Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật pháp ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật pháp ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2023

SƠ ĐỒ SƯỜN BÀI TU HỌC


TRÊN CON ĐƯỜNG TIẾN HOÁ CẦN PHẢI TỈNH THỨC ĐỂ NHẬN RÕ SỨ MỆNH, BÁM SÁT NỘI DUNG CỦA CON ĐƯỜNG TU TẬP MÀ MÌNH SẼ PHẢI ĐI QUA, TỪ ĐÓ THẲNG TIẾN, XÔNG PHA ĐI THẲNG QUYẾT CHÍ 1 LÒNG THỰC HÀNH CHẠM VÀO NÓ ĐỂ GỘT RỬA HẾT NHỮNG NGHIỆP QUẢ, TIẾN LÊN HOA SEN CỬU PHẨM





















Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2022

PHÁP Y NHẬT BẢN 半袈裟



















半袈裟 : PHÁP Y NHẬT BẢN (buddhist robes)

1. Bán ca-sa (Hangesa) giống như chiết ngũ điều, chiều dài bằng một nửa y xếp ngũ điều. “ca-sa nữa" dưới hình thức một dải vải dẹp mảnh, hai đầu có kết tua để cột lại, đeo lên cổ, thả trước ngực, dành cho những người thọ Tam Quy, Ngũ Giới.

2. Chiết Ngũ Điều (Origojyo) dài đến gần thắt lưng. Chiết Ngũ Điều để trơn hoặc thêu logo của tông phái. Tại Nhật Bản, tăng sĩ thường đeo Chiết Ngũ Điều khi không đắp y.

3. Luân ca-sa (Wagesa) may thành một dải tròn. loại cà sa này thường là của bên thiền tông nhật bản. 3 loại cà sa này là phương tiện vì sự tiện lợi mà đắp.

Trên hết vẫn là chính thống tam y (civarani).

Vậy tam y là gì?

Tam y không phải là y ba điều. Trong cà sa không có y ba điều.

a. An đà hội (antarvasa): y 5 điều, “Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, nay tôi kính tiếp nhận, đời đời không rời bỏ.” khi làm các việc nhang đèn phật sự trong tự viện, khi ra vào trong chùa...

b. Uất đa la tăng (uttarasanga):

y 7 điều, “Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, nay tôi kính tiếp nhận, đời đời thường khoác mặc." khi gặp đại chúng đồng tu, khi đi nghe giảng pháp, khi tụng kinh bái sám thọ thực...

c. Tăng già lê (sanghati): đại y, “Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, phụng hành lệnh Như lai, hóa độ cho tất cả.”

Được đắp khi vào hoàng cung gặp vua quan, khi gặp đại chúng, khi thuyết pháp giảng đạo, khi thay phật làm phật sự, khi khất thực hóa duyên... - Bậc Hạ: từ y 9 điều đến 13 điều. - Bậc Trung: có y 15 điều đến 19 điều. - Bậc Thượng: từ 21 điều đến 25 điều.



Nguồn gốc tên gọi và những biểu tượng của chiếc áo cà – sa


Theo Luật Tạng (Vinaya), Tăng đoàn của Phật lúc ban đầu ăn mặc không khác biệt gì với những người tu hành thuộc các truyền thống tôn giáo khác. Vì thế vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) đề nghị với Đức Phật xin cho các đệ tử được ăn mặc khác hơn để mọi người dễ nhận ra.


Theo Luật Tạng (Vinaya), Tăng đoàn của Phật lúc ban đầu ăn mặc không khác biệt gì với những người tu hành thuộc các truyền thống tôn giáo khác. Vì thế vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) đề nghị với Đức Phật xin cho các đệ tử được ăn mặc khác hơn để mọi người dễ nhận ra. Đúng vào thời điểm ấy, Đức Phật và người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà đang du hành ở phương Nam để thuyết giảng. Đức Phật nhìn thấy những thửa ruộng lúa hình chữ nhật, chia cắt bởi những con đê tăm tắp, liền bảo A-nan-đà cứ theo mẫu ấy mà may áo cho Tăng đoàn. Vì thế, trong kinh sách tiếng Hán, chiếc áo cà-sa còn gọi là Cát triệt y hay Điền tướng y, mảnh áo mang hình những thửa ruộng, tượng trưng cho sự phong phú và phúc hạnh.

