Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Dạy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Dạy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

PHỔ HIỀN BỒ TÁT Từ Huấn




TÔN SƯ

(PHỔ HIỀN BỒ TÁT Từ Huấn)






Tam giáo Thánh Nhân, các đế vương cổ đại chẳng có ai là không có thầy. Phổ độ lần này, những người tiến đạo cũng có vị thầy truyền đạo ( nhân sư, thiên sư ). Phụ mẫu sanh thân, thế nhưng chẳng thể liễu đoạn sanh tử thay cho; [Thầy truyền đạo, độ cứu tánh mệnh] , ân thầy nặng sâu. Người mà tôn sư thì là đang kính người ấy có đạo. Nếu tuổi tác của thầy nhỏ hơn mình, học chẳng bằng mình, công danh chẳng bằng mình, lời nói chẳng hơn mình, độ lượng chẳng cao hơn mình, nếu đã nhận được sự khai thị dẫn bảo thì phải tôn kính. Nếu tuổi tác của thầy lớn hơn mình, học thức, công danh, sự độ lượng … đều nhận được sự kính phục ! Vậy thì việc tôn kính đương nhiên là điều tất nhiên chẳng cần nói.






Cách nói về sự tôn sư :



1. Phải tâm thành ý thật, không được lừa gạt
2. Phải cẩn thận lời nói, không được cãi lại
3. Phải lễ phép chu đáo, không được khinh mạn

Ngoài trừ 3 điểm trên, những việc trong đạo trường cũng phải tuân thầy, nghiêm túc chẳng khước từ gian khổ vất vả đi bàn cho tốt, có lỗi sai thì thụ quy sửa lỗi. Cái lớn của việc tôn sư là thay thầy khai hoang, dẫn độ các Nguyên Nhơn, tuyệt chẳng cảm thấy khổ thì công là lớn đấy.

Kế đến, phải nhận rõ đại ý trong đạo, phải hiển thị lợi ích trong đạo, dùng lời lẽ hộ trì, đấy cũng là việc tôn sư. [Nếu gặp phải việc có ma khảo, trước tiên phải nghĩ cách bảo toàn, cẩn thận thủ hộ cái đúng]. Chẳng phô bày khuyết điểm của thầy, chẳng biểu lộ tuyên dương những ưu điểm của bản thân. Sư trưởng có lỗi thì ông trời giám sát, chẳng liên quan với hậu học thì cũng chẳng liên lụy được con; chỉ cần trọng đạo tôn sư thì thần tất ghi công, tuyệt đối sẽ không cô phụ để cho con chịu thiệt thòi.



Trong đạo trường, điều kị nhất là sự tự ngã tự đại, chẳng có tôn ti trật tự tôn kính, bới móc thị phi của đạo thân, bàn luận những thị phi tốt xấu, lôi kéo dụ dỗ đạo thân về phía mình, tự lập môn hộ phái biệt], những cái này chắc chắn chịu sự khảo sát nghiêm trọng của ông trời, uổng phí việc tiến đạo tu đạo, tự chiêu ma nghiệt, những người như vậy chẳng có đạo có thể tu, cuối cùng cũng chẳng cách nào thành đạo, tâm phải cẩn thận đấy.



Rất nhiều nam nữ mới vào cửa đạo, dựa theo pháp mà hành trì; lâu rồi oan nghiệt phó thân ( nhập vào người ) , dần dần sanh bệnh nghi, dần dần mệt mỏi biếng nhác, xem thường đại đạo, khinh đạo thì tất nhiên khinh thầy, khinh thầy thì chắc chắn phản bội lại thầy, phần nhiều quay trở về sự đọa lạc.



Những Tình Huống Khi Sư ( phản bội lại thầy ) : do bị trách phạt, nhẫn chịu không nổi, nổi giận khinh thầy; do dành công đoạt quả, nói rằng thầy có hành vi thiên vị, cho nên đổi lòng mà phản bội thầy; do tham tiền tài, gạt lấy công đức, đi ngược lại lương tâm mà phụ bạc thầy; do tánh tình cao ngạo, tánh tình lập dị, cậy thế mà phản bội lại thầy, do mưu đồ riêng tư không thể thuận lợi đạt thành như ý, âm thầm sanh lòng oán hận, ngụy tạo mà phản bội lại thầy; do hư giả dụ gạt, cố ý tạo tác bày vẽ đủ kiểu mà phản bội thầy; do bị khảo, chuốc lấy sóng gió thị phi, hối hận thoái rút mà quay lưng lại với thầy …. Đủ thứ các nghiệt chướng, kể mãi chẳng hết được, [khi sư chính là khi tâm, khi tâm chính là khi trời, tất chịu sự trừng phạt của ông trời.



Trước mắt quần ma tạp loạn, quấy rầy gây nhiễu đến mức tâm mắt hoa mờ, chẳng biết thế nào là tốt. Những nam nữ ở trên đạo trường vẫn [phải trọng đạo tôn sư thì mới không dẫn đến việc lạc mê ở tiền đồ bị các oan nghiệt sai khiến], tín tà chiêu ma, phản bội thiên mệnh, vi phạm đi ngược lại tâm nguyện, đoạn mất con đường phản bổn hoàn nguyên; càng không được quay lưng bỏ sư bỏ tổ, kết cái duyên của bọn ma, tin vào những việc của bọn ma; phải xác lập tâm chí, kính trọng sư tôn, dựa theo pháp mà tu trì.

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2020

Phật Giảng Chân Tâm




🌼Đây là toàn bài chú lăng nghiêm tiếng phạn:
https://www.youtube.com/watch?v=e6qQKGjpA3o


🌼Đây là toàn bài chú lăng nghiêm tiếng VIỆT - THẦY TỤNG:
https://www.youtube.com/watch?v=gfWoojL-vm4


🌼Đây là toàn bài chú lăng nghiêm tiếng VIỆT (PHẬT TỬ MAI ĐỨC CHÍNH TỤNG tại gia) :
https://www.youtube.com/watch?v=5s7KGiKKUNs


🌼Đây là bài Tâm chú lăng nghiêm tiếng VIỆT (PHẬT TỬ MAI ĐỨC CHÍNH TỤNG tại gia) :
https://www.youtube.com/watch?v=nuyC5y0UQlg


🌼Đây là bài Tâm chú lăng nghiêm tiếng VIỆT (PHẬT TỬ MAI ĐỨC CHÍNH TỤNG tại gia) :
https://www.youtube.com/watch?v=vZXKFWNiZXo&t=1s


🌼Đây là bài Tâm chú lăng nghiêm tiếng VIỆT (PHẬT TỬ MAI ĐỨC CHÍNH TỤNG tại gia) :
https://www.youtube.com/watch?v=iqMFvZk3aDY


🌸NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.


Phật Giảng Chân Tâm

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

Thích Duy Lực


--------------------------------------------------------------------------------

QUYỂN MỘT

Tôi nghe như vầy: Lúc bấy giờ tại tịnh xá Kỳ Hoàn thành Thất La Phiệt, Đức Phật và chúng Đại Tỳ Kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, đều là Đại A La Hán, đã ra khỏi luân hồi, đầy đủ oai nghi, giúp Phật hoằng pháp nơi các quốc độ, trì giới thanh tịnh, làm mô phạm cho tam giới, ứng hiện vô số thân, hóa độ chúng sanh đến cùng tột vị lai ra khỏi trần lao. Hàng đệ tử được phó chúc trụ trì Phật pháp gồm có: Đại Trí Xá lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà v.v... là bậc thượng thủ, và có vô số Bích Chi với môn đồ đồng đến nơi Phật cùng các Tỳ Kheo mãn hạ tự tứ. Khi ấy, mười phương Bồ Tát tuân theo lời Phật sẽ cầu Mật nghĩa, hỏi đạo để quyết nghị.

Bấy giờ, Như Lai trải tòa ngồi yên vì đại chúng trong Hội khai thị pháp chưa từng có, nghĩa lý thâm sâu, diệu âm thuyết pháp vang khắp mười phương thế giới, hằng sa Bồ Tát đều đến tụ hợp, trong đó Văn Thù Sư Lợi là bậc Thượng thủ.

Khi ấy, vua Ba Tư Nặc nhân ngày giỗ của phụ vương làm lễ trai tăng, sắm đủ các món ăn quý báu, đích thân đến thỉnh Phật và chư Đại Bồ Tát vào cung thọ trai. Trong thành còn có nhiều trưởng giả, cư sĩ khác cũng cùng ngày thiết lễ trai tăng, thỉnh Phật đến thọ cúng dường. Phật sai Văn Thù dẫn đầu chư Bồ Tát và A La Hán, chia thành nhiều nhóm, ứng lời mời đến thọ trai nơi các trai chủ. Chỉ có A Nan được vị khác mời riêng, đi xa chưa về, không kịp cùng dự với tăng chúng.

Lúc ấy, trên đường trở về, một mình A Nan chẳng có thượng tọa và A Xà Lê cùng đi, ngày đó lại không ai mời đi cúng dường, trong tâm mong cầu gặp được vị trai chủ sau cùng. Trước kia, A Nan đã từng nghe Phật quở Tu Bồ Đề và Đại Ca Diếp, là bậc A La Hán, mà người chuyên chọn khất thực nhà giàu, người chuyên chọn khất thực nhà nghèo, tâm chẳng bình đẳng, quyết tuân theo pháp bình đẳng bất nhị của Như Lai, để tránh mọi sự chê bai và nghi hoặc, trong tâm cho rằng: Đối với trai chủ, chẳng kể quý tộc hay hèn hạ, thức ăn dơ sạch, phát tâm từ bi để thành tựu cho tất cả chúng sanh đều được gieo trồng vô lượng công đức. Vừa nghĩ như vậy, tay ôm bình bát, đi từng nhà dọc theo đường phố, oai nghi nghiêm chỉnh, đúng pháp khất thực.

Lúc A Nan đang khất thực đi ngang nhà dâm, bị nàng huyễn thuật Ma Đăng Già dùng tà chú Phạm Thiên của ngoại đạo tóc vàng nhiếp vào nhà dâm, vuốt ve cám dỗ, sắp bị hoại giới thể.

Phật đã biết trước việc này, thọ trai xong, liền về, vua và đại thần, trưởng giả cư sĩ, đều đi theo Phật, xin nghe pháp yếu.

Bấy giờ, đảnh đầu Thế Tôn phóng ra hào quang bách bửu vô úy, trong hào quang nở ra bửu liên hoa ngàn cánh, trên đó có hóa thân Phật ngồi kiết già thuyết thần chú, sai Văn Thù đem chú đến cứu hộ, tà chú tiêu diệt, dắt A Nan và Ma Đăng Già về nơi Phật ở.

A Nan gặp Phật, đảnh lễ rơi lệ, hối hận xưa nay chỉ ham học rộng nghe nhiều, chưa tròn đạo lực, nay ân cần thỉnh hỏi Như Lai về phương tiện đầu tiên của ba thứ thiền quán: Sa Ma Tha (1), Tam Ma (2) và Thiền Na (3), mà mười phương Như Lai đã tu được thành chánh giác. Khi đó có hằng sa Bồ Tát và các bậc Đại A La Hán, Bích Chi Phật nơi mười phương đều xin cùng nghe, im lặng ngồi yên để lãnh thọ pháp yếu của Phật.

Khi ấy, Thế Tôn giơ tay dịu dàng rờ đầu A Nan, nói với A Nan và đại chúng:

- Có pháp Tam Ma Đề, gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, bao hàm vạn hạnh, là đường lối vi diệu trang nghiêm, cũng là pháp môn đưa đến giải thoát cuối cùng của mười phương Như Lai, nay ngươi hãy chú ý nghe.

A Nan đảnh lễ, kính vâng lời Phật dạy.

Phật bảo A Nan:

- Ngươi và ta là anh em, cùng một giống nòi, chẳng biết lúc mới phát tâm, ở nơi pháp ta, ngươi thấy tướng thù thắng gì liền xả ân ái sâu nặng của thế gian?

A Nan bạch Phật:

- Con thấy ba mươi hai tướng thù thắng tuyệt diệu của Như Lai, hình thể trong sáng như lưu ly, thường tự nghĩ tướng này chẳng phải do dục ái sanh ra. Tại sao? Vì dục ái ô nhiễm xấu xí, cấu kết tinh huyết nhơ bẩn chẳng thể sanh ra diệu tướng quang minh, thanh tịnh thù thắng như thế, do đó nên khâm mộ theo Phật xuất gia.

Phật nói:

- Lành thay! A Nan, các ngươi nên biết, tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, sanh tử liên tục, chỉ vì chẳng biết chơn tâm thường trụ, thể tánh trong sạch sáng tỏ, lại nương theo vọng tưởng, vọng tưởng chẳng chơn nên có luân hồi. Mười phương chư Phật cùng một đạo lìa khỏi sanh tử đều do trực tâm, vì tâm hạnh và lời nói ngay thẳng, như thế từ đầu đến cuối, cho đến các ngôi bậc, ở khoảng giữa chẳng có các tướng quanh co.

- Nay ngươi muốn tham cứu vô thượng Bồ Đề, phát minh chơn tánh, hãy trực tâm mà trả lời câu hỏi của ta. A Nan, nay ta hỏi ngươi: lúc ngươi phát tâm duyên theo ba mươi hai tướng của Như Lai, lấy gì để thấy? Ai biết sự ham thích?

- Bạch Thế Tôn, dùng tâm và mắt của con thấy tướng thù thắng của Như Lai, sanh lòng ham thích nên phát tâm, nguyện xả bỏ sanh tử.

Phật bảo:

- Như ngươi vừa nói, sự ham thích do nơi tâm và mắt. Nếu chẳng biết tâm và mắt ở đâu thì chẳng thể hàng phục được trần lao; ví như đất nước có giặc, vua sai binh dẹp trừ, binh lính tất phải biết sào huyệt của giặc. Khiến ngươi bị luân chuyển ấy là lỗi tại tâm và mắt. Ta hỏi ngươi: Tâm và mắt của ngươi hiện đang ở đâu?
BẢY CHỖ GẠN HỎI TÌM TÂM

Phá chấp tâm ở trong thân

- Bạch Thế Tôn! Tất cả mười loại chúng sanh trên thế gian đều cho tâm thức ở trong thân. Nay con nhận được mắt con ở trên mặt con và tâm thức ở trong thân, như mắt Thanh Liên Hoa của Như Lai ở trên mặt Như Lai vậy.

Phật bảo:

- A Nan! Nay ngươi ngồi trong giảng đường của Như Lai, nhìn thấy rừng Kỳ Đà ở chỗ nào?

- Bạch Thế Tôn! Giảng đường rộng rãûi thanh tịnh này trong vườn Cấp Cô Độc, còn rừng Kỳ Đà thì ở ngoài giảng đường.

- A Nan! Bây giờ ngươi ở trong giảng đường trước tiên thấy gì?

- Bạch Thế Tôn! Con ở trong giảng đường trước thấy Như Lai, sau thấy đại chúng, rồi nhìn ra ngoài mới thấy rừng cây.

- A Nan! Ngươi thấy rừng cây, do nhân nào được thấy?

- Bạch Thế Tôn! Vì cửa sổ giảng đường mở trống nên con ở trong thấy suốt bên ngoài.

Phật bảo A Nan:

- Như ngươi vừa nói, thân ở trong giảng đường, nhờ cửa mở trống nên thấy rừng cây; mà có chúng sanh nào ở trong giảng đường chẳng thấy Như Lai, lại thấy rừng cây bên ngoài chăng?

