đức, đi ngược lại lương tâm mà phụ bạc thầy; do tánh tình cao ngạo, tánh tình lập dị, cậy thế mà phản bội lại thầy, do mưu đồ riêng tư không thể thuận lợi đạt thành như ý, âm thầm sanh lòng oán hận, ngụy tạo mà phản bội lại thầy; do hư giả dụ gạt, cố ý tạo tác bày vẽ đủ kiểu mà phản bội thầy; do bị khảo, chuốc lấy sóng gió thị phi, hối hận thoái rút mà quay lưng lại với thầy …. Đủ thứ các nghiệt chướng, kể mãi chẳng hết được, [khi sư chính là khi tâm, khi tâm chính là khi trời, tất chịu sự trừng phạt của ông trời.



Trước mắt quần ma tạp loạn, quấy rầy gây nhiễu đến mức tâm mắt hoa mờ, chẳng biết thế nào là tốt. Những nam nữ ở trên đạo trường vẫn [phải trọng đạo tôn sư thì mới không dẫn đến việc lạc mê ở tiền đồ bị các oan nghiệt sai khiến], tín tà chiêu ma, phản bội thiên mệnh, vi phạm đi ngược lại tâm nguyện, đoạn mất con đường phản bổn hoàn nguyên; càng không được quay lưng bỏ sư bỏ tổ, kết cái duyên của bọn ma, tin vào những việc của bọn ma; phải xác lập tâm chí, kính trọng sư tôn, dựa theo pháp mà tu trì.