Câu chuyện này cũng đã bắt đầu cho thấy những dấu hiệu của sự biến dạng. Cách so sánh khá thi vị trên đây đòi hỏi đến trí tưởng tượng và những ước mơ phù hợp với các tiêu chuẩn và quan niệm quy ước về hạnh phúc và giàu sang của thời đại bấy giờ, nghĩa là không có gì là Đạo Pháp cả. Chiếc áo cà-sa gồm nhiều mảnh ráp lại vì đó là những mảnh vải vụn nhặt được ở bãi tha ma, tượng trưng cho những gì tầm thường nhất và cũng để nhắc nhở người tu hành về tấm thân vô thường của họ.


Tiếng Hán còn gọi chiếc áo cà-sa là Đoạn phục, Pháp y, Nhẫn nhục khải, Giải thoát chàng, Cà-sa-duệ, Già-sa-dã…, các chữ này hàm chứa một ý nghĩa đại cương là dứt bỏ, bất chính, ô uế, nhiễm bẩn, có màu xích sắc (màu đỏ)… Theo sách tiếng Hán, áo không bắt buộc phải nhuộm bằng một màu nhất định nào cả, chỉ cần tránh không dùng năm màu chính là xanh, vàng, đỏ, trắng và đen, và đồng thời có thể pha trộn nhiều màu với nhau để tạo ra một màu xích sắc thật bẩn thỉu, đúng theo ý nghĩa nguyên thủy của chữ kasaya trong tiếng Phạn. Áo gồm nhiều mảnh, có thể mỗi mảnh một màu, vì đó là những mảnh vải nhặt được và khâu lại với nhau. Ngày nay tùy theo học phái, địa phương, phong tục, khí hậu…mà chiếc áo cà-sa cũng biến dạng đi, từ cách may cho đến màu sắc: màu vàng ở Ấn độ và các nước theo truyền thống Nam tông; các màu vàng, màu lam, nâu, nâu đỏ (nhuộm bằng vỏ cây mộc lan, hay củ nâu) như ở Việt Nam và Trung quốc; màu lam ở Hàn quốc; màu đen hay nâu đen (màu trà) ở Nhật; màu vàng nghệ hay nâu đỏ ở Tây tạng… Nói chung có ba màu chính gọi là như pháp cà-sa sắc tam chủng (ba màu sắc của áo cà-sa theo phép quy định): tức màu gần như đen (màu thâm, màu bùn đất), màu xanh (màu rỉ đồng), màu gần như đỏ (màu hoa quả).

Pháp y của người tu hành gồm có ba loại: Đại, Trung và Tiểu. Loại nhỏ, Tiểu y, gọi là An-đà-hội (Antarvasaka), áo này gồm có năm mảnh ráp lại (ngũ điều). Áo kiểu Trung gọi là Uất-đa-la-tăng (Yttara-Samgha) gồm có bẩy mảnh (thất điều). Áo kiểu rộng, Đại y, gọi là Tăng-già-lê (Samghati), gồm chín mảnh (cửu điều). Trên đây là các loại áo cà-sa có gốc từ Ấn độ. Tùy theo xứ lạnh hay nóng bức, những nơi giá rét có thể mặc áo tiểu và trung bên trong, rồi mặc thêm áo cửu điều bên ngoài.

Chiếc áo cà-sa dùng để che thân, để đắp, để gối đầu hoặc để gấp lại và ngồi lên đó như một tọa cụ. Kinh Bát-nhã có kể chuyện Đức Phật cùng với các đồ đệ sau khi khất thực về, ăn xong, Đức Phật tự lau rửa bình bát, sau đó tự tay xếp áo cà-sa làm tọa cụ và ngồi lên đó để thuyết giảng. Có khi các đồ đệ lấy áo của mình xếp chồng lên nhau để Phật ngồi.


Công dụng của chiếc áo cà-sa thiết thực như thế, nhưng dần dần người ta gán thêm cho nó nhiều đức tính khác nữa. Kinh Bi hoa kể chuyện áo Cà-sa ngũ đức và kể các đức ấy ra như sau:

1. Người thế tục nếu biết kính trọng cà-sa sẽ tiếp nhận được Tam Thừa (tức Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa),

2. Thiên long nhân quỷ nếu biết kính cà-sa cũng đắc Tam thừa,

3. Quỷ thần và chúng sinh chỉ cần bốn tấc vải của chiếc áo cà-sa cũng được no đủ,

4. Chúng sinh hằng tâm niệm về chiếc áo cà-sa sẽ phát sinh được lòng Từ bi,

5. Giữa nơi trận mạc, nếu có được một mảnh nhỏ áo cà-sa và biết cung kính mảnh áo ấy cũng thắng trận.

Một quyển kinh khác là Tâm địa quán kinh lại nêu lên đến mười điều lợi của chiếc áo cà-sa và gọi là Cà-sa thập lợi:

1. Che thân khỏi thẹn ngượng,

2. Tránh ruồi muỗi, nóng rét,

3. Biểu thị các tướng tốt của người xuất gia,

4. Kho chứa châu báu (tức Diệu Pháp của Phật),

5. Phát sinh nghị lực gìn giữ giới hạnh,

6. Màu nhạt bẩn không làm phát sinh lòng ham muốn,


7. Mang đến sự thanh tịnh,

8. Tiêu trừ tội lỗi,

9. Mảnh đất tốt làm nẩy sinh Bồ-đề tâm,

10. Giống như áo giáp, mũi tên phiền não không đâm thủng được.

Kể lể dài dòng như trên đây chẳng qua vì mục đích muốn nêu lên một thí dụ điển hình trong việc thêm thắt và biến dạng đối với ý nghĩa của chiếc áo cà-sa. Chẳng hạn như đức tính thứ năm do Kinh Bi hoa kể: “nơi trận mạc, nếu có một mảnh nhỏ cà-sa và biết cung kính cũng thắng trận”, đức tính này có lẽ không phù hợp lắm với Đạo Pháp của Đức Phật.

Pháp phục Phật giáo Việt Nam hiện hành

Dù sao cũng xin phép được tiếp tục kể thêm rằng một vài kinh sách gốc Hán đã đặt cho chiếc áo cà-sa đến mười hai danh hiệu khác nhau và gọi là Cà-sa thập nhị danh:

1. Cà-sa,

2. Đạo phục (áo của người tu hành),

3. Thế phục (áo của người xa lánh thế tục),

4. Pháp y (áo đúng theo quy định trong Đạo Pháp),

5. Ly trần tục (áo xa lánh lục trần),

6. Tiêu sấu phục (áo có khả năng tiêu trừ phiền não),

7. Liên hoa phục (áo như hoa sen không nhiễm bùn nhơ),

8. Gián sắc phục (áo đem nhuộm cốt ý làm hư hoại màu sắc),

9. Từ bi phục (áo của người thực thi đức Từ bi),

10. Phúc điền phục (áo gồm nhiều mảnh giống như những mảnh ruộng tượng trưng cho sự giàu có và phúc hạnh),

11. Ngọa cụ (áo dùng để lót lưng khi nằm),

12. Phu cụ (áo dùng làm chăn để đắp).




Tăng bào


Phước điền y là tăng bào, là đạo phục biểu thị cho nhiều đức tính và đức tướng giải thoát. “thử tại tâm trung xuất hình ư ngoại” – do tâm giải thoát nên biểu hiện tướng giải thoát, trong đó vật dụng của chư tăng như y và bát cũng đơn điệu, giản dị.



Từ thế tục cho đến tôn giáo, thậm chí có những hội đoàn, quân đội… đều có màu sắc, dáng kích sắc phục khác nhau. Nhìn vào phân biệt ngay là đoàn thể, tổ chức hay tôn giáo nào, ngay cả trong một tôn giáo còn có nhiều sắc phục khác nhau cho mỗi hệ phái, dòng tu… Tăng bào còn gọi là pháp phục, pháp y của tăng sĩ nhà Phật.

Từ thời đức Phật, gọi là y ca sa, người sau gọi là “áo giải thoát, còn gọi là Phước điền y”.

Thời gian đầu thành lập Tăng đoàn, chư tăng vẫn phải sử dụng y phục giống các tu sĩ ngoại giáo. Để phân biệt tu sĩ của Cồ Đàm và tu sĩ các tôn giáo khác, vua Tần Bà Sa La đề nghị với Phật xin cho các đệ tử được ăn mặc khác hơn để mọi người dễ nhận ra. Theo Luật Tạng Đại Phẩm tập 2: “Vào lúc bấy giờ, các vị Tỳ kheo nhóm Lục sư mặc các y cà sa màu ngà voi chưa được cắt. Dân chúng phàn nàn, phê phán chê bai rằng: “Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy”. Các vị đã trình sự việc lên đức Thế Tôn, Ngài dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, không nên mặc các y chưa cắt; vị nào mặc thì phạm tội dukkata.”

Nhân lúc, Phật và Anan đi giảng thuyết ở Dakkhināgira, Ngài nhìn thấy ruộng lúa ở Magadha có hình vuông cách nhau bằng đường bờ ranh đê, Ngài liền bảo Anan theo mẫu ấy may y cho chư tăng: “Này Ānanda, ngươi có khả năng tạo nên các y có kiểu mẫu như thế cho các vị Tỳ kheo không? Bạch Thế Tôn con có khả năng.” Anan liền tạo mẫu theo lời dạy của Phật, Phật rất vừa ý và khen “A Nan Đa là người khéo léo, ngay cả trong lĩnh vực khâu vá! Một Sa môn đủ đức hạnh là người biết tự khâu vá mảnh y của mình, không để chỉ viền bung ra và không bao giờ bị chỉ trích là phí phạm vật dâng cúng của các hàng thiện nam tín nữ”.