- Bạch Thế Tôn! Ở trong giảng đường chẳng thấy Như Lai, lại thấy rừng cây bên ngoài thì chẳng đúng.

- A Nan! Ngươi cũng như vậy, linh tâm của ngươi tất cả sáng tỏ, nếu tâm sáng tỏ hiện tiền của ngươi thật ở trong thân thì trước tiên phải thấy rõ trong thân. Vậy có chúng sanh nào trước thấy trong thân rồi sau mới thấy vật bên ngoài chăng? Dẫu chẳng thấy được tim, gan, tỳ, vị, thì các chỗ: móng ra, tóc dài, gân chuyển cũng phải thấy chứ, sao lại chẳng thấy? Nếu trong thân còn chẳng thấy thì làm sao thấy vật bên ngoài? Cho nên ngươi nói "Cái tâm giác tri trụ ở trong thân" là chẳng đúng. (Tự tánh bất nhị, vốn chẳng có nghĩa đúng và chẳng đúng, chỉ vì trị bệnh chấp thật nên nói chẳng đúng).

Phá chấp tâm ở ngoài thân

A Nan cúi đầu bạch Phật:

- Con nghe lời dạy của Như Lai, ngộ được tâm con thật ở ngoài thân. Tại sao? Ví như đèn thắp trong phòng thì trước phải chiếu sáng trong phòng, rồi sau mới từ cửa rọi ra ngoài sân. Tất cả chúng sanh chẳng thấy trong thân, chỉ thấy ngoài thân, cũng như ngọn đèn ở ngoài phòng chẳng thể chiếu sáng trong phòng, nghĩa này rõ ràng, chẳng còn nghi ngờ, vậy so với nghĩa lý rốt ráo của Phật chẳng sai ư?

Phật bảo A Nan:

- Các Tỳ Kheo vừa theo ta khất thực trong thành rồi trở về rừng Kỳ Đà. Ta đã thọ trai xong, ngươi thử nghĩ, trong số Tỳ Kheo, chỉ một người ăn mà các vị khác được no chăng?

- Bạch Thế Tôn! Không ạ! Tại sao? Dù các Tỳ Kheo đều là bậc A La Hán, nhưng cơ thể chẳng đồng, đâu thể một người ăn mà khiến cả chúng đều no.

- A Nan! Nếu tâm giác tri của ngươi thật ở ngoài thân thì trong ngoài khác nhau, chẳng có liên quan, hễ tâm biết thì thân chẳng biết, thân biết thì tâm chẳng biết. Nay ta đưa tay cho ngươi xem, trong lúc mắt thấy, tâm ngươi biết được chăng?

- Bạch Thế Tôn! Vâng biết.

- A Nan! Nếu thân và tâm cùng biết một lượt thì sao lại nói tâm ở ngoài thân? Nên biết, ngươi nói "tâm giác tri trụ ở ngoài thân" là chẳng đúng.

Phá chấp tâm ẩn núp sau con mắt

- Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy, chẳng thấy bên trong nên chẳng ở trong thân; thân tâm cùng biết một lượt chẳng thể rời nhau nên chẳng ở ngoài thân, nay con thiết nghĩ tâm ở một chỗ.

- Ở chỗ nào?

- Tâm giác tri này đã chẳng biết trong mà thấy bên ngoài, theo con nghĩ là nó ẩn núp sau con mắt. Ví như có người lấy chén lưu ly úp vào hai mắt (ngày nay có thể nói là đeo kính), tuy có vật úp ở ngoài mà chẳng ngại nhãn căn, tùy sự thấy liền phân biệt được. Tâm giác tri của con chẳng thấy bên trong vì ở nơi con mắt, thấy rõ ràng bên ngoài vì ẩn núp sau con mắt.

Phật bảo A Nan:

- Theo lời ngươi nói, tâm núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly, vậy thì lúc thấy núi sông, mắt thấy chén lưu ly chăng?

- Bạch Thế Tôn! Thật thấy chén lưu ly.

- A Nan, con mắt núp sau chén lưu ly thì thấy được chén lưu ly; còn tâm núp sau con mắt sao chẳng thấy mắt? Dù cho là thấy mắt, mắt tức là cảnh, cảnh làm sao thấy cảnh? Nếu chẳng thấy mắt thì ngươi nói "Tâm giác tri ẩn núp sau con mắt" là chẳng đúng.

Phá chấp nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân

- Bạch Thế Tôn! Nay con lại thiết nghĩ rằng, thân thể của chúng sanh, tạng phủ ở trong, khiếu huyệt (ngũû căn) ở ngoài, nơi tạng thì tối, nơi khiếu thì sáng. Nay con ở trước mặt Phật, mở mắt thấy sáng gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối gọi là thấy trong thân, nghĩa này thế nào?

Phật bảo A Nan:

- Khi ngươi nhắm mắt thấy tối, cái cảnh tối ấy là đối với mắt hay chẳng đối với mắt?

- Nếu đối với mắt thì tối ở trước mắt, tức ở ngoài thân, sao nói ở trong thân? Giả sử cho tối là trong thân thì lúc trong phòng tối chẳng có ánh sáng, những gì trong phòng tối đều là tạng phủ của ngươi sao?

- Nếu chẳng đối với mắt thì làm sao được thấy? Nếu lìa sự thấy bên ngoài, thành lập sự thấy đối vào trong, khi nhắm mắt thấy tối gọi là thấy trong thân; vậy khi mở mắt thấy sáng sao chẳng thấy mặt?

- Lại, nếu chẳng thấy mặt thì cái nghĩa "con mắt đối vào trong" chẳng thể thành lập: nếu thấy mặt thì tâm giác tri và nhãn căn đều ở tại hư không, làm sao nói ở trong?

- Lại, nếu ở ngoài hư không thì chẳng phải thân ngươi, tức hiện nay Như Lai thấy mặt ngươi cũng là thân ngươi sao? Vậy mắt ngươi thấy biết thì thân ngươi chẳng biết. Nếu ngươi cho thân và mắt cùng biết một lượt, thì phải có hai cái biết, tức một thân ngươi phải thành hai Phật! Nên biết ngươi nói "thấy tối gọi là thấy trong thân" là chẳng đúng.

Phá chấp sự suy nghĩ là tâm

- Con đã từng nghe Phật khai thị chúng rằng: Tâm sanh nên các pháp sanh, pháp sanh nên các tâm sanh. Nay con suy nghĩ, chính cái suy nghĩ ấy là tâm của con; tùy sự suy nghĩ tâm liền có, cũng chẳng ở trong, ngoài và chính giữa.

- A Nan, ngươi nói pháp sanh nên các tâm sanh, tùy sự suy nghĩ tâm liền có. Tâm chẳng có tự thể thì chẳng thể suy nghĩ; nếu chẳng có tự thể mà suy nghĩ được thì vô căn phải thấy được vô trần, nghĩa này chẳng đúng.

Nếu có tự thể thì ngươi thử dùng tay tự búng thân mình xem, cái tâm biết của ngươi là từ trong thân ra hay từ bên ngoài ra? Nếu từ bên trong ra thì phải thấy trong thân; nếu từ bên ngoài ra thì trước tiên phải thấy mặt.

- Mắt chủ sự thấy, tâm chủ sự biết, tâm không phải như mắt, nói tâm thấy là chẳng đúng nghĩa.

Phật bảo A Nan:

- Nếu thấy là con mắt thì ngươi ở trong phòng, cửa biết thấy chăng? (phòng dụ cho thân, cửa dụ cho mắt). Như kẻ đã chết con mắt vẫn còn, lẽ ra phải thấy được vật; nếu thấy được vật thì sao gọi là chết?

- Lại, tâm hay biết của ngươi nếu thật có tự thể, là một thể hay nhiều thể? Nay nơi thân ngươi, tâm cùng khắp cơ thể hay chẳng cùng khắp?

- Nếu nói một thể, khi tay ngươi búng một chi, lẽ ra tứ chi đều biết, nếu đều biết thì chỗ búng chẳng có, nếu có chỗ búng thì chẳng phải một thể. Nếu như nhiều thể thì thành nhiều người, vậy thể nào là của ngươi?

- Nếu nói khắp cả cơ thể thì đồng như sự búng kể trên, nếu chẳng khắp thì khi ngươi rờ đầu và chân, đầu có biết chân phải không biết, nhưng hiện nay ngươi lại chẳng phải như vậy. Nên biết ngươi nói: "Tùy sự suy nghĩ tâm liền có" là chẳng đúng.

Phá chấp tâm ở chính giữa

- Bạch Thế Tôn! Khi Phật với Văn Thù và các Pháp Vương Tử luận về thật tướng, con cũng nghe Phật nói tâm chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài. Theo như con nghĩ, vì chẳng biết trong nên chẳng phải ở trong, thân tâm cùng biết một lượt nên chẳng phải ở ngoài, nay cùng biết một lượt mà chẳng thấy bên trong, tất phải ở giữa.

- Ngươi nói "ở giữa" thì cái chính giữa ấy phải rõ ràng, chẳng phải không chỗ. Theo ngươi suy xét, giữa ở chỗ nào? Ở nơi xứ (12 xứ, gồm cả lục căn, lục trần) hay ở nơi thân?

- Nếu ở nơi thân, nơi ngoài da thì chẳng phải là giữa; ở giữa thì đồng như ở trong. Nếu ở nơi xứ, là có thể nêu ra hay chẳng thể nêu ra? Nếu chẳng thể nêu ra thì đồng như không có; nếu có thể nêu ra lại chẳng định được chỗ nào. Tại sao? Ví như có người cắm cây nêu làm chính giữa, nhìn từ phương Đông thì cho cây nêu ở phương Tây, nhìn từ phương Nam thì cho cây nêu ở phương Bắc, cái thể giữa được nêu ra đã lẫn lộn thì tâm cũng thành rối loạn, chẳng rõ ở đâu.

A Nan thưa:

- Con nói "chính giữa" chẳng phải hai thứ này. Như Thế Tôn nói: Nhãn căn và sắc trần duyên nhau sanh ra nhãn thức. Nhãn căn phân biệt, sắc trần vô tri, thức sanh nơi giữa, tức là tâm vậy.

Phật bảo:

- Nếu tâm ngươi ở giữa căn trần, vậy tâm thể này gồm cả hai hay chẳng gồm? Nếu gồm cả hai thì vật và thể xen lộn, vật thì vô tri, thể thì có biết, thành hai thứ đối địch, lấy gì làm giữa? Nếu lìa biết (căn) và không biết (trần) thì chẳng có thể tánh, vậy lấy tướng nào làm chính giữa? Nên biết ngươi nói "Tâm ở chính giữa" là chẳng đúng.

Phá chấp "tất cả vô trước" là tâm

- Bạch Thế Tôn! Khi xưa con thấy Phật với bốn đại đệ tử (Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na và Xá Lợi Phất) cùng chuyển pháp luân, thường nói "cái tâm giác tri chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở giữa, chẳng ở chỗ nào cả, tất cả vô trước gọi là tâm". Vậy con vô trước, được gọi là tâm chăng?

Phật bảo A Nan:

- Ngươi nói cái tâm giác tri chẳng ở chỗ nào cả, vậy như các loài bay trên hư không, ở dưới nước và trên bờ, gọi là tất cả vật tượng nơi thế gian mà ngươi vô trước đó, là có hay không? Không thì đồng như lông rùa sừng thỏ, nói gì vô trước? Nếu có sự vô trước thì chẳng thể gọi là không. Không tướng mới không, chẳng không thì có tướng, tâm đã chấp có tướng, thì còn nói gì vô trước? Nên biết, nói "Tất cả vô trước gọi là tâm giác tri" là chẳng đúng.

Bấy giờ, A Nan ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo tay phải, quỳ gối chân phải, chắp tay cung kính bạch Phật:

- Con là em út của Như Lai, được Phật thương mến, nay dù xuất gia nhưng còn ỷ lại nơi lòng thương của Phật, chỉ ham học rộng nghe nhiều, chưa được vô lậu, chẳng uốn dẹp được tà chú, bị nhiếp vào nhà dâm, chỉ vì chẳng biết chỗ đến của Chơn Thật, kính mong Thế Tôn từ bi thương xót, khai thị cho chúng con đường lối tu thiền quán Sa Ma Tha, khiến kẻ Xiển đề xóa bỏ ác kiến.

Nói xong đảnh lễ, năm vóc gieo sát đất, cùng đại chúng khao khát kính nghe chỉ dạy.

Lúc ấy, Thế Tôn từ trên mặt phóng ra đủ thứ hào quang, sáng lạn như trăm ngàn mặt trời, chiếu khắp các thế giới Phật, khiến thành sáu thứ rung động, mười phương vô số quốc độ đồng thời hiện ra. Oai thần của Phật khiến các thế giới hợp thành một thế giới, tất cả chư Đại Bồ Tát trong thế giới đều an trụ nơi quốc độ của mình, chắp tay lắng nghe.

Phật bảo A Nan:

- Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, đủ thứ điên đảo tạo thành giống nghiệp, kết tụ nghiệp nhân thành quả luân hồi. Những người tu hành chẳng được chứng quả vô thượng Bồ Đề, trở thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành cõi trời ngoại đạo, ma vương và quyến thuộc ma, đều do chẳng biết hai thứ căn bản, tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dẫu cho trải qua nhiều kiếp cũng chẳng đắc đạo.
- Thế nào là hai thứ căn bản?

- Một là căn bản của sanh tử từ vô thỉ, tức là nay nhận tâm phan duyên làm tự tánh của ngươi và chúng sanh;

- Hai là bản thể vốn thanh tịnh của Bồ Đề Niết Bàn từ vô thỉ, tức là cái bản thức (4) vốn sáng tỏ, hay sanh các duyên mà bị các duyên che khuất thành lạc mất của ngươi. Vì chúng sanh lạc mất bản thức sáng tỏ, dù hàng ngày sống trong bản thức mà chẳng tự biết, oan uổng vào lục đạo.

- A Nan, nay ngươi muốn biết đường tu thiền quán Sa Ma Tha, mong ra khỏi sanh tử, vậy ta hỏi ngươi.

Liền đó, Như Lai giơ cánh tay sắc vàng co năm ngón tay, bảo A Nan:

- Ngươi có thấy chăng?

A Nan đáp:

- Thấy.

Phật bảo:

- Ngươi thấy cái gì?

A Nan đáp:

- Con thấy Như Lai giơ tay, co ngón tay thành nắm tay sáng ngời, chói tâm và mắt con.

Phật bảo:

- Ngươi dùng cái gì để thấy?

- Con và đại chúng đều dùng mắt thấy.

Phật bảo A Nan:

- Theo lời ngươi đáp, Như Lai co ngón tay thành nắm tay sáng ngời, chói tâm mắt của ngươi, vậy lúc nắm tay ta chói rọi, mắt ngươi thấy được, lấy gì làm tâm?

A Nan đáp:

- Nay Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào, con dùng tư tưởng suy tìm, thì cái hay suy tìm ấy, con cho là tâm.

Phật bảo:

- Sai rồi, A Nan! Cái ấy chẳng phải tâm ngươi.

A Nan giựt mình đứng dậy, chắp tay bạch Phật rằng:

- Cái ấy chẳng phải tâm con thì gọi là cái gì?