Y ca sa của một Tỳ kheo có ba loại: ngũ y, thất y và đại y (25 điều). Y không sử dụng gấm vóc lòe loẹt sang trọng, không dùng vải lông thú, tơ tằm để tổn hại sinh vật; chỉ cần vải thường thô sơ khỏi phí phạm của bá tính. Do đó, trong Luật tạng ghi rằng: “Phật chế tam y câu dụng, thô sơ ma bố, thú mao tàm khẩu hại vật thương từ, y khả bất giới dư?”

Ba y gồm “tiểu, trung và đại”. Theo luật nghi Khất sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang quy định, ba y gồm có y thượng mặc khi hành lễ hoặc đi ra khất thực, trung y là loại mặc ở trong và hạ y là mặc ở dưới.

Luật Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu gọi Ngũ y (pháp y 5 điều), gồm 5 mảnh, cả tấm y gồm 10 mảnh, cứ một mảnh dài ráp với một mảnh ngắn theo chiều dọc gọi là một điều.

Trung y mặc ở trên. Y này gồm 7 mảnh nên còn gọi là y thất điều, cả tấm y gồm 21 miếng, cứ 2 miếng dài thì 1 miếng ngắn ráp lại thành một điều.


Đại y là đắp ngoài của chư tăng. Y này gồm 9 mảnh nên còn gọi là y cửu điều. Cả tấm y gồm 27 miếng, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn ráp lại gọi là một điều. Luật tạng cũng quy định, tùy theo cấp bậc và đạo hạnh mà chiếc y Tăng già lê có thể có từ 9 đến 25 điều. Những vị càng đạo cao đức trọng càng có tấm y Tăng già lê nhiều điều.

Cũng theo Phật giáo Bắc truyền thì Y Ca sa có 3 bậc: Thượng, Trung và Hạ, chia thành chín phẩm:

– Bậc Hạ: từ y 9 điều đến 13 điều. Ba y này mỗi điều có 2 khoản dài, 1 khoản ngắn.

– Bậc Trung: có y 15 điều đến 19 điều. Ba y này mỗi điều có 3 khoản dài, 1 khoản ngắn.

– Bậc Thượng: từ 21 điều đến 25 điều.

Ba y này mỗi điều có 4 khoản dài, 1 khoản ngắn. Y 25 điều tức là Y Bá nạp, vì trong 4 khoản dài, 1 khoản ngắn, tính ra có trên 100 miếng vải nhỏ nối ráp lại, nên cũng là y Bá nạp. Như vậy, quan điểm Bắc truyền khác với nguyên thủy về ba y, vì Bắc truyền bên trong nội y mặc đồ vạc khách, đồ ngắn, ba y kia để đi ra ngoài, khi tiếp khách hoặc lúc hành lễ.

Khởi nguyên trước khi chế ra hình thức điều, chư tăng nhặt vải từ nghĩa địa, từ đường cái, từ hố phân, từ giường chẻ, vải tẩy uế, vải từ chỗ tắm, vải trên đường về nghĩa địa, vải bị cháy, bị gia súc ăn, bị kiến ăn, bị chuột ăn, vải rách, vải làm cờ, vải bỏ từ điện thờ, y của nhà khổ hạnh, vải từ cuộc lễ, vải do thần thông biến hoá, vải gió bay, vải do thiên thần bố thí, vải trôi giữa biển, lấy một trong những thứ vải này, vị ấy nên xé bỏ những mảnh rách nát, giặt sạch những mảnh lành lặn để làm thành một cái y, gọi là y phấn tảo. Hiện nay chư tăng tại một số tu viện lớn ở Sri Lanka hay Miến Điện vẫn còn giữ được truyền thống đó.

Tại sao phải ba y? Theo truyền thuyết, đức Thế Tôn nhìn thấy một số chư tăng có vị cuộn y đội đầu, kẹp nách, có vị thì cuộn y ở vai, có vị thì cuộn y ở hông, Phật liền hạn chế về y cho các Tỳ kheo. Vào một đêm mùa đông, tuyết sa rất lạnh, đầu đêm Thế Tôn đắp chiếc y nhập vào thiền có giác, có quán, đến lúc nửa đêm cảm thấy hơi lạnh, Thế Tôn bèn đắp thêm chiếc y thứ hai, nhưng đến cuối đêm, lại cảm thấy lạnh hơn, bèn đắp thêm chiếc y thứ ba. Thế rồi, Ngài suy nghĩ: “Các đệ tử của Ta chỉ cần mặc ba y (ngày xưa Ấn Độ tu sĩ chỉ đắp y mà không mặc áo như Bắc truyền) là đủ ngăn ngừa những khi quá lạnh, quá nóng, đề phòng muỗi mòng, che khuất sự hổ thẹn, không làm tổn thương đến thánh thể. Nếu ai không chịu nổi rét lạnh thì Ta cho phép đắp thêm những chiếc y cũ kĩ.”

Sáng sớm hôm sau, Thế Tôn đi đến chỗ các Tỳ kheo, Ngài chế giới mỗi Tỳ kheo chỉ nên sắm và mặc ba y: “Từ hôm nay trở đi, Ta cho phép các Tỳ kheo chỉ cất giữ chừng ba y. Nếu được vải mới thì may một y Tăng già lê hai lớp, một y Uất đa la tăng một lớp và một y An đà hội một lớp. Nếu ai không kham chịu lạnh thì Ta cho phép tùy ý sử dụng thêm những chiếc y cũ.”

***

Sau khi chế tác các “y điều”, Tăng Huy ký giải thích: “Trong ruộng chứa nước, sinh trưởng mầm lúa, lấy gạo nuôi dưỡng thân mạng, còn Pháp Y là ruộng bởi thấm nhuận nước Tứ Tư Lương:

1. Phước Đức Tư Lương, tức thiện căn của việc Bố thí, Trì giới… hành 5 Pháp trong Lục Độ.

2. Trí Đức Tư Lương, tức do tu tập pháp thứ 6 trong lục độ, hành trì pháp chính quán cho nên đắc được diệu trí.

3. Tiên Thế Tư Lương, do kiếp trước tu tập tích tụ thiện căn cho nên đời này có đầy đủ phước trí trang nghiêm.

4. Hiện Pháp Tư Lương, do công năng tu tập ở đời này mà được phước trí đầy đủ. Làm tăng trưởng mầm Tam Thiện (tức vô ham, vô sân, vô sỉ, nhân đó mà sinh vô lượng thiện pháp) lấy các pháp đấy làm chất dinh dưỡng để nuôi lớn Pháp Thân Huệ Mạng.

Nhuộm y thành màu ca sa là không còn giữ được màu sắc chính, đã được nhuộm bằng nước do các vỏ cây giã ra, đặc biệt là từ gỗ và vỏ cây mít băm vụn, đun trong nồi, biên thành màu hoại sắc. Nghĩa là không xanh, vàng, đỏ, trắng, đen… Xưa kia do lượm vải chắp vá nên sắc màu không đồng nhất, vì thế không nhất thiết phải nhuộm như sau này. Thích Thị Yếu Lãm ghi rằng: “Áo Cà sa do nơi màu sắc mà được gọi tên như vậy, tiếng Phạm gọi đủ là Ca La Sa Duệ. Xứ này gọi là không chính sắc”. Trong Tứ phần Luật dạy: “Tất cả các màu thuộc chính sắc đều không được dùng làm màu của áo Ca sa, màu của áo Ca sa dược dùng là màu hoại sắc…”. Trong Nghiệp Sớ ghi: “Màu của Ca sa được định vào thời Lương Võ Đế, dùng màu đỏ thêm vào mực đen cho ngả sắc thành nâu, đây là màu hoại sắc của đạo phục tăng ni”.

Về sau xã hội hòa nhập, giao lưu trên thế giới, tùy tập quán, khí hậu, thổ nhưỡng mà chiếc áo cà sa cũng phần nào cải cách, từ cách may cho đến màu sắc để phân biệt hệ phái tông phong của mỗi quốc gia. Ở Ấn Độ và các nước theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy nhuộm y nâu, đỏ bầm; ở Việt Nam, Trung Quốc y cà sa nhuộm các màu vàng đậm, vàng tươi; ở Hàn Quốc y cà sa nhuộm màu lam; ở Nhật Bản y cà sa nhuộm màu đen hay nâu đen (màu trà); ở Tây Tạng, y cà sa nhuộm màu nâu đỏ…

Do giá trị của Tăng bào mà có nhiều định nghĩa khác nhau trong Giáo luật Bắc truyền như: Y Ca sa còn gọi là Giải thoát phục, là ly nhiễm phục.