Phật bảo A Nan:

- Ấy là tướng vọng tưởng của tiền trần, mê hoặc chơn tánh của ngươi. Do ngươi xưa nay nhận giặc làm con, lạc mất bản thức chơn thường, nên bị luân chuyển.
- Bạch Thế Tôn! Con là em cưng của Phật, vì mến Phật nên xuất gia. Tâm con chẳng những cúng dường Như Lai, mà còn muốn trải khắp hằng sa quốc độ, phụng sự chư Phật và thiện tri thức, phát tâm dũng mãnh, làm những Phật sự khó làm, đều dùng tâm này; dẫu cho báng pháp, bỏ hẳn thiện căn cũng vì tâm này. Nếu Thế Tôn phát minh cái ấy chẳng phải tâm, vậy con thành không có tâm, đồng như đất gỗ, lìa giác tri này chẳng còn gì cả, sao Như Lai nói cái ấy chẳng phải tâm? Con thật kinh sợ, và cả đại chúng đều chẳng khỏi nghi hoặc, kính mong Thế Tôn rủõ lòng từ bi, khai thị cho kẻ chưa ngộ.

Bấây giờ, Thế Tôn muốn cho A Nan và đại chúng đều được chứng nhập vô sanh pháp nhẫn, nơi tòa sư tử, xoa đầu A Nan khai thị rằng:

- Như Lai thường nói: Chư pháp sở sanh, duy tâm sở hiện. Tất cả nhân quả, thế giới vi trần đều do tâm này mới thành có thể tánh. A Nan, tất cả sự vật trên thế gian, cho đến cỏ, lá, chỉ mành, cứu xét cội gốc đều có thể tánh, dẫu cho hư không cũng có danh hiệu, huống là cái tánh trong sạch sáng tỏ của tất cả tâm lại chẳng có tự thể ư? Nếu ngươi chấp thật cái tánh giác tri phân biệt cho là tâm, thì tâm này lìa tất cả sự vật lục trần phải riêng có tự thể (chẳng theo cảnh trần sanh diệt). Như ngươi hiện nay đang nghe thuyết pháp, là do âm thanh nên có phân biệt; dẫu cho diệt hết tất cả kiến, văn, giác, tri, trong giữ u nhàn, cũng còn là bóng phân biệt của pháp trần.

- Ta chẳng bảo ngươi chấp thật phi tâm, nhưng ngươi hãy xét kỹ nơi tâm: nếu lìa tiền trần mà có tự thể của tánh phân biệt, tức là chơn tâm của ngươi. Nếu tánh phân biệt lìa trần chẳng có tự thể, ấy là bóng phân biệt của tiền trần. Trần chẳng thường trụ, khi biến diệt thì tâm này đồng như lông rùa, sừng thỏ, vậy pháp thân của ngươi thành ra đoạn diệt, còn ai tu chứng vô sanh pháp nhẫn? (Cảnh trần có hai loại: đối với ngũ căn gọi là tiền trần, đối với ý căn gọi là pháp trần).

Tức thời, A Nan cùng đại chúng im lặng ngơ ngác, chẳng còn lý lẽ gì để nói nữa.

Phật bảo A Nan:

- Tất cả người tu học trên thế gian, vì chưa dứt sạch tập khí phiền não, dù đã tu đến chín bậc thiền định, chẳng thành quả A La Hán, đều do chấp trước sanh tử vọng tưởng, cho là chơn thật, nên ngươi dẫu được học rộng nghe nhiều, chẳng chứng thánh quả.

A Nan nghe rồi, lại đau xót rơi lệ, năm vóc gieo sát đất, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:

- Từ khi con phát tâm xuất gia, ỷ cậy oai thần của Phật, thường nghĩ rằng chẳng nhọc tự tu, cho rằng Như Lai sẽ ban cho tam muội, không biết thân tâm vốn chẳng thể thay thế nhau được, nên lạc mất bản tâm; thân dù xuất gia, tâm chẳng nhập đạo, như đứa con nghèo bỏ cha chạy trốn. Đến nay mới biết, dẫu cho học rộng nghe nhiều, nếu chẳng tu hành (5) thì khác gì người chẳng nghe! Cũng như nói ăn mà không ăn thì làm sao được no!

- Thế Tôn, hiện nay chúng con bị hai chướng ràng buộc (phiền não chướng và sở tri chướng), vì chẳng biết tự tánh thường tịch, mong Như Lai thương xót kẻ khốn cùng, khai phát diệu tâm, sáng tỏ đạo nhãn cho chúng con.

Lúc ấy, Như Lai từ chữ vạn ( ) trước ngực phóng ra hào quang, rực rỡ trăm ngàn màu sắc, đồng thời chiếu khắp mười phương vô số quốc độ Phật, soi khắp đỉnh đầu tất cả Như Lai trong mười phương bửu sát, rồi xoay về soi cả đầu A Nan cùng đại chúng, bảo A Nan rằng:

- Nay ta vì ngươi dựng đại pháp tràng, khiến mười phương chúng sanh đều được diệu tâm sáng tỏ, pháp nhãn thanh tịnh. A Nan, trước ngươi trả lời thấy nắm tay chói sáng, vậy cái nắm tay này do đâu mà có? Làm sao thành nắm tay? Ngươi lấy gì để thấy?

A Nan đáp:

- Do tánh thanh tịnh sáng ngời như núi báu của thân Phật sanh ra hào quang, ngón tay Phật co nắm lại thành nắm tay, chính mắt con thấy tướng nắm tay vậy.

Phật bảo A Nan:

- Hôm nay ta nói thật cho nghe: Những người có trí cũng phải nhờ thí dụ mới được khai ngộ. A Nan, ví như tay của ta, nếu chẳng có cánh tay thì chẳng thành nắm tay của ta, nếu chẳng có con mắt ngươi thì chẳng thành sự thấy của ngươi. Vậy lấy nhãn căn của ngươi so với nắm tay của ta, hai nghĩa giống nhau chăng?

- Bạch Thế Tôn! Vâng giống. Nếu chẳng có con mắt thì chẳng thành sự thấy của con, vậy đem nhãn căn của con so với nắm tay của Như Lai, hai nghĩa giống nhau.

Phật bảo A Nan:

- Ngươi nói giống nhau, nghĩa này chẳng đúng. Tại sao? Như người không có cánh tay thì tuyệt nhiên chẳng có nắm tay, nhưng người không có mắt thì chẳng phải không thấy. Vì sao? Ngươi thử hỏi người mù có thấy gì chăng? Người ấy ắt sẽ trả lời: "Nay trước mắt tôi chỉ thấy tối đen, chẳng còn thấy gì khác". Xét theo nghĩa này thì tiền trần tự tối, sự thấy đâu có giảm bớt!

A Nan nói:

- Những người mù trước mắt chỉ thấy tối đen, sao gọi là thấy?

Phật bảo A Nan:

- Người mù không có mắt, chỉ thấy tối đen, so với người có mắt ở trong phòng tối, cũng chỉ thấy tối đen, hai thứ tối đen ấy có khác hay chẳng khác?

- Bạch Thế Tôn! Thật chẳng có khác.

- A Nan, nếu người không có mắt, thấy toàn tối đen, bỗng được mắt sáng, liền thấy các sắc tướng trước mắt, gọi là "mắt thấy", người ở trong phòng tối cũng toàn thấy tối đen, bỗng được đèn sáng, cũng thấy các sắc tướng trước mắt, thì phải gọi là "đèn thấy". Nếu đèn có thấy thì chẳng được gọi là đèn, lại đèn thấy thì có dính dáng gì đến ngươi? Vậy biết, đèn chỉ có tác dụng hiển hiện sắc tướng, sự thấy là mắt, chẳng phải đèn; mắt chỉ có tác dụng hiển hiện sắc tướng, sự thấy là tâm, chẳng phải mắt.

A Nan và đại chúng dù nghe lời Phật nói vậy, miệng tuy im lặng, nhưng tâm vẫn chưa ngộ, mong được giảng rõ thêm, nên thành tâm chắp tay, đợi Phật dạy bảo.

Bấy giờ, Thế Tôn duỗi cánh tay sáng ngời, mở năm ngón tay, bảo A Nan và đại chúng:

- Lúc ta mới thành đạo nơi Lộc Viên, có nói với năm vị Tỳ Kheo và tứ chúng rằng: Tất cả chúng sanh chẳng thành Bồ-Đề và chứng quả A La Hán, đều tại lầm theo phiền não khách trần. Lúc đó, các ngươi do đâu được khai ngộ, nay chứng thánh quả?

Khi ấy, Kiều Trần Như đứng dậy bạch Phật:

- Con là bậc trưởng lão trong chúng được gọi là hiểu rộng biết nhiều, vì ngộ hai chữ Khách Trần nên được chứng quả. Thế Tôn, ví như người đi đường vào nghỉ ở khách sạn, ăn ngủ xong rồi lên đường đi tiếp, chẳng thể ở lại, còn người chủ thì cư trú tại đó, chẳng cần đi đâu. Vậy chẳng trụ là khách, trụ gọi là chủ, nên lấy sự "chẳng trụ" làm nghĩa chữ Khách.

- Cũng như mưa mới tạnh, ánh sáng mặt trời rọi qua kẽ hở, thấy rõ tướng bụi trần lăng xăng nơi hư không. Trần thì lay động. Hư không tịch nhiên. Vậy tịch lặng gọi là không, lay động gọi là trần, nên lấy sự "lay động" làm nghĩa chữ Trần.

Phật nói:

- Đúng thế!

Tức thời Như Lai ở trong đại chúng co năm ngón tay, nắm rồi lại mở, mở rồi lại nắm, hỏi A Nan:

- Nay ngươi thấy gì?

A Nan đáp:

- Con thấy bàn tay của Như Lai lúc mở lúc nắm.

Phật bảo A Nan:

- Ngươi thấy tay ta mở nắm, là tay ta có mở có nắm, hay cái thấy của ngươi có mở có nắm?

A Nan đáp:

- Bàn tay của Như Lai tự mở nắm, chứ chẳng phải tánh thấy của con có mở nắm.

Phật hỏi:

- Cái nào động, cái nào tịnh?

A Nan đáp:

- Tay Phật chẳng trụ, tánh thấy của con tịnh còn chẳng có, làm sao có động! (Bản kiến bất nhị, động tịnh đều chẳng nhiễm).

Phật nói:

- Đúng thế!

Liền đó, Như Lai từ trong bàn tay phóng ra một tia hào quang rọi bên phải A Nan. A Nan liền quay đầu nhìn bên phải, Phật lại phóng một tia hào quang rọi bên trái A Nan, A Nan lại quay đầu nhìn bên trái, Phật bảo A Nan:

- Đầu ngươi vì sao lại lay động?

A Nan đáp:

- Con thấy Như Lai phóng hào quang đến hai bên cạnh con, nên theo đó nhìn qua nhìn lại, đầu tự lay động.

- A Nan, ngươi nhìn theo hào quang lay động là đầu ngươi động hay cái thấy động?

- Bạch Thế Tôn! Đầu con tự động, tánh thấy của con ngưng còn chẳng có, nói gì lay động! (Bản kiến không đối đãi, động và chẳng động đều chẳng dính dáng).

Phật nói:

- Đúng thế!

Do đó, Phật bảo đại chúng rằng:

- Nếu chúng sanh cho "lay động" là trần, "chẳng trụ" là khách, các ngươi hãy xem, như A Nan đầu tự lay động mà tánh thấy chẳng động; lại tay ta tự mở nắm mà tánh thấy chẳng mở nắm. Vậy sao các ngươi hiện nay lại cho động là thân, cho động là cảnh, từ đầu đến cuối niệm niệm sanh diệt, lạc mất chơn tánh, hành theo điên đảo. Vì tâm tánh chẳng chơn, nhận vật làm mình, tự trôi lăn theo dòng sanh tử, cam chịu luân hồi

Phật bảo A Nan:

- Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, đủ thứ điên đảo tạo thành giống nghiệp, kết tụ nghiệp nhân thành quả luân hồi. Những người tu hành chẳng được chứng quả vô thượng Bồ Đề, trở thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành cõi trời ngoại đạo, ma vương và quyến thuộc ma, đều do chẳng biết hai thứ căn bản, tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dẫu cho trải qua nhiều kiếp cũng chẳng đắc đạo.
- Thế nào là hai thứ căn bản?

- Một là căn bản của sanh tử từ vô thỉ, tức là nay nhận tâm phan duyên làm tự tánh của ngươi và chúng sanh;

- Hai là bản thể vốn thanh tịnh của Bồ Đề Niết Bàn từ vô thỉ, tức là cái bản thức (4) vốn sáng tỏ, hay sanh các duyên mà bị các duyên che khuất thành lạc mất của ngươi. Vì chúng sanh lạc mất bản thức sáng tỏ, dù hàng ngày sống trong bản thức mà chẳng tự biết, oan uổng vào lục đạo.

-----------------------------------------------------------
- Căn bản của sanh tử từ vô thỉ tức chỉ chân tính vốn không sinh tử, nay chúng sinh bỏ chân tính mà nhận tâm phan duyên làm tự tánh nên bị sinh tử.
- Bản thể vốn thanh tịnh của Bồ Đề Niết bàn từ vô thỉ tức chân mệnh vốn không có duyên nghiệp, sau vì bị phân chia thành lưỡng nghi mà sinh ra duyên nghiệp tự che mờ chính nó cho nên chúng sinh phải chịu oan uổng vào trong lục đạo.
Rất rõ ràng Kinh Thủ lăng Nghiêm Phật Như Lai cũng bàn về tính mệnh.

Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017

Lời Phật dạy về chữ Tâm



MƯỜI ĐIỀU TÂM NGUYỆN

  1. Nghỉ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. 
  2. Ở đời thì đừng cầu không hoạn nạn, vi không hoạn nạn thì lòng kiêu căng nổi dậy. 
  3. Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắt, vì không khúc mắt thì sở học không thấu đáo. 
  4. Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. 
  5. Việc làm thì đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu mạn. 
  6. Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. 
  7. Với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được theo ý mình thì lòng thêm kiêu mạn. 
  8. Thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu đồ. 
  9. Thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động. 
  10. Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân qủa chưa xả.

Pê Đê Ý Trinh học Phật Pháp Căn Bản




Ý Trinh sống một cuộc đời sóng gió và Ý Trinh lĩnh hội được những lời dạy của các bạc tiền bối và Ý Trinh biết nghiệp duyên Pê Đê chính là nghiệp Huỳnh Môn mà Đức Phật đã có nói đến hàng ngàn năm trong giáo pháp mà Đức Phật răn dạy tất cả chúng sanh, từ đó Ý Trinh thức tỉnh tâm thức của chính mình và Ý Trinh khuyên cả chị em bạn bóng cũng nên Học Tập Kinh Kệ và tìm hiểu về phật pháp vì phật pháp rất là mầu nhiệm và quý báu. 