Kinh Hiền Ngu Phật dạy: “Ca sa là áo xuất thế”. Kinh Như Huyễn Tam Muội Phật dạy: “Ca sa là Y Vô cấu, còn gọi là Y nhẫn nhục, Y Liên hoa vì không nhiễm bùn nhơ, Y Tràng tướng vì không bị tà ác làm cho khuynh ngã, Y Điền tướng vì khi người nhìn thấy không sinh tâm ác, Y Tiêu sấu vì người đắp y này có thể diệt trừ các phiền não, còn gọi là Y Ly trần, Y khứ uế”.

Theo sách Phật chế Tỳ kheo Lục Vật Đồ thì y cà sa có 12 tên gọi là:


1. Cà sa;

2. Đạo phục (áo của người tu hành theo đạo Phật);

3. Thế phục (áo của người xa rời thế tục);

4. Pháp y (áo theo đúng pháp quy định);

5. Ly trần phục (áo của người thoát tục);

6. Tiêu sầu phục (áo có khả năng tiêu trừ phiền não);

7. Liên hoa phục (áo như hoa sen không nhiễm bùn);

8. Gián sắc phục (áo không dùng năm màu chính để nhuộm);

9. Từ bi phục (áo của người thực hành đức từ bi);

10. Điền tướng y (áo theo hình thửa ruộng);

11. Ngọa cụ (dụng cụ để ngồi);

12. Phu cụ (dụng cụ dùng để đắp).

Do giá trị uy đức của chư tăng sử dụng y, nên đời sau để làm tăng giá trị của y tướng, nên Kinh Bi hoa nói về 5 đức tính của y như:

1. Người thế tục nếu biết kính trọng cà sa sẽ tiếp nhận được Tam Thừa (tức Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa).

2. Thiên long nhân quỷ nếu biết kính cà sa cũng đắc Tam thừa.

3. Quỷ thần và chúng sinh chỉ cần bốn tấc vải của chiếc áo cà sa cũng được no đủ.

4. Chúng sinh hằng tâm niệm về chiếc áo cà sa sẽ phát sinh được lòng Từ bi.

5. Giữa nơi trận mạc, nếu có được một mảnh nhỏ áo cà sa và biết cung kính mảnh áo ấy cũng thắng trận.

Trong kinh Tâm Địa Quán thì nêu lên 10 lợi ích của chiếc y cà sa, đó là: Che thân khỏi thẹn ngượng; tránh ruồi muỗi, nóng rét; biểu thị các tướng của sa môn; sinh phúc cõi phạm thiên; nảy sinh bảo tháp tướng diệt mọi tội; màu không rực rỡ không làm nảy sinh lòng ham muốn; vĩnh viễn đoạn trừ phiền não; tiêu trừ tội lỗi, nảy sinh điều thiện; như nơi đất tốt có thể làm nảy sinh lòng bồ đề; như giáp trụ, mũi tên độc phiền não không làm hại được.

***

Như vậy, phước điền y là Tăng bào, là đạo phục biểu thị cho nhiều đức tính và đức tướng giải thoát. “Thử tại tâm trung xuất hình ư ngoại” – do tâm giải thoát nên biểu hiện tướng giải thoát, trong đó vật dụng của chư tăng như y và bát cũng đơn điệu, giản dị.

Từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, ảnh hưởng tín ngưỡng bản địa và cung cách lễ nghi tôn giáo, phong cách thiền đã mờ nhạt trước trào lưu lễ nhạc cung đình. Tăng bào phần lớn ảnh hưởng đình đám ma chay trở thành lễ phục sắc màu lòe loẹt. Áo hậu đôi tay lụng thụng như phẩm phục vua quan, pháp y là những mảnh vải lụa gấm kết hợp màu sắc thế tục. Hình tướng gần giống áo mão cân đai triều phục, lễ nhạc không xa với âm điệu cung đình. Những bậc chân tu giữ đúng Giới luật Phật chế ẩn thân nơi chốn non cao núi thẳm. Vì thế, tín đồ không còn biết đạo Phật chính thống là thế nào. Nhìn lại hình ảnh đức Thế Tôn và Tăng đoàn đầu trần chân đất:

Một bát cơm ngàn nhà,

Thân chơi muôn dặm xa,

Mắt xanh xem trần thế,

Mây trắng hỏi đường qua

(Đường xưa mây trắng – HT.Thích Nhất Hạnh)

***

Những bậc có chí hướng xuất ly tam giới mới chọn nếp sống “tam thường bất túc”, cuộc sống giản dị thanh bần. Tỳ kheo có 3 nghĩa: Khất sĩ, Bố ma, Phá ác, thì pháp tướng là điều tiên quyết thể hiện chân tâm ly trần.