Chị em bạn bóng chúng ta rất may mắn hơn thân phận phụ nữ, vì phụ nữ còn vướng mắc 5 thứ dơ mà Đức Phật khuyên nên gột rửa rồi mới tìm đến con đường tu hành, còn chị em pê đê chúng ta dù gì cũng là thọ thân Nam rồi nhưng chỉ còn vướng mắc ở tâm hồn là Nữ, như vậy chứng tỏ chúng ta đã có tu tập từ kiếp trước để kiếp này tiến hoá lên làm người để thọ hình thân Nam, nhưng chúng ta không thể có thân tướng Đại Trượng Phu mà chúng ta lại có tư tưởng Pê Đê , Đồng tính Nam, đó cũng là do Nghiệp cũ chưa thoát hẳn hết. Chính vì nội dung sâu sa đó khi chúng ta tin sâu vào nhân quả, chúng ta sẽ tìm được sự giải thoát cho chúng ta. Đúng là không ai có quyền phán xét hay chê bai chúng ta là Pê Đê này nọ, hoặc cười giễu cợt Chị Em Bóng chúng ta, vì ai càng giễu cợt thì người ấy sẽ thọ lấy quả báo mắc vào nghiệp Pê Đê tiếp theo trong tương lai (như 1 lời nguyền của kiếp Pê Đê, ai chọc ghẹo Pê Đê thì chính người ấy sẽ là Pê Đê trong tương lai). 

Chính vì xã hội đã từng chê bai kiếp Pê Đê của những người Đàn ông ẻo lả cho nên chính họ tự rơi vào hoàn cảnh ấy, hoặc lại trở thành 1 người Đàn Ông lại đi yêu Đàn Ông, thích được ân ái với Đàn Ông, vì lẽ đó nên xã hội ngày nay giới Đồng Tính Luyến Ái mới nhiều như thế . 
Họ không còn giữ được đạo lý truyền thống quan hệ Nam- Nữ mà ngày nay càng nhiều số lượng người Đồng Tính gia tăng đáng kể như giới Pê Đê , Đồng Tính Nam, hay Ô môi Đồng Tính Nữ, những hình ảnh như thế cũng do vì chúng ta trong thân của kiếp trước đã từng là những người có bản tính Tà Dâm, Dâm dục, Thông Dâm ,Ngoại Tình hay là trêu đùa bỡn cợt, chọc ghẹo, lấy sự không bình thường của người mà đem ra cười đùa chế giễu hay xúc phạm, chửi mắng, đánh đập, ném đá vào những người Nửa Nam Nửa Nữ mà ra. 
Do lẽ đó ngày nay người Đồng Tính càng nhiều là vậy chứ không phải là căn bệnh gì cả. Người Đồng Tính họ cũng khổ luỵ trong tình cảm, giành giật tình cảm nhưng không bao giờ có được hạnh phúc trọn vẹn, họ chạy theo cái bóng phù du nghiệt ngã, nay cặp người này, mai cặp người kia, hoặc mê man trong tình dục đồng giới ,ân ái quá độ để thân thể suy kiệt, nào là giao hợp tình dục bằng đường miệng,  nào là quan hệ tình dục bằng đường hậu môn,... thế nên ta nghiệm kỹ những điều, những sự vật xảy ra trong xã hội ta mới thấy rõ ràng bài học nhân quả rất là sâu sa, chỉ có Trí Huệ của Đức Phật mới làm sáng tỏ chân lý ấy, và chị em bạn Bóng của chúng ta hãy nương vào giáo pháp của Tam Bảo mà thực hành tu tập. Vì Đạo Phật không chỉ là tín ngưỡng, tôn giáo mà còn là một nền Khoa Học vĩ đại, Giáo Lý sâu rộng và nhiệm mầu. 

Ý Trinh đã tìm hiểu về giáo lý của Phật Pháp thì Đức Phật đã nhắc nhở những người Đàn Ông phải cẩn thận đừng để trở thành Huỳnh Môn ( tiếng cổ để chỉ những người Đồng Tính Nam, Pê Đê ) và khuyên họ bằng tri thức và sự nhìn nhận mà phải tu học, để bỏ báo thân Huỳnh Môn trong kiếp sau. 

Và trong Trường Bộ Kinh Phạm Võng Đức Phật đã căn dặn rất kỹ. Chính vì căn cơ đó, mà Ý Trinh đã lĩnh hội và cùng các chị em bạn Bóng đã bước vào con đường Giác Ngộ, thỉnh giáo pháp của Đức Phật răn dạy, ăn năn sám hối những nghiệp mà mình đã gây tạo ra, Ý Trinh đã được các vị sư thầy chỉ dạy và thực hành giới chỉ của Phật truyền thừa. Từ đó Ý Trinh đã thức tỉnh tâm hồn vẫn đục của mình, cố gắng học và sưu tầm những kiến thức có ích cho chính mình và cho những người ban cùng cảnh ngộ như Ý Trinh.

Với nội dung như thế Ý Trinh mời bạn đọc cùng tham khảo những tài liệu quý báu về Phật Pháp mà bất kể chúng ta, giới tính nào cũng có thể tìm đọc và học, thực hành theo những lời Phật Dạy, từ đó tìm ra con đường giải thoát cho mỗi người.

Tìm hiểu Phật Pháp Căn Bản : Link bên dưới 

http://daibaothapmandalataythien.org/phat-phap-can-ban



Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Ý Trinh nói về 10 điều Pháp Giới

Mười Pháp Giới Không Lìa Một Tâm Niệm
Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng





Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
Như Lai duy tâm tạo.
Tạm dịch :
Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả phật ba đời
Hãy quán tánh pháp giới
Như Lai do tâm tạo.

‘Nếu ai muốn biết rõ, tất cả Phật ba đời
Hãy quán tánh pháp giới, Như Lai do tâm tạo’.
        "Nếu ai muốn biết rõ, tất cả người ba đời ; hãy quán tánh pháp giới, Như Lai do tâm tạo". Bạn cười tôi đọc sai phải chăng ?
        "Nếu ai muốn biết rõ". Nếu : Là giả thiết. Ai : Tức là chỉ tất cả mọi người. Muốn biết rõ: Muốn biết rõ cái gì? Muốn biết rõ con người làm thế nào mà làm người.
        "Tất cả người ba đời". Có người nói :"Tôi nghe nói là "Tất cả Phật ba đời", sao Sư phụ lại đọc là "Tất cả người ba đời ?". Người tức là Phật ! Người, bạn có thể gọi họ là Phật cũng được; Phật, bạn gọi Ngài là người cũng được. Tại sao? Vì người có thể thành Phật; Phật do người tu thành. Cho nên nếu bạn nói là "Phật" thì chẳng có ai hiểu. Gì gọi là "Phật" ? Chẳng ai thật sự biết. Nếu bạn nói là "Người" thì ai ai cũng đều biết là có "người". Vậy biết có "người" thì tốt rồi, cũng dễ dàng nữa.
        "Người" này là ai ? Tức là "Phật". Có người nói vậy tôi có phải là Phật chăng ? Bạn cũng là Phật; còn họ có phải là Phật chăng? Họ cũng là Phật; Tôi có phải là Phật chăng? Cũng là Phật, nhưng Phật chưa thành. Thành rồi thì là ông Phật thiệt, bây giờ là ông Phật giả. Phật giả cũng có thể làm Phật thiệt, Phật thiệt lại có thể làm Phật giả. Cho nên tại sao nói chữ "Nếu"? Chữ nếu này là đặt một giả thiết, bạn không cần chấp vào, xem nó quá nhận chân. Cho nên nói, giả thiết trường hợp bạn, muốn minh bạch, muốn biết rõ "tất cả Phật ba đời".Tất cả Phật ba đời đều do người tu thành.
        "Hãy quán tánh pháp giới". Bạn hãy nhìn xem tánh pháp giới, pháp giới có tánh gì ? Nếu pháp giới có tánh, vậy còn gọi là pháp giới sao ? Tánh pháp giới nói ở đây là tánh của chúng sinh ! Mỗi người có tánh của mỗi người, bạn có tánh của bạn, tôi có tánh của tôi. Nói về tánh này thì bạn chẳng biết. Tôi nói cho bạn dễ hiểu, tức là sự nóng giận của bạn lớn hơn tôi một chút, sự nóng giận của tôi sâu hơn bạn một chút. Bạn nói có phải chăng ? Chẳng giống nhau. Pháp giới chúng sinh mỗi loài có tánh của mỗi loài. Heo có tánh heo, ngựa có tánh ngựa. Người nam có tánh của người nam, người nữ có tánh của người nữ, mỗi người có tánh của họ. Có người thích ăn ngọt, đó là có tánh ngọt; có người thích ăn chua, đó là có tánh chua; có người thích ăn cay, đó là có tánh cay, có người thích ăn đắng, đó là có tánh đắng, bạn nói có phải chăng ?
        Nếu bạn nghiên cứu kỹ thì mỗi loài đều có tánh của mỗi loài. Cây cũng có tánh của cây, hoa cũng có tánh của hoa, cỏ cũng có tánh của cỏ, hết thẩy đều có tánh, cho nên nói "tánh pháp giới". Chẳng phải nói về tánh pháp giới kia, mà là nói tánh pháp giới của của chúng sinh. Bây giờ các bạn đã hiểu chăng ? Trước kia các bạn đều cho rằng là tánh pháp giới, bây giờ mới biết là tánh của chúng sinh. Bây giờ các bạn đã hiểu chăng ? Trước kia các bạn đều cho rằng là tánh pháp giới, bây giờ mới biết là tánh chúng sinh ở trong pháp giới đó, cho nên mới nói "hãy quán tánh pháp giới".
        "Như Lai do tâm tạo". Bổn lai là nói : "Nếu ai muốn biết rõ, tất cả Phật ba đời, hãy quán tánh pháp giới, tất cả do tâm tạo"; vì ở trước tôi nói : "Tất cả người ba đời", bây giờ câu cuối cùng tôi đổi thành "Như Lai do tâm tạo". Phật là do tâm của bạn tạo thành. Nếu tâm của bạn tu Phật pháp thì thành Phật đạo, nếu tâm của bạn muốn thành Bồ Tát thì phải hành Bồ Tát đạo, thì sẽ thành Bồ Tát, cho đến tâm muốn đọa địa ngục thì chạy về hướng địa ngục, tương lai sẽ đọa vào địa ngục.





Pháp giới của Phật
Bất đại bất tiểu
Phi khứ phi lai
Vi trần thế giới
Giao ánh liên đài.
Tạm dịch :
Không lớn không nhỏ
Chẳng đến chẳng đi
Thế giới như bụi
Ðài sen chiếu nhau.
‘Không lớn không nhỏ, chẳng đến chẳng đi
Thế giới như bụi, đài sen chiếu nhau’.

        Hôm nay vẫn nói về mười pháp giới. Thứ nhất là nói về pháp giới của Phật. Pháp giới của Phật tôi đã giảng qua một lần về chữ "Phật" ở tại thành phố Hồng Mộc (Redwood), tiểu bang Cali. Chữ Phật tiếng Anh gọi là "Buddha". Vì tôi rất ngu si và tai cũng điếc cho nên lần đầu tôi nghe chữ Buddha bằng tiếng Anh tôi tưởng là "Bu đa" bằng tiếng Tàu nghĩa là "Không lớn". "Không lớn" là gì? Tức là Phật. Có một vị giáo sư rất thích tôi giảng kiểu này, cho nên giảng xong rồi y đến trước mặt tôi chắp tay lại gọi "Bu đa". "Không lớn" này tức là chẳng có tâm cống cao. Phật thì chẳng có tâm cống cao, cũng chẳng có tâm ngã mạn.
        Tiếng Anh cũng có lối cống cao gọi là I (tôi), Phật thì chẳng có I (tôi). "I" này tức là "Tôi". Tôi ! Tôi ! Tôi ! Gì cũng đều là tôi; trái, phải, trước, sau, trên, dưới, bốn phương đều là tôi, thật là quá nhiều cái tôi. Vì quá nhiều cái tôi cho nên trở thành lớn. Vì Phật chẳng có ngã, cho nên không lớn. Vậy phải chăng là nhỏ ? Cũng không nhỏ. Nếu là nhỏ thì Ngài chẳng phải là Phật, cho nên câu thứ nhất nói "không lớn không nhỏ".
        "Chẳng đến chẳng đi". Ngài cũng chẳng đến cũng chẳng đi, tức là "đến mà chưa từng đến, đi mà chưa từng đi". Tại sao nói chẳng đến chẳng đi ? 
Vì pháp thân của Phật tận hư không, khắp pháp giới, vô tại vô bất tại, nếu bạn nói Ngài đi, vậy Ngài đi về đâu ? Nếu bạn nói Ngài đến, lại đi đến đâu ? Pháp thân của Ngài vốn khắp cùng, cho nên nói chẳng đến chẳng đi. Vậy có phải ở tại thế giới này chăng? 
Chẳng phải. Chẳng phải chỉ riêng ở một thế giới này mà trong vô lượng vô biên hết thẩy tất cả thế giới nhiều như hạt bụi trong pháp giới đều là pháp thân của Phật, cho nên nói "thế giới như bụi", nhiều giống như hạt bụi trong thế giới.

        "Ðài sen chiếu nhau": Chiếu nhau tức là quang minh của Phật ở pháp giới này chiếu đến Phật ở pháp giới kia. Quang minh của Phật ở pháp giới kia lại chiếu đến Phật ở pháp giới này. 
Ðài sen chiếu nhau là Phật ngự ở trên tòa sen hổ tương phóng quang động địa, tai cũng phóng quang, mắt cũng phóng quang, mũi cũng phóng quang, lưỡi cũng phóng quang, răng cũng phóng quang, không những sáu căn đều phóng quang động địa mà mỗi lỗ chân lông cũng đều phóng quang động địa. 
Trong mỗi lỗ chân lông lại hiện ra thế giới nhiều như số hạt bụi, có vô lượng vô biên chư Phật đều hiện ra ở trong mỗi lỗ chân lông. 
Mỗi một vị Phật đều phóng quang vô lượng vô biên như thế, cũng giống như ánh đèn, ánh sáng của bạn không xung đột ánh sáng của tôi, ánh sáng của tôi cũng chẳng xung đột ánh sáng của bạn, chẳng phải nói :"Ê ! Ánh sáng của bạn phóng ra quá nhiều, còn ánh sáng của tôi chẳng còn chỗ để phóng ra, như vậy không được". Ánh sáng với ánh sáng chẳng xung đột, ánh sáng với ánh sáng hòa nhau, đó gọi là "hòa quang". 
Cho nên Phật giáo của chúng ta là hòa quang, ánh sáng với ánh sáng chẳng xung đột với nhau, chúng ta người với người cũng đừng xung đột với nhau, do đó gọi là đài sen chiếu nhau, nghĩa là ánh sáng của bạn chiếu tôi, ánh sáng của tôi chiếu bạn, ánh sáng này chiếu ánh sáng kia, lỗ này thông với lỗ kia giống như lưới La-tràng của Ðại Phạm Thiên Vương, đó gọi là đài sen chiếu nhau. Ðó là pháp giới của Phật.

Pháp giới của Bồ Tát 

Hữu tình giác ngộ
Khiêu xuất trần ai
Lục độ vạn hạnh
Thời khắc bồi tài.

Tạm dịch :

Hữu tình giác ngộ
Vượt khỏi bụi trần
Lục độ vạn hạnh
Giờ phút vun bồi.

        Thứ hai là nói về pháp giới của Bồ Tát. Ở trước, tôi có đổi lại là "tất cả người ba đời" là vì mười pháp giới đều do người tu thành. Người, không lìa một tâm niệm hiện tiền, cho nên thứ hai là pháp giới của Bồ Tát.

        Bồ Tát là Phạn ngữ, dịch là "giác hữu tình". Sao gọi là giác hữu tình ? Giác hữu tình có hai lối nói : Một là giác ngộ tất cả hữu tình, khiến cho tất cả hữu tình đều giác ngộ, hai là hữu tình đã giác ngộ.

        Hai lối nói này chúng ta đều có phần. Có phần gì ? Có phần thành Bồ Tát. Vì chúng ta đều là chúng sinh hữu tình, chúng ta cũng có thể làm bậc giác ngộ ở trong chúng sinh. Chúng ta cũng có thể dùng đạo lý giác ngộ để thức tỉnh tất cả chúng sinh. Cho nên là một Bồ Tát, không sai ! Bạn có phần, tôi cũng có phần. Không phải chỉ Bồ Tát là như thế mà Phật chúng ta cũng đều có phần.

        Có người nói :"Tôi không minh bạch đạo lý nầy, sao vừa rồi Pháp Sư nói Phật là do người tu thành ! Vậy tại sao chúng ta không thành Phật ?" Ðừng nói vấn đề "người thành Phật, không thành Phật", bạn nói đứa bé nầy tương lai có lớn chăng ? 
Ðứa bé nầy tuy nhiên bây giờ là trẻ con, nhưng tương lai nó có thể trưởng thành làm người, rồi lại già nua. Cũng thế, hiện tại chúng ta là trẻ con, còn Phật thì ví như người lớn, tương lai chúng ta trưởng thành tức là thành Phật. Hiện tại chúng ta là trẻ con ở trong Phật giáo. Mỗi ngày phải uống sữa, mỗi ngày phải nghe pháp. 
Ðặc biệt sự nghe pháp làm cho căn lành của con người tăng trưởng, đặc biệt làm cho khai mở trí huệ. Cho nên nếu bạn tạo cơ hội nghe pháp vẫn có giá trị hơn dù bạn kiếm được bao nhiêu tiền.

        Cho nên hôm nay tôi lập ra một quy cụ mới, quy cụ gì ? Tôi hy vọng từ nay về sau chúng ta đừng lấy nhiều ngày nghỉ, đừng đi du lịch nhiều, nếu có ngày nghỉ thì lấy sự nghiên cứu Phật pháp làm du lịch, lấy sự nghiên cứu Phật pháp làm ngày nghỉ. Tại sao ? Vì ngày nghỉ đi du lịch quá nguy hiểm. Bạn hãy nhìn xem ! 
Mỗi kỳ nghỉ, người chết không chỉ là một, chắc hẳn là nhiều lắm, trong số nầy, nếu bạn đi du lịch biết đâu bạn có phần trong đó. Cho nên ở xứ nầy chúng ta phải sửa lại phong khí nầy. Ở xứ nầy ai ai cũng muốn đi chơi, muốn đi du lịch. 
Phật giáo đồ chúng ta phải cải thiện phong khí nầy. Làm Phật giáo đồ không cần đi du hành, không cần đi du lịch nhiều. Có thời gian thì đến nghiên cứu Phật pháp, đến tụng một thời Kinh, niệm một bài Chú, lễ Phật thì tốt biết mấy !

        Lễ Phật công đức vô lượng, "Phật tiền đảnh lễ, tội diệt hà sa." Nghĩa là bạn thành tâm lạy Phật thì tiêu diệt vô lượng tội lỗi. "Xả tiền nhất văn, tăng phước vô lượng." Nghĩa là bố thí một đồng được phước vô lượng. Song le, chẳng phải tôi kêu bạn bố thí tiền cho tôi, các bạn phải minh bạch. Các bạn có tiền thì đến các đạo tràng khác cúng dường, như thế thì bạn sẽ tăng phước rất nhiều. 
Vì chúng tôi nơi đây đều là người khổ sở, không có phước thọ sự cúng dường, nếu cúng dường nhiều thì chúng tôi có thể chết. Nếu chẳng có ai cúng dường thì chúng tôi có thể sống thêm mấy ngày. Bạn thấy đó ! Tuy chúng tôi khổ, chúng tôi cũng muốn sống thêm mấy ngày, không muốn chết bây giờ. 
Cho nên nếu bạn muốn bố thí thì đến nơi khác bố thí, tôi tuyệt đối hoan nghênh. Vì có rất nhiều nơi để cho các bạn làm phước, không nhất định ở tại Chùa Kim Sơn. Chùa Kim Sơn đều là những người khổ sở, đều là những người chẳng có phước báo, cho nên nếu các bạn cầu phước ở đây thì chẳng có. Các bạn đừng lo lắng, chúng tôi không chết đói đâu !

        "Hữu tình giác ngộ". Bồ Tát là một hữu tình, là bậc giác ngộ trong hữu tình, là bậc minh bạch ở trong sự giác ngộ, là bậc tu hành ở trong sự hiểu biết, là bậc thực hành ở trong sự tu hành, đó là Bồ Tát. Cho nên nói :"Vượt khỏi bụi trần". Nếu Bồ Tát không minh bạch thì không vượtt ra khỏi bụi trần. Bụi trần nầy quá dày cho nên không vượt ra khỏi được. Nếu giác ngộ rồi thì bụi trần sẽ mỏng dần, sẽ vượt ra khỏi bụi trần.

        Sau khi vượt ra khỏi bụi trần thì làm gì ? Phải chăng ăn và ngủ ? Không sai ! Còn phải ăn, còn phải ngủ, còn phải mặc quần áo. Nhưng chẳng phải cứ làm những việc này. Mục đích bạn đi làm việc là vì ngày hai bữa cơm, vì mặc quần áo, vì chỗ ở, ba vấn đề nầy. Khi bạn vượt ra khỏi bụi trần thì không còn lo về ba vấn đề nầy nữa, mà phải tu hành lục độ.

        "Lục độ" tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Có người nghĩ rằng :"Tôi biết bố thí tức là dạy người bố thí cho mình". Chẳng phải vậy ! Là chúng ta phải bố thí cho người. Về tiền tài, chúng ta đừng ham nó, vì nó là vật rất dơ bẩn. Nếu bạn gần gũi nó quá nhiều thì đó là dính bụi trần. Bụi trần là gì ? Tiền là bụi trần. Nếu bạn không cần tiền thì sẽ thanh tịnh, sẽ vượt ra khỏi bụi trần. Hiện tại một số trong các bạn đã vượt khỏi bụi trần vì các bạn giữ giới không cất giữ tiền bạc. Bất quá bạn đừng bị nhiễm nó nữa trong tương lai.

        "Vạn hạnh", lại phải tu hành vạn hạnh. "Giờ phút vui bồi" : Chẳng phải hôm nay tu, ngày mai thì không tu; năm nay tu, năm tới thì không tu; tháng này tu, tháng tới thì nghỉ ! đời này tu, đời sau thì chẳng tu nữa ! Hoặc là lúc tu lúc nghỉ. Chẳng phải vậy ! Mà luôn luôn đều phải tu hành lục độ vạn hạnh. Ðừng nói đến luôn luôn mà đời đời kiếp kiếp chúng ta đều phải tu lục độ vạn hạnh. Do đó nếu bạn thực hành được như thế thì bạn là Bồ Tát.

        Bạn nói :"Ðó thật chẳng phải dễ !" Bạn nghĩ rằng làm Bồ Tát dễ dàng lắm sao ? Ðâu có dễ dàng như thế. Không những làm Bồ Tát không dễ dàng mà làm Duyên Giác, Thanh Văn cũng chẳng dễ dàng. Làm gì thì dễ dàng ? Làm quỷ ! Làm quỷ dễ nhất, đọa địa ngục dễ nhất, làm súc sinh dễ nhất. Nếu bạn muốn dễ thì làm những thứ đó. Cho nên bạn muốn làm Bồ Tát thì chẳng dễ dàng; Bồ Tát còn gọi là "không dễ dàng". Dễ dàng tức là quỷ, không dễ dàng tức là Bồ Tát. Bạn nói :"Khó quá". "Khó" cũng là Bồ Tát, chữ khó tức là một tên khác của không dễ dàng.

        Cho nên Bồ Tát thì phải hành khổ hạnh, những gì người làm không được mà làm được, khó nhẫn mà nhẫn được. Ðừng cho rằng khó quá mà không dám làm. Nếu bạn không dám làm thì bạn chẳng phải là Bồ Tát. Hãy tinh tấn tiến về trước !

        Bồ Tát thì như thế chẳng có gì xảo diệu. Nếu bạn làm được những gì người không làm được tức là Bồ Tát. Vì ai ai cũng không làm được mà bạn làm được tức là Bồ Tát.

Pháp giới của Duyên Giác

Duyên Giác Thánh Hiền
Cô phong độc miên
Xuân hoa thu tạ
Thập nhị liên hoàn.

Tạm dịch :

Duyên giác Thánh hiền
Ngủ trên đỉnh cao
Xuân hoa thu tàn
Mười hai nhân duyên.

        Tại sao tôi hỏi các bạn nhiều vấn đề ? Vì bậc Duyên Giác thì chẳng thích có vấn đề. Các bậc ấy thích cô độc, không muốn tụ hội chung với ai. Cho nên hôm nay chúng ta cùng nhau nghiên cứu vấn đề, mọi người cùng tụ hội lại, đừng làm giống như bậc Duyên Giác. Khi có Phật ra đời thì gọi là Duyên Giác, nếu không có Phật ra đời thì gọi là Ðộc Giác, tự mình khai ngộ. Bậc ấy thích gì ? "Cô phong độc miên", ngủ một mình trên đỉnh cao. Cho nên nói "Duyên Giác Thánh Hiền, ngủ trên đỉnh cao, xuân hoa thu tàn, mười hai nhân duyên". Ðó là nói về bậc Duyên Giác. Nói đến Duyên Giác thì chúng ta tự mình cũng phải "Duyên Giác", giác ngộ nhân duyên. Các bậc ấy tu mười hai nhân duyên, còn chúng ta thì mười hai nhân duyên tu.

        Mười hai nhân duyên, thứ nhất là "vô minh". Bậc ấy quán sát vô minh, vô minh từ đâu đến ? Rất quái lạ, làm sao có vô minh ? Bậc ấy quán sát : Vô minh duyên hành, có vô minh rồi thì có hành vi, tức có "hành" rồi thì có sở biểu hiện. 
Có sở biểu hiện thì có "thức". Thức tức là phân biệt, hành tức là pháp hữu vi. Khi vô minh thì chẳng thể nói là vô vi cũng chẳng thể nói là hữu vi, lúc đó thì ở giữa hữu vi và vô vi, sau đó có sự phân biệt. Tại sao có sự phân biệt ? Vì có pháp hữu vi. 
Có pháp hữu vi rồi thì sau đó có tâm phân biệt. Có tâm phân biệt thì sau đó sẽ có phiền não ! Phiền não tức là "Danh sắc". 
Có danh sắc rồi, một khi có danh thì có phiền não về danh ; một khi có sắc rồi thì có phiền não về sắc. Danh sắc tức là phiền não, phiền não tức là danh sắc. Vấn đề này nếu nói ra thì càng phiền não, không nói thì chẳng có phiền não, một khi nói ra thì phiền não sẽ đến. Có người nói :"Sao danh sắc là phiền não ? 
Tôi không hiểu !" Bạn không hiểu thì bạn phiền não nhiều một chút. Vì bạn có phiền não không hiểu, khi tôi không nói thì bạn chẳng có phiền não không hiểu, phải chăng ?

        Khi tôi không nói gì thì bạn vốn không biết, thì bạn cũng chẳng có nhiều phiền não. Khi tôi nói ra thì bạn không hiểu, có phiền não không hiểu thì nghĩ muốn hiểu. Ðó tức là có "Lục nhập". Bạn thấy không, lục nhập tức là nghĩ muốn hiểu, nghĩ muốn minh bạch. Ðã nghe qua chưa ? Chẳng có ai nói Pháp này ! Bây giờ đã có rồi ! Ðó là nghĩ muốn hiểu.

        Lục nhập tức là nghĩ muốn minh bạch mới có lục nhập. Nghĩ muốn minh bạch, do đó sinh ra nhãn căn, nhĩ căn, tĩ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn lục nhập. Tại sao lục nhập này phải sinh ra ? Vì muốn minh bạch. Ai không biết càng nghĩ muốn biết thì càng hồ đồ, càng hồ đồ thì càng không biết, đó tức là lục nhập, đã nhập vào. Bạn hãy xem ! Không minh bạch thì sau đó cứ muốn chọi. Chọi tức là "xúc", đi chọi khắp nơi, chọi đông chọi tây, chọi nam, chọi bắc, chọi trên, chọi dưới, giống như con nhặng (ruồi xanh), chọi vào tường khắp nơi. Tại sao phải chọi vào tường ? Vì muốn minh bạch. Xúc tức là chọi, chọi vào tường khắp nơi. Khắp nơi đều muốn hiểu biết. Khi chọi thì không biết đau là vì muốn hiểu biết. Chọi rồi thì có "thọ". "Chao ôi ! đau quá", hay là "ôi ! Tôi rất là tự tại"; hiện tại ta không chọi tường thì hiện tại ta rất thoải mái, một khi chọi tường thì cảm thấy không thoải mái.

        Không có ai nói ta không tốt thì ta cảm thấy rất vui vẻ ; khi có người nói ta không tốt thì ta cảm thấy không vui. Ðó là thọ, đều ở tại chỗ này, chẳng phải ở bên ngoài, đừng có đi tìm bên ngoài.

        Có sự cảm thọ thì sinh ra một thứ "ái trước". Ðối với cảnh thuận thì tham ái chấp trước ; còn đối với cảnh nghịch thì sinh ra chán ghét. Chán ghét tức là không thích ! Tại sao có sự không thích ? Vì có thương, có ghét. Ghét tức là không muốn, chán ghét, cho nên phiền não càng ngày càng nhiều.

        "Duyên Giác Thánh Hiền, ngủ trên đỉnh cao, xuân hoa thu tàn, mười hai nhân duyên". Mùa xuân thì vạn vật nảy nở, bậc Thánh nhân Duyên Giác "mùa xuân ngắm trăm hoa nở, mùa thu xem lá vàng rơi". Các bậc ấy đã giác ngộ được tất cả sự vật đều sinh diệt tự nhiên. Cho nên quán "mười hai nhân duyên" này.

        Tại sao chúng ta có sự cảm giác không bình an ? Vì có ái (thương). Có ái thì có ghét, tức cũng có chán ghét. Nếu vật gì bạn mến thích (ái) thì sinh ra "thủ"(giữ lấy). Thế nào là thủ ? Tức là muốn được, muốn chiếm được. Vì bạn mến thích (ái), cho nên muốn đắc được. Khi bạn đắc được rồi thì thỏa mãn dục vọng của mình. Tại sao phải thỏa mãn dục vọng của mình ? Vì muốn giữ nó, cho nên thủ duyên hữu (có). Vì có cái "có", cho nên bạn muốn thuộc về chính bạn. Khi thuộc về chính bạn thì có sinh. Có sinh thì có lão tử (già chết). Ðó là mười hai nhân duyên pháp tu của bậc Duyên Giác.

Pháp giới của Thanh Văn 

Thanh Văn chúng Tăng
Bất luận nữ nam
Tứ đế quán hành
Ẩn thật thị quyền.

Tạm dịch :

Thanh văn chúng Tăng
Dù nam hay nữ
Tu pháp bốn Ðế
Ẩn thật hiển quyền.