Ngày nay, chư tăng ưu tư cho những pháp phục không đồng nhất, khó phân biệt trật tự giữa các giáo phẩm, các hệ phái… nên đã từng có những cuộc hội thảo đặt ra từ điền y đến pháp phục. Ngoài ba y mà Phật chế, nay có thêm pháp phục. Truyền thống Phật giáo Việt Nam xa xưa, “áo nhật” màu lam các chú sa di thường mặc, “áo tràng” màu mà các thầy sử dụng chấp tác lao động hoặc đi ra ngoài. Áo hậu màu vàng và pháp y dùng để hành lễ. Như vậy ba y chỉ dùng cho lúc hành lễ, không như hệ phái Khất sĩ và Phật giáo Nam tông pháp y là vật bất ly thân.

Hòa thượng Thích Thiện Siêu cho biết, trong Luật Nghi ghi rằng: “Phật chế ba pháp y là áo mặc duy nhất của Tăng đồ khi thọ Giới và cũng để làm trang phục hoạt dụng thường ngày như hành lễ, thuyết pháp thọ trai, khất thực…, vì đó là y phước điền, y giải thoát trong giới đức tinh nghiêm biểu hiện sự trang sức, là lễ phục đẹp nhất của người tu sĩ Phật giáo”.




Trong đời sống hội nhập, Phật giáo Việt Nam không còn là ốc đảo biệt lập, vì thế nhiều yếu tố đặt ra, trong đó thống nhất về pháp phục mà sắc màu phước điền y là quan trọng; nhưng thật tâm mà nói, nếu chỉ chú trọng giải quyết về ngoại tướng gọi là thống nhất pháp phục thì khó mà thành công nếu không chú trọng khuyến giáo và nâng cao chí hướng xuất trần, có thế Phật giáo mới kìm hãm được những hành tung sa lầy thế tục. Hiện tượng pháp y không còn chế tác đúng với luật nghi, chẳng những thế lễ lộc cũng được một số nơi chế tác quá đà lạc sang thế tục hóa. Cũng từng có nhà sư giữ chức sắc nghi lễ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay, làm tượng Phật bằng hàng mã để đốt như từng đốt hình nhân. Phật giáo đã đi quá xa nguồn cội thế sao? Chả trách họ đem kinh điển ra ngã giá cho mỗi tang ma đám cúng! Thế thì áo mũ cân đai sắc màu thế tục múa lửa đình đám cũng chỉ làm trò mua vui chứ không còn là thể hiện nhân cách giải thoát của đệ tử Phật.


Phước điền y Nguyên thủy, được phục hoạt bởi Tổ sư Minh Đăng Quang vào nửa thế kỷ XX tại miền Nam Việt Nam. Sau đó năm 1930, Phật giáo Nam tông xuất hiện để hình ảnh Tăng đoàn đức Phật xa xưa tái hiện. Tuy tăng bào nguyên thủy xuất hiện khá muộn tại Việt Nam so với Phật giáo các quốc gia Nam truyền, dẫu sao cũng còn lưu truyền giá trị để cho quần chúng hiểu được thế nào là một “giải thoát y – phước điền y”. Đức Phật khi xưa đã dạy:

“Ai mặc áo cà sa

Tâm chưa rời uế trược

Không tự chế, không thực

Không xứng áo cà sa”. (Pháp cú, 9)

“Ai rời bỏ uế trược

Giới luật khéo nghiêm trì

Tự chế, sống chân thực

Thật xứng áo cà sa”. (Pháp cú, 10)

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

Ý Trinh Pháp Khí Bát Bảo Cát Tường


Ý NGHĨA CỦA BÁT BẢO KIẾT TƯỜNG
  • Phật Giáo là sự kế thừa phát huy đến tột cùng của Tôn Giáo cổ Ấn Độ, tức Đạo Bà La Môn, nên có nhiều tri thức được tiếp nối trong Giáo Pháp. Bát Cát Tường Bảo chính là như vậy. Trong Phật Giáo Tây Tạng, Bát Cát Tường Bảo được gọi là "Trát Tây Đạt Kiệt" ... Cũng được gọi là Bát Cát Tường Huy với ý nghĩa luân chuyển thuận chiều kim đồng hồ trên các Mạn Đà La. 

  • Khi các biểu tượng cát tường này xuất hiện tại bất kỳ nơi nào thì nơi đó trở thành sự gia trì hoàn hảo. Tám tướng cát tường khi được vẽ kết hợp lại với nhau thành một tổng thể được gọi là trí tuệ Bản Lai, chính là hóa thân Phật dưới hình thức biểu tượng cát tường để ban gia trì lợi ích chúng sinh. 