        Bây giờ giảng về pháp giới của bậc Thanh Văn. Thanh Văn gồm có sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ quả Thanh Văn. Trong đó lại phân ra sơ quả hướng nghĩa là chưa thật sự chứng được sơ quả, cho nên gọi là sơ quả hướng, sơ quả ; nhị quả hướng, nhị quả ; tam quả hướng, tam quả; tứ quả hướng, tứ quả.

        Bậc Thanh Văn còn gọi là A La Hán cũng gọi là La Hán. Bậc La Hán có thần thông phi hành biến hóa. Người chứng quả thì không tùy tiện nói : "Tôi đã chứng quả, tôi là A La Hán !" Không được như thế ! Vì Thánh nhân chứng quả thì đi chân chẳng đụng đất, bạn thấy có vẻ họ đi trên đất, nhưng họ đi ở trong hư không, chân không dính đất cũng không dính bụi, thậm chí đi trong bùn, chân cũng sạch sẽ. Ví như Hòa Thượng Pháp Thuận (sơ Tổ của tông Hoa Nghiêm), đi trong bùn mà giày không dính bùn, đó là một sự biểu hiện của bậc Thánh nhân đã chứng quả. Chẳng phải nói :"Tôi đã chứng quả", thì chứng được quả.

        Sơ quả Thanh Văn thì đã đoạn được kiến hoặc, nhị quả thì đã đoạn được tư hoặc, tam quả thì đã đoạn được trần sa hoặc, tứ quả cũng đã đoạn được trần sa hoặc, phá được chút vô minh, chứ chưa hoàn toàn phá sạch. Vô minh phá sạch thì thành Phật. Bậc Ðẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần sinh tướng vô minh chưa phá, cho nên không thể thành Phật. Bậc Tứ Quả Thánh nhân tu pháp gì ? Các Ngài tu pháp này ai ai cũng đều biết, chúng ta ai ai cũng đã nghe qua, đó là khổ, tập, diệt, đạo Tứ Diệu Ðế.

        Ðức Phật sau khi thành đạo, đến vườn Lộc Uyển độ năm vị Tỳ Kheo Kiều Trần Như. Năm vị Tỳ Kheo này vốn là bà con của Phật, song le theo Phật xuất gia tu đạo. Khi Ðức Phật tu khổ hạnh tại núi Tuyết mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, thân hình chỉ còn da bọc xương. Lúc đó năm vị Tỳ Kheo bỏ đi hết ba vị vì chịu khổ hết nổi, còn hai vị. Sau đó, một ngày nọ có vị tín nữ dâng cúng bát sữa cho Ðức Phật, Ðức Phật thọ nhận, hai vị kia cũng bỏ đi. Hai vị này không phải vì chịu khổ không được mà họ nói Phật không còn khả năng tu hành, họ nói :"Tu hành phải tu khổ hạnh, phải hành khổ hạnh, bây giờ Ngài đã uống sữa, không chịu khổ được nữa !" Năm vị này đều bỏ đi đến vườn Lộc Uyển.

        Sau khi Ðức Phật thành đạo, trước hết Ngài nói "Kinh Hoa Nghiêm", chẳng có người nghe hiểu đặng, sau đó "vì thật thí quyền", Ðức Phật nói "Kinh A Hàm". Phải nói cho ai nghe ? Phật quán sát thì biết được cơ duyên :"A ! Năm vị cùng tu với ta trước kia, trước hết nên đi đến độ họ. Tại sao trước hết phải đi đến độ họ ? Vì trong quá khứ ta đã phát nguyện : Nếu ta thành Phật thì trước hết đi độ người đã hủy báng ta, giết ta, người đối xử với ta tệ nhất, ta phải đi độ họ trước". Ai đối với Phật thậm tệ nhất ? Không biết các bạn đã đọc Kinh Kim Cang chưa ? Trong Kinh Kim Cang có nói về vua Ca Lợi. Khi Ðức Phật tại nhân địa thì làm tiên ông nhẫn nhục, bị vua Ca Lợi chặt chân tay. Tại sao vua Ca Lợi chặt chân tay ? Vì trong quá khứ tiền thân của Ðức Phật làm tiên ông tu đạo, tu khổ hạnh ở trong rừng. Một ngày nọ vua Ca Lợi mang theo cung nga, thể nữ, phi tần đi vào rừng săn bắn. Song le những người nữ này thích đi chơi, còn vua thì đi săn. Những người nữ này bèn thấy một vị hình thù quái dị không biết là gì ? Vì lông mày thì dài ba tấc, tóc thì dài hai thước, chưa khi nào tắm rửa, bụi bặm bám dày đầy người, quần áo bụi bặm dính đầy khoảng một tấc. Những người nữ thấy như vậy không nhận ra bèn nói :"Ðây là yêu quái ! Ðây là yêu quái ! Chúng ta hãy đi mau lên !"

        Lão tu hành bèn nói :"Các vị không cần đi, ta chẳng phải là yêu quái". Những người nữ nghe nói thì biết vị này biết nói, do đó có người gan dạ hỏi :"Ông ở đây làm gì ?" Ông ta đáp :"Tôi ở đây tu hành", họ hỏi :"Thế nào gọi là tu hành ?" Ông ta đáp :"Tôi tu hành vì muốn thành Phật", rồi ông ta thuyết pháp cho họ nghe. Nói xong rồi, những người này rất có hảo cảm với ông ta, nói :"Ông tu ở đây quá khổ, vậy ông ăn gì để sống ?" Ông ta đáp :"Tôi ăn rễ cây, lá cây, trái cây, có gì ăn nấy, tôi cũng chẳng đi vào xóm khất thực".

        Những người nữ này quây quần vị tiên nhân lâu cũng chẳng còn sợ gì nữa, càng muốn gần gũi ông ta để hỏi đạo. Lúc đó vua Ca Lợi đi săn về, bèn đi khắp nơi tìm thê thiếp phi tần thì thấy họ quây quần chung quanh tiên ông, bèn sinh tâm đố kỵ, nóng giận nói :"Ông ở đây làm gì ?"

        - Ông ta đáp :"Tôi ở đây tu đạo".
        - Vua hỏi :"Ông tu đạo gì ?"
        - Ông ta đáp :"Tôi tu hạnh nhẫn nhục"
        - Vua hỏi :"Nhẫn nhục là gì ?"
        - Ông ta đáp :"Tức là ai mắng tôi, đánh tôi, tôi cũng không sinh tâm sân hận".
        - Vua nói :"Ðược rồi để ta thử xem thật hay giả". Bèn lấy bảo kiếm trên mình ra chặt cánh tay tiên ông, hỏi :"Tôi đã chặt đứt cánh tay nhà ngươi, nhà ngươi có sân hận chăng ?"
        - Ông ta đáp :"Tôi không sân hận" 
        - Vua nói :"Ðược rồi để ta chặt tiếp một tay nữa thử nhà ngươi có sân hận chăng ?" Nói xong bèn chặt tiếp tay thứ hai, bèn hỏi :"Nhà ngươi có sân hận chăng ?"
        - Ông ta đáp :"Cũng chẳng sân hận".
        - Vua nói :"Nhà ngươi có bản lãnh lắm, song le ta sẽ chặt nốt hai chân, xem thử nhà ngươi có sân hận chăng ?" Do đó vua chặt đứt hai chân của tiên ông, lại hỏi :"Nhà ngươi có sân hận chăng ?"

        - Tiên ông đáp :"Ta cũng không sân hận".

        - Vua nói :"Nhà ngươi nói láo, lấy gì để chứng minh là sự thật ?"

        - Tiên ông nói :"Nếu thật sự ta không sân hận thì tứ chi của ta sẽ hoàn phục lại như cũ, còn nếu ta sân hận thì sẽ không hoàn phục lại". Vừa nói xong thì tứ chi của tiên ông hoàn phục lại như cũ. Lúc đó Thiên Long Bát Bộ Hộ Pháp thiện thần thấy vua độc ác quá đỗi, nóng giận bèn mưa đá xuống chỗ nhà vua. Tiên ông thấy vậy bèn nói :"Xin các vị Hộ Pháp thiện thần đừng mưa đá hại nhà vua". Do đó vua thoát nạn bèn sinh tâm sám hối, đến trước vị tiên ông cầu sám hối. Tiên ông bèn phát nguyện rằng :"Nếu tương lai ta thành Phật thì trước hết ta sẽ độ nhà vua". Do đó, sau khi Phật thành đạo thì đi đến vườn Lộc Uyển để độ Kiều Trần Như. Vị tiên ông đó là tiền thân của Ðức Phật Thích Ca, còn vua Ca Lợi là tiền thân của Kiều Trần Như. Vì nguyện lực của Phật trong quá khứ cho nên phải độ họ, dù họ đối xử với Ngài thậm tệ nhất.

        Chúng ta nghe chuyện này rồi thì bất cứ ai đối với chúng ta không tốt, chúng ta phải phát nguyện khi thành Phật thì độ họ, chứ đừng nói : "Ngươi đối với ta không tốt, đợi khi ta thành Phật thì nhất định sẽ làm cho ngươi rơi vào địa ngục!" Ðừng phát nguyện như thế.

        Phật đến vườn Lộc Uyển vì năm vị Tỳ Kheo mà chuyển bánh xe pháp Tứ Diệu Ðế. Lần thứ nhất nói :"Ðây là khổ, tính bức bách ; đây là tập, tính chiêu cảm ; đây là đạo, tính có thể tu ; đây là diệt, tính có thể chứng".

        Lần thứ hai nói :"Ðây là khổ, ta đã biết ; đây là tập, ta đã đoạn ; đây là đạo, ta đã tu ; đây là diệt, ta đã chứng.

        Lần thứ ba Phật nói :"Ðây là khổ, ông nên biết; đây là tập, ông nên đoạn ; đây là đạo, ông nên tu ; đây là diệt, ông nên chứng".

        Sau khi Ðức Phật nói ba lần, pháp Tứ Diệu Ðế, bèn nói với Kiều Trần Như :"Hiện tại các ông bị khách trần quấy nhiễu nên không đắc được giải thoát". Kiều Trần Như khi nghe hai chữ "khách trần" thì lập tức khai ngộ. Khách là gì ? Khách tức chẳng phải là chủ nhân. Trần là gì ? Tức là bụi bặm, không thanh tịnh. Tự tính của chúng ta tức là chủ nhân, tự tính vốn thanh tịnh. Cho nên lúc đó ông ta khai ngộ. Khai ngộ thì gọi "giải bốn tế", tức là minh bạch nguồn gốc đạo lý, trở thành "giải không đệ nhất".

        Pháp Tứ Diệu Ðế vô cùng vô tận. Hôm nay chúng ta giảng "Thanh Văn chúng Tăng", "Dù nam hay nữ". Nói về chứng quả thì bất cứ nam hay nữ đều có thể chứng quả, chứng quả tức là Thanh Văn, tức là A La Hán. Vínhư mẹ của Pháp Sư Cưu Ma La Thập chứng được tam quả A La Hán.

        "Tu pháp Tứ Ðế". Tức là tu pháp Tứ Diệu Ðế : Khổ, tập, diệt, đạo ; biết khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Phải tu pháp môn Tứ Diệu Ðế này.

        "Ẩn thật hiển quyền". Bạn thấy những vị này là Thanh Văn, nhưng kỳ thật là đại Bồ Tát phương tiện thị hiện làm Thanh Văn, cho nên đây gọi là "ẩn thật". Ẩn tức là ẩn náu công đức thật sự của các Ngài. Hiển quyền : Hiển tức là hiển hiện, quyền tức là quyền xảo phương tiện. Bạn đừng cho rằng các Ngài là Thanh Văn, là tiểu thừa mà xem thường, đừng như thế. Các Ngài đều là Bồ Tát thị hiện ; không phải hoàn toàn đều là Bồ Tát, nhưng ở trong đó nhất định có các đại Bồ Tát đó hiện thân tiểu thừa để tiếp dẫn người tiểu thừa hướng về đại thừa, cho nên gọi là "ẩn thật hiển quyền". Ðó là pháp giới của bậc Thanh Văn.

Pháp giới của trời 

Lục dục Phạm Thiên
Ngũ giới thập thiện
Chủng hữu lậu nhân
Luân hồi nan đoạn.

Tạm dịch :

Lục dục Phạm Thiên
Năm giới mười thiện
Trồng nhân hữu lậu
Luân hồi khó dứt.

        Hôm nay chúng ta giảng về "Lục dục Phạm Thiên".

        Thứ nhất là sáu cõi trời dục giới, sáu cõi trời dục giới gọi là trời dục giới. Trời dục giới, trời sắc giới, trời vô sắc giới đó gọi là tam giới.

        Hiện tại chúng ta ở trong phạm vi trời Tứ Thiên Vương thuộc trời dục giới. Chúng ta chịu sự cai quản của Tứ Ðại Thiên Vương. Cõi trời này nằm ở giữa núi Tu Di. Núi Tu Di có một nửa ở tại nhân gian, phần nửa trên là chỗ ở của Tứ Thiên Vương. Tứ Thiên Vương ở bốn hướng đông tây nam bắc của núi Tu Di, đồng thời cai quản tứ thiên hạ đó là Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lưu Châu. Nếu nói tỉ mỉ thì rất nhiều nói không hết được.

        Tuổi thọ của chư Thiên ở cõi trời Tứ Thiên Vương này bao lâu ? Năm trăm tuổi ! Năm trăm tuổi của họ chẳng phải là năm trăm tuổi ở nhân gian, một ngày một đêm ở đây, bằng năm mươi năm ở nhân gian. Bạn hãy tính xem năm trăm tuổi ở cõi trời Tứ Thiên Vương là bao nhiêu năm ở nhân gian? Tuổi thọ ở cõi trời này là năm trăm tuổi mà ở nhân gian năm mươi năm thì một ngày một đêm ở cõi trời Tứ Thiên Vương, bạn hãy tính xem, nếu 365 ngày thì ở nhân gian bao nhiêu năm ? Nếu bạn biết tính thì sẽ tính được số mục, đây là trời Tứ Thiên Vương.

        Thứ hai là trời Ðao Lợi. Trời Ðao Lợi là Tiếng Phạn, dịch ra gọi là gì ? Không biết. Không biết dịch ra là gì thì gọi là "trời không biết". Trời không biết tức là trời Tam Thập Tam, Tiếng Phạn gọi là Ðao Lợi, dịch ra là trời Tam Thập Tam. Sao gọi là trời Tam Thập Tam ? Vì trời Ðế Thích ở chính giữa. Trời Ðế Thích ở trong Chú Lăng Nghiêm tức là "Nhân Ðà La Gia", tức cũng là Chúa của Thiên Chúa giáo, Gia Tô giáo. Người Tàu gọi y là Ngọc Hoàng đại đế, hoặc là Thượng đế.

        Thời xưa người Tàu không biết có Phật, cũng chẳng biết có Thượng đế. Cho nên vào thời vua Thang khi tế trời thì nhà vua dùng con bò đen để tế trời, khấn rằng :"Bẩm ! Tôi tiểu tử tên Lý, dám dùng bò đực đen, dám bẩm với hoàng hoàng hậu đế". Hoàng hoàng ý nghĩa là lớn ; Hoàng hoàng hậu đế. "Thân trẩm có tội chứ chẳng phải lão bá tánh ; nếu lão bá tánh có tội tức là tội tại thân của Trẩm". Vua Thang nói :"Tôi tiểu tử tên Lý", vua Thang tên gọi là Lý, vua coi mình như đứa trẻ, rất khiêm nhường nói :"Con là một tiểu tử vô dụng", giống như một đứa trẻ. "Dám dùng bò đực đen", con dám dùng bò màu đen, "dám khải bẩm với Hoàng hoàng hậu đế", con rất chí thành khẩn thiết bẩm với Thượng đế. Nói gì ? Nói : "Nếu trẩm có tội", nói có tội thì chỉ mình trẩm có tội, chẳng dính dáng gì đến lão bá tánh. "Nếu lão bá tánh có tội thì tội đó ở tại thân trẩm. Nếu một số lão bá tánh có tội thì đừng trách họ, vì con không dạy họ cho tốt, cho nên tội của họ tức là tội của con".

        Bậc Thánh nhân thời xưa là như thế, tự mình trách phạt mình, chẳng phải như người thời nay, biết rõ là mình có tội, thế mà cứ nói :"Ồ ! lỗi đó chẳng quan hệ gì đến tôi, đó là lỗi của anh ta, là anh ta không đúng, sao lại trách tôi ?", hoặc là "Ông trời thật không công bằng, tại sao họ giàu có ? còn tại sao tôi nghèo ? Tại sao họ lại sang còn tôi thì quá hèn ?" Luôn luôn oán trời trách người mà việc gì cũng chẳng trách mình không đúng ; đều tìm sự không đúng của người, trái hẳn với Thánh nhân thời xưa là trách mình không đúng.

        Trên cõi trời Ðao Lợi thì trời Ðế Thích ở chính giữa, hướng đông có tám trời, hướng tây có tám trời, hướng nam có tám trời, hướng bắc có tám trời, cộng hết thảy là ba mươi ba trời.

        Thứ ba là trời Dạ Ma. Trời Dạ Ma cũng là Tiếng Phạn, dịch là gì ? Chư Thiên cõi trời này khoái lạc vô cùng, suốt ngày đến tối đều ca hát. Ca hát gì? Họ đặc biệt vui mừng ca hát "sung sướng, sung sướng ! Tôi rất sung sướng vô cùng ! Tôi rất sung sướng vô cùng !" Ngày đêm sáu thời đều sung sướng, cho nên dịch là "thời phần" nghĩa là thời khắc đều sung sướng.

        Thứ tư là trời Ðâu Suất. Trời Ðâu Suất, Tiếng Phạn gọi là Tushita dịch là "Hỷ túc". Họ luôn luôn đều hoan hỉ, luôn luôn đều đầy đủ, đó tức là tri túc thường lạc. Vì họ biết tri túc cho nên luôn luôn vui vẻ, do đó gọi là trời "Tri Túc", nghĩa là suốt ngày đến tối chẳng sầu, chẳng lo, chẳng có phiền não, chẳng có sự lo âu.

        Thứ năm là trời Hóa Lạc. Họ biến hóa ra sự khoái lạc. Cõi trời Tri Túc họ chẳng biến hóa mà cũng hoan hỉ biết đủ, thậm chí không khoái lạc họ cũng biết đủ. Trời Hóa Lạc này biến hóa ra sự khoái lạc.

        Thứ sáu là trời Tha Hóa Tự Tại. Sao gọi là Tha Hóa ? Tức là họ vốn chẳng có sự khoái lạc, cho nên họ đem sự khoái lạc ở các cõi trời khác làm sự khoái lạc cho chính mình, cho nên gọi là Tha Hóa Tự Tại. Ở cõi trời này có rất nhiều thiên ma, dùng thiên ma làm quyến thuộc. Tại sao họ phải đem sự khoái lạc ở cõi trời khác về làm sự khoái lạc cho chính mình ? Vì họ sống chẳng đếm xỉa gì đến đạo lý. Giống như kẻ trộm cướp ở nhân gian, đa số đều là những chư thiên Trời Hóa Lạc bị đọa lạc, họ đến nhân gian còn thói trộm cắp tiền của người, làm tiền của chính mình. Trên đây là sáu cõi trời dục giới.

        Phạm Thiên tức là Ðại Phạm Thiên, Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên. Lục dục Phạm Thiên, "Năm giới Mười thiện". Họ đắc được phước báu sinh về cõi trời là nhờ tu năm giới, làm mười điều lành. Song le năm giới mười điều lành đều là căn lành hữu lậu, cho nên nói "trồng căn hữu lậu" : tức là trồng căn lành hữu lậu. Hoặc có người biên "trồng nhân hữu lậu", chữ "nhân" thay thế chữ căn cũng được, trồng nhân hữu lậu. "Khải hữu tha yên" (câu cuối này vốn ở trong pháp giới của loài người), người khác chẳng quản được, đều do tự mình tạo.

        Giảng Kinh thuyết pháp thật không dễ dàng, tôi chẳng chuẩn bị trước khi giảng, có người nói :"Sư phụ giảng sai !" Ðó là trong tâm nghĩ như thế chứ không dám nói ra, song le con người tôi cũng lạ thật, một khi bạn nghĩ trong tâm của bạn thì tôi nhận được điện báo của bạn, cho nên tôi phải đổi lại câu sau :"Luân hồi khó dứt" phải chăng ? Lần này tôi đúng phải chăng ? Có phải trong tâm của bạn nói tôi giảng sai, phải chăng ? (đệ tử nói :"phải"), chẳng phải một người nghĩ như thế, còn bao nhiêu người phải mau nói ra, ai tưởng như thế ? Phải thành thật, nếu không thành thật thì vĩnh viễn sẽ không thành đạo.

Pháp giới của loài người
Nhân đạo hòa hợp
Công tội tương gian
Ðức thăng nghiệt đọa
Khởi hữu tha yên.
Tạm dịch :
Con người hòa hợp
Phước tội lẫn lộn
Ðức thăng nghiệt đọa
Do mình làm nên.

        Ðường A tu la nguy hiểm như thế, vậy loài người thì sao ? Người cũng có thiện, cũng có ác, cho nên nói :"Con người hòa hợp, phước tội lẫn lộn ; đức thăng nghiệt đọa, do mình làm nên". Con người tính tình ôn hòa, đều hòa hợp với mọi người, cho nên nói : "Con người hòa hợp".

        Ðược làm người cũng chẳng phải hoàn toàn thiện, cũng chẳng phải hoàn toàn ác. Hoàn toàn thiện thì được thăng lên trời, hoàn toàn ác thì đọa làm súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Cho nên con người vừa có chút công vừa có chút tội, hoặc là công nhiều tội ít, hoặc là tội nhiều công ít. Công nhiều tội ít, hoặc là tội nhiều công ít. Công nhiều tội ít thì sinh vào gia đình giàu có, công ít tội nhiều thì sinh vào gia đình nghèo khổ.

        "Công tội lẫn lộn" vừa có chút công vừa có chút tội, chẳng phải thuần âm cũng chẳng phải thuần dương. Thuần âm thì sẽ biến thành quỷ, không được làm người, thuần dương thì thăng lên trời, không được làm người. Cho nên chúng ta làm người vừa có thể lên trời lại có thể đọa địa ngục. "Ðức thăng nghiệt đọa". Bạn làm công đức thiện thì thăng đi lên, nếu bạn tạo tội nghiệt thì đọa đi xuống.
        "Do mình làm nên". Người khác chẳng kêu bạn đọa địa ngục, chẳng kêu bạn đọa ngạ quỷ, chẳng kêu bạn biến làm súc sinh mà đều do bạn tự mình tạo, do đó "mình làm mình chịu".

Pháp giới của A Tu La
Tu la tính bạo
Hữu phước vô quyền
Hiếu dũng đấu lang
Phù trầm nghiệp khiên.

 Tạm dịch :
Tu la tính dữ
Có phước không quyền
Ưa thích đấu tranh
Trôi nổi theo nghiệp.

        A tu la là tiếng Phạn dịch là "vô đoan chính", vô đoan chính tức là xấu xí. Song le chỉ là nam A tu la tướng mạo xấu xí, ngược lại nữ A tu la tướng mạo rất xinh đẹp. Tính của nam A tu la rất thích đấu tranh, đấu tranh bên ngoài, tính của nữ A tu la cũng thích đấu tranh nhưng đấu tranh bên trong, chẳng phải đấu tranh bên ngoài. Thế nào là đấu tranh bên trong ? Tức là dùng vũ khí tâm để đấu tranh, đó là đố kị, chướng ngại, vô minh, phiền não.

        Loài chúng sinh này có khi được liệt vào trong ba đường lành tức là trời, người, A tu la ; có khi liệt vào bốn đường ác đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A tu la.

        Ở trong loài súc sinh cũng có A tu la, trong loài người cũng có A tu la, trên trời cũng có A tu la ; loài ngạ quỷ cũng có A tu la. Riêng A tu la đã có một pháp giới, song vẫn thông với ba pháp giới khác, cho nên ở trong bốn loài này đều có A tu la. Nói tóm lại, bất cứ ở trong loài nào mà chúng thích đấu tranh, tính nóng giận lớn, muốn làm ông chủ, muốn làm chỉ huy người khác mà không muốn họ chỉ huy mình, muốn quản lý người mà không muốn người quản lý mình, đó đều là biểu hiện của A tu la. Nếu bạn chưa thấy A tu la thì tôi có thể nói cho bạn biết. A tu la gồm có A tu la thiện và A tu la ác. A tu la thiện tức là quân đội, binh, tướng của quốc gia, đó đều là A tu la. A tu la ác là đảng cướp, trộm cướp, giết người, đánh người, đó đều là A tu la. Ðó đều ở trong loài người chúng ta đều thấy.

        Trên trời cũng có A tu la. A tu la trên trời thì đánh với binh trời tướng trời, suốt ngày đến tối cứ muốn chiếm ngôi vị trời Ðế Thích, muốn lật đổ trời Ðế Thích để cho y làm Ðế Thích. Nhưng đánh đi đánh lại chúng cũng đều thua. Tại sao ? Vì chúng có phước trời mà không có quyền lực ; chúng có thể ở trên trời hưởng phước trời nhưng chẳng có quyền lực, cho nên tuy đánh với binh trời tướng trời nhưng trước sau vẫn thua.

        Trong loài súc sinh cũng có A tu la sao ? Phải đó ! Súc sinh A tu la như là cọp, sư tử, sói lang, đó đều là A tu la ở trong loài súc sinh. Loài A tu la này tự phụ những loài súc sinh khác. Sói, cọp, sư tử đều bắt những súc sinh khác ăn thịt. Tại sao chúng phải ăn loài súc sinh khác ? Vì chúng có tính A tu la. Ngoài ra rắn, chim ưng cũng là A tu la.
        Nói tóm lại, A tu la tức là không nói về đạo lý, nóng giận hung hăng, bất cứ đối với ai cũng luôn luôn nổi nóng. Trong loài quỷ cũng có A tu la, thứ A tu la này cũng tự phụ những quỷ khác.

        Trong loài quỷ cũng có quỷ thiện và quỷ ác. Quỷ ở trong quỷ ác cũng không nói đạo lý. Bổn lai quỷ thì không nói đạo lý, song quỷ A tu la càng không nói đạo lý ! Cho nên nói "Tu la tính dữ", tính của chúng rất hung dữ tàn bạo.
        "Có phước không quyền". Chúng chỉ có phước trời mà chẳng có quyền lực. Chúng muốn tranh quyền đoạt lợi, song vẫn tranh không được. 

        "Chuyên thích đấu tranh". Chúng thích đấu tranh với người. Bây giờ bạn thấy trên thế giới này đều là A tu la giới, đều nói về đấu tranh, đấu tranh về vấn đề này, đấu tranh về vấn đề kia, đánh giết với nhau.

        Ông Lâm Bưu (kế thừa Mao Trạch Ðông) của Trung Quốc là sói lang tái sinh, cho nên ác vô cùng, y có thể chỉ huy trăm vạn đại quân, y có phương pháp khiến cho họ đều phục tùng vâng theo. Chu Ân Lai kiếp trước là người, y là người rất thông minh vô cùng, có thể thông minh hơn Gia Cát Lượng, cho nên thế giới suy sụp mà y vẫn lập vững lên được.

        Tôi đã nói những bí mật này khoảng năm sáu năm về trước, nhưng các bạn không chú ý. Bây giờ có người hỏi :"Hòa Thượng biết ông Lâm Bân là sói lang, còn Chu Ðức (phó chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc khi Mao Trạch Ðông làm chủ tịch). Chu Ðức là sư tử. Lại có người hỏi: "Còn tôi là gì?" Bạn là bạn, tôi là tôi. Tôi chỉ nói những người nổi tiếng trên thế giới, người không nổi tiếng thì miễn nói.

        Cho nên đó đều là A tu la, chúng chuyên thích đấu tranh, đấu tranh một trăm năm, hai trăm năm, ba trăm năm, năm trăm năm, một ngàn năm mà không biết mệt ! Cho nên Phật pháp đến thời kỳ đấu tranh kiên cố là thời đại mạt pháp này.

        Song, chúng ta mọi người phải phát nguyện :"Chúng ta không muốn mạt pháp, chúng ta phải chánh pháp ! Chúng ta đi đến đâu thì nơi đó biến thành chánh pháp" ! Nếu chúng ta phát nguyện này thì dù thời mạt pháp, nhưng chúng ta đi đến đâu thì nơi đó sẽ biến thành chánh pháp. Nếu ai ai cũng phát nguyện này thì ai ai cũng đều thành tựu nguyện này. Ðến thời đại mạt pháp mà làm cho biến thành chánh pháp, đó gọi là trời đất đảo ngược, làm cho trời đất chuyển mình. 

        "Chìm nổi theo nghiệp". A tu la hoặc sinh cõi trời, hoặc ở trong loài người, loài súc sinh, loài ngạ quỷ đều do nghiệp lực dắt dẫn, mới khởi hoặc tạo nghiệp, thọ báo, cho nên nói chìm nổi theo nghiệp, do nghiệp lực dẫn dắt. Người tu hành nên nhớ đừng tranh với ai, đừng có nóng giận thì lìa khỏi sự quan hệ với A tu la.

        Nếu phân tích tỉ mỉ về A tu la thì trong chín pháp giới có năm pháp giới đều có A tu la. Ở trong pháp giới súc sinh, loài biết bay thì có A tu la biết bay, loài biết đi thì có A tu la biết đi, ở trong nước thì có A tu la ở trong nước như cá sấu. Ngựa cũng có A tu la, do đó "ngựa hại bầy", có thứ ngựa này ở đâu thì bầy ngựa chẳng được yên, luôn luôn quấy nhiễu. Còn bò ? Bò đa số cũng là A tu la, bạn thấy trên đầu bò có hai cái sừng, đó là biểu thị tính ương ngạnh, dùng để chọi vật khác, đó là tính A tu la. Còn chó càng là A tu la ! Cho nên ai thích nuôi chó tức là gần gũi với A tu la ; bạn gần gũi A tu la thì tương lai sẽ gần gũi A tu la, gần gũi thì sẽ có nguy hiểm ; e rằng sẽ đi vào con đường A tu la. Các bạn phải đặc biệt chú ý, coi chừng đừng đi vào đường A tu la.

Pháp giới của ngạ quỷ


 Quỷ loại hỉ sân
Muội quả mê nhân
Vô minh điên đảo
Nhật tích nguyệt thâm.

 Tạm dịch :

 Ngạ quỷ thích giận,
Mê muội nhân quả
Vô minh điên đảo,
Ngày càng chồng chất.

        Hầu hết ai cũng đều biết quỷ, có người tin có quỷ, có người nói chẳng có quỷ, thậm chí là Phật giáo đồ cũng chẳng tin có quỷ. Quỷ là gì ? Quỷ thuộc về âm khí, có bóng mà chẳng có hình, có hình mà chẳng có bóng. Hoặc bạn thấy chúng một bóng đen, bạn nghiên cứu kỹ thì chúng biến mất, hoặc nhìn thấy chúng tựa như người, nhưng nháy mắt thì chúng chẳng còn nữa. Hiện tượng này không dễ gì hiểu được.

        Trong mười pháp giới, bây giờ chúng ta giảng đến pháp giới của ngạ quỷ. Quỷ có bao nhiêu loại ? Cũng có nhiều loại như cát sông Hằng, vô cùng vô tận. Quỷ gồm có tài quỷ và vô tài quỷ. Tài quỷ là quỷ có thế lực, làm quỷ vương trong loài quỷ. Quỷ vô tài là quỷ chẳng có thế lực, tức cũng là quỷ nghèo. Vì chúng nghèo cho nên chúng quấy phá nhiễu loạn người, đến khắp nơi gây nhiễu loài người. Nếu bạn muốn biết quỷ có bao nhiêu loại thì bạn hãy tu đạo, khi nào bạn khai mở ngũ nhãn lục thông thì sẽ biết quỷ có bao nhiêu loại.

        Có người nói chẳng có quỷ, tôi nói với y, nếu không có quỷ thì cũng chẳng có Phật, cũng chẳng có người, cũng chẳng có loài súc sinh nào. Vì súc sinh cũng là quỷ biến thành, người cũng là quỷ biến thành, A tu la cũng đều là quỷ biến thành, cho đến chư Thiên, A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật đều từ quỷ mà ra. Tại sao ? Vì "mười pháp giới không lìa một tâm niệm". Một tâm niệm này tạo thành mười pháp giới.

        Bạn làm việc quỷ thì đọa vào đường ngạ quỷ; làm việc người thì đầu thai vào loài người; làm việc A tu la thì tái sinh vào loài A tu la. Bạn làm việc A La Hán thì sinh vào pháp giới A La Hán; Bạn làm việc Duyên Giác thì sinh vào pháp giới Duyên Giác, bạn làm việc Bồ Tát thì làm quyến thuộc của Bồ Tát; Nếu bạn làm việc Phật thì thành Phật, nếu bạn làm việc địa ngục thì đọa vào địa ngục, đó đều do một tâm niệm hiện tiền của bạn tạo thành, cho nên mới nói mười pháp giới không lìa khỏi một niệm này.

        "Ngạ quỷ thích giận". Phàm là loài quỷ thì thích nóng giận, sinh tâm sân hận. Người đối với chúng tốt, chúng cũng sinh tâm sân hận; đối với chúng không tốt chúng cũng sinh tâm sân hận. Chúng thích nhất là gì ? Là nhiễu loạn người khác. Bạn đối với chúng tốt, chúng cũng nhiễu loạn bạn, bạn đối với chúng không tốt, chúng cũng nhiễu loạn bạn, cho nên mới nói ‘đốt hương dẫn chúng đến’. Bổn lai bạn đốt hương là cung kính chúng. Bạn không cung kính chúng thì chúng không nhiễu loạn bạn; khi bạn cung kính chúng thì chúng nhiễu loạn bạn, khiến cho bạn sinh bệnh. Cho nên Khổng Tử nói :"Cung kính quỷ thần phải xa chúng". Bạn cung kính quỷ thần thì nên cung kính nhưng đừng gần gũi chúng, phải lìa xa chúng, cho nên nói ngạ quỷ thích giận.

        "Mê muội nhân quả". Chúng chẳng hiểu gì là nhân, gì là quả, mê muội nhân quả, cho nên chúng chẳng biết tốt xấu. Bổn lai trồng nhân tốt thì kết quả tốt, trồng nhân thiện thì kết quả thiện, trồng nhân không thiện thì kết quả ác; trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Chúng chẳng hiểu đạo lý này, cũng chẳng hiểu gì là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Chúng trồng hành lại muốn ăn ớt, trồng ớt lại muốn ăn dưa. Cho nên chúng chẳng hiểu đạo lý này, cho nên gọi là mê muội nhân quả, không hiểu nhân quả.

        Chúng "vô minh điên đảo", "ngày càng chồng chất", càng ngày càng tích tụ nhiều vô minh điên đảo, càng ngày càng sâu dày, càng sâu dày thì chúng càng tạo nghiệp, cho nên nói ngày càng chồng chất.

Pháp giới của súc sinh 



Súc sinh hiếu tham 
Ða nhi vô yểm 
Tương hắc tác bạch 
Thị phi mạc biện. 

Tạm dịch : 

Súc sinh tham lam 
Nhiều chẳng biết chán 
Lấy đen làm trắng 
Không biết phải trái. 

        Ở trên đã giảng qua bảy pháp giới đều là pháp giới tốt, có thể đi thử xem. Nhưng ba pháp giới này đừng đi thưởng thức, đừng đi xem thử. 
Một khi bạn đi thử xem, thì e rằng thoát ra không khỏi, do đó có câu : "Một khi mất thân người, vạn kiếp khó được lại". Khi bạn mất đi thân này thì ngàn vạn kiếp sợ rằng cũng không được làm thân người, cho nên rất là nguy hiểm, không nên đi du hí thử. Song, có người nói : "Có vẻ tựa như du hí". 
Nhưng y chưa nhận thức sự du hí này ra sao, sự thấy hiểu vô minh của y không rõ ràng, nhận thức không rõ ràng.

 

        Súc sinh chẳng phải là một loại súc sinh, súc sinh cũng có trăm ngàn vạn ức giống loài khác nhau, có loài thì bay, loài thì đi, loài ở dưới nước, loài ở dưới đất, loài ở trên hư không. Riêng loài súc sinh biết bay có hàng trăm ngàn vạn ức loại khác nhau. 
Còn loài súc sinh đi cũng không ít, có lớn có nhỏ; nhỏ thì như chuột, lớn thì như voi, ngựa, nai, gấu, bò. . . . 
Súc sinh ở trên mặt đất cũng có trăm ngàn vạn ức loại. Súc sinh ở trong nước như chó nước, trâu nước, ngựa nước, heo nước, cũng có trăm ngàn vạn ức loại.
 

        Chúng ta e rằng không cách chi biết hết được, dù tiến bộ về vật lý, hóa học, sinh vật học, động vật học, bác sĩ hoặc chuyên gia cũng không cách chi biết hết được. Cho nên trên thế gian này, bạn thấy có phải trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng chăng ? 

        Những súc sinh này do đâu mà biến làm súc sinh ? 
Chỉ do một chữ "tham" mà biến làm súc sinh ! "Súc sinh tham lam", tham lam tức là bất cứ thứ gì cũng đều tham nhiều, ít thì không chịu. 
Cho nên nói "nhiều chẳng biết chán", vì tham nhiều mà không chán, cho nên "lấy đen làm trắng". Ðen chúng cũng chẳng biết là đen, chúng nói "Ồ ! đây là trắng". Lấy đen làm trắng, đó là biểu hiện chúng chẳng có lý tính.

 Chẳng có lý tính thì tham nhiều; bất cứ gì cũng tham nhiều, thậm chí phân, chó cũng tham nhiều. Giống như chó ăn phân, chúng càng ăn càng thích nhiều, càng ăn càng ngon. Ðó là đồ dơ bẩn, người trông thấy thì :"Ồ ! sao mà ăn được hay ?" 
Chúng càng ăn thì cảm thấy càng thơm, càng ngon ngọt, đó là như thế, nhiều mà chẳng biết chán. Lấy đen làm trắng, không tốt mà chúng cho rằng tốt, gì chúng cũng tham nhiều, thậm chí bệnh hoạn, chúng cũng tham nhiều, một chứng bệnh chúng hiềm không đủ, phải hai chứng bệnh, uống thuốc chúng cũng muốn uống nhiều, đó là tham nhiều.

 

        "Chẳng biết phải trái", chúng cũng chẳng biết đúng, cũng chẳng biết sai, trái phải cũng chẳng biết, không rõ ràng, đó tức là chẳng có lý tính. Sao chúng chẳng có lý tính ? Vì có chữ "tham", có chữ tham này thì hồ đồ, vô minh che đậy, vô minh che đậy cho nên gì chúng cũng chẳng biết.

 

        Cho nên chúng ta đừng tham, đừng nói :" Người xuất gia không tham tiền tài, nhưng càng nhiều càng tốt". Bạn tham nhiều thì có nguy hiểm. Tham nhiều thì dễ biến làm súc sinh. Bạn nói :"người xuất gia không thể đọa lạc". Nếu bạn không y theo giới luật của Phật tu hành thì sẽ đọa lạc càng nhanh. 
Cho nên người xưa có câu nói : "Ðịa ngục môn tiền tăng đạo đa." Nghĩa là trước cửa địa ngục Tăng và Ðạo sĩ nhiều vô số. Những người xuất gia và đạo sĩ tâm tham lam đều ở trước cửa địa ngục nói :"Mau đưa tôi vào địa ngục ! mau để cho tôi vào trước ! Vào đó có nhiều trò chơi lắm ! Họ cảm thấy nơi đó là nơi chơi lý tưởng lắm, cho nên họ muốn vào. Khi vào rồi thì mới biết chẳng phải là chỗ chơi.

 Pháp giới của địa ngục


 Ðịa ngục ưu khổ
Vô môn tự toàn
Khởi hoặc tạo nghiệp
Thọ báo tuần hoàn.

Tạm dịch :

Ðịa ngục thống khổ
Không cửa tự vào
Khởi hoặc tạo nghiệp
Quả báo xoay vòng. 

        "Ðịa ngục thống khổ". Ðiạ ngục là nơi khổ nhất, vậy các bạn ai muốn đến nơi đó du lịch thì tùy lúc đều có thể đến, tôi có thể bảo chứng thì các bạn tức khắc sẽ đến, sao thế nào ? 

Do đó có câu :

"Hễ sầu muộn thì dạo chơi cõi điạ ngục,
Hễ vui cười thì già thành trẻ trung,
Hễ khóc lóc thì ở phòng tối chốn âm ti". 

        Bạn thấy đó ! Nếu bạn sầu muộn thì trồng xuống hạt giống dưới địa ngục. Nếu bạn cười thì trồng xuống hạt giống chốn Thiên đàng. 

        "Tự cổ thần tiên vô biệt pháp": Thuở kia thần tiên chẳng có phép gì lạ. "Chỉ sinh hoan hỉ bất sinh sầu": Luôn luôn vui cười mà chẳng bao giờ buồn rầu. Cho nên nói : "Hễ sầu muộn thì dạo chơi chốn địa ngục", đi du lịch dưới địa ngục. Nếu bạn luôn luôn vui cười thì đã già cũng giống như còn trẻ. Nếu bạn khóc lóc cũng chỉ là phiền não. 

        Tóm lại, địa ngục chẳng có gì sung sướng, mà là nơi thống khổ, song, địa ngục chẳng có cửa, cửa địa ngục là do mình tự mở, do mình tự đóng. Cho nên nói :"Không cửa tự vào". Bổn lai địa ngục chẳng có cửa, chẳng giống như ngục tù ở nhân gian, dùng sức người làm thành, ai phạm pháp thì nhốt vào ! Ở dưới địa ngục chẳng có cửa, song, cửa vào địa ngục là do bạn mở ra, đóng vào, bạn cứ đâm mình lao vào, vào không được cũng cứ lao vào.

        "Khởi hoặc tạo nghiệp". Tại sao đến địa ngục ? Vì vô minh, phiền não. Bạn ngu si rồi thì chẳng hiểu biết. Vì không hiểu biết cho nên tạo ra biết bao nghiệp ác, không tạo nghiệp thiện mà cứ tạo nghiệp ác.
        "Quả báo xoay vòng". Bạn tạo ra biết bao nghiệp ác thì phải đọa địa ngục, phải thọ quả báo. Thọ quả báo thì xoay vòng không dứt. Bạn tạo nghiệp gì thì thọ quả báo đó, tơ hào không sai mảy may, cho nên gọi là quả báo xoay vòng.

Thập Giới Nhất Tâm
Bất Ly Đương Niệm
Năng Giác Thử Niệm
Huyền Đăng Bỉ Ngạn
Tạm dịch :
Một tâm mười pháp giới
Không lìa niệm hiện tiền
Nếu ngộ tâm niệm tại này
Lập tức lên bờ kia.

        Mười pháp giới : Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, đây là bốn pháp giới của bậc Thánh. Trời, người, A tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, đây là sáu pháp giới của phàm phu, hợp lại là mười pháp giới. Mười pháp giới này từ đâu sinh ra ? Là từ một niệm tâm hiện tiền của chúng ta sinh ra. Cho nên nói : "Một tâm niệm mười pháp giới, không lìa một niệm hiện tiền". Mười pháp giới này không lìa khỏi một niệm hiện tiền của bạn.
        Năng giác thử niệm: Nếu bạn hiểu rõ về ý niệm hiện tại thì bạn sẽ lập tức đăng bỉ ngạn: tức khắc tới bờ kia, tức là Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật. Bờ kia là gì? Là sự giác ngộ, không còn mê hoặc; phá sạch vô minh. Khi vô minh phá trừ thì pháp thân sẽ xuất hiện. 

        Lời bàn của Huệ Quang:  Bài giảng Mười Pháp Giới Không Lìa Một Tâm Niệm của HT. Tuyên Hóa rất có ý nghĩa và nên được ứng dụng vào đời sống của mọi người.  Hình vẽ Mười Pháp Giới ở trên có ý nghĩa.  Quang đăng lại những câu thơ cho mười pháp giới ở trên với phông chữ to hơn để quý vị tham khảo: 

Pháp giới Đức Phật: 
Tâm ngộ thật tướng
Hiểu rõ tánh không
Tự giác giác tha
Từ bi hỷ xả.   

Pháp giới Bồ-Tát: 
Phát tâm Bồ Đề
Trên cầu thành Phật
Dưới độ chúng sanh
Quên mình hành đạo. 

Pháp giới Duyên Giác: 
Mười hai duyên khởi
Không thầy tự ngộ
Một sự thiền định
Gương mẫu giữa đời. 

Pháp giới Thanh Văn: 
Giúp đời đau khổ
Tâm cầu Niết bàn
Theo Phật học Pháp
Ruộng phước thế gian. 

Pháp giới trời: 
Khéo tu thập thiện
Tạo phước cúng dường
Sắc, vô sắc thiền
Là cõi chư Thiên.

Pháp giới A-tu-la: 
Phước báu như Trời
Đức lại kém Trời
Sân hận tật đố
Tranh đấu tham quyền. 

Pháp giới người: 
Giữ gìn ngũ giới
Hoặc ít hoặc nhiều
Sang, hèn, thọ, yểu
Theo nghiệp cảm chiêu.

Pháp giới súc sanh: 
Ngu si biếng lười
Dối gạt.  Giựt nợ: 
Làm thân súc vật
Đền trả cho người. 

Pháp giới ngạ quỷ: 
Tham lam bỏn sẻn
Ích kỷ ghét ganh
Thấy lợi giành tranh
Đói khổ hoành hành. 

Pháp giới địa ngục: 
Không tin nhân quả
Độc ác hại nhau
Chẳng kính Tam Bảo
Địa ngục khổ đau. 


Ý Trinh sưu tầm