  • Ngày nay, không có nhiều người biết về nguồn gốc và ý nghĩa của các biểu tượng Phật giáo. Các hình ảnh, họa tiết Phật giáo nói chung và đặc biệt là Phật giáo Kim Cương thừa không bao giờ được người nghệ sĩ trình bày một cách ngẫu nhiên tùy hứng mà đều là thông điệp cát tường mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc. Từ khuôn mặt Phật Bản tôn hướng về bên phải hay bên trái, các thế ấn của Ngài, sự lựa chọn đồ vật trang trí, pháp khí, các loài linh thú cho đến màu sắc của một cánh sen đều nhằm tạo ra từ trường gia trì cát tường và thể hiện ý nghĩa Phật pháp riêng biệt cho hành giả và đại chúng có phúc duyên chiêm bái.

  • Trong số các biểu tượng cổ điển và phổ biến nhất của văn hóa Phật giáo phải kể đến tám tướng cát tường. Nguồn gốc của tám tướng này được tìm thấy trong những kinh điển cổ xưa của Ấn Độ và được cho là có mối liên hệ với Thân – Khẩu – Ý giác ngộ của Đức Phật. Các ý nghĩa đó có thể được mô tả toát yếu như sau:

1. Bảo Tán Cái (Lọng báu): 


Tượng trưng cho đầu của đức Phật. Lọng có ý nghĩa bảo vệ tránh sự thiêu đốt của phiền não, đọa lạc và thoát khỏi khổ đau. Khi tặng lọng báu cho ai, ngụ ý cầu nguyện người đó luôn nhận được sự gia hộ và che chở của Tam Bảo.



2. Song ngư (Cặp cá vàng): 

Tượng trưng cho đôi mắt của đức Phật. Biểu tượng này chỉ sự tỉnh thức, không xao lãng và luôn linh hoạt như cá bơi trong nước, đồng thời cũng là biểu tượng của sự tươi tốt, mãn nguyện, không còn khổ đau. Cặp cá vàng còn tượng trưng cho lòng từ bi và trí tuệ, tự do tự tai trong mọi nơi, mọi lúc.


3. Bảo Bình (Bình báu): 

Tượng trưng cho cổ của đức Phật. Bình báu được tin là chứa đầy vật phẩm quý giá linh thiêng, cho dù có lấy ra bao nhiêu thì vẫn đầy ắp trong bình. Điều này cũng giống như chúng ta thực hành hạnh bố thí và cúng dường, các vật phẩm đó sẽ không mất đi mà được chuyển vào bảo bình bất tận này. Ngoài ra, bình báu cũng tượng trưng cho sự trường thọ và giàu sang phú quý. Khi tặng bình báu cho người nào ngụ ý cầu nguyện cho người đó được những lợi ích này.



4. Liên Hoa (Hoa sen): 

Tượng trưng cho lưỡi (kim khẩu) của đức Phật. Hoa sen tượng trưng cho bản tính thanh tịnh, chân thật của chúng sinh, nêu biểu cho sự tu tập của hành giả đã vượt khỏi luân hồi trở về với tự tính Phật thanh tịnh. Hoa sen là một trong những biểu tượng cát tường nhất của đạo Phật, có khả năng ban sự gia trì giải thoát đau khổ và đem đến thành tựu, may mắn.



5. Bạch Hải Loa (ốc tù và): 

Tượng trưng cho Pháp âm của đức Phật. Bạch hải loa màu trắng có những xoắn theo chiều kim đồng hồ tượng trưng cho chính pháp của đức Phật vang rộng, lan tỏa khắp muôn phương, khiến chúng sinh nghe được liền thức tỉnh khỏi vô minh đau khổ. Bạch ốc tượng trưng cho sức mạnh, quyền lực và sự tự chủ. Âm thanh của vỏ ốc biển (tù và) xua đuổi tà ma, ngăn chặn thiên tai và làm cho các loài độc hại kinh sợ. Trong khóa lễ theo nghi thức Phật giáo Kim Cương thừa, tù và vừa được sử dụng làm nhạc cụ vừa được dùng để đựng nước cúng dường.



6. Kiết Tường Kết (Nút thắt vô tận): 

Tượng trưng cho Ý của đức Phật và nêu biểu cho sự hợp nhất từ bi và trí tuệ. Hình ảnh sợi dây bện chặt chỉ sự kết nối chặt chẽ của các hiện tượng trong vũ trụ như một vòng khép khín của nhân và quả, nó tượng trưng cho sự thống nhất và hài hòa cân đối, sự bất khả phân của từ bi và trí tuệ. Về mặt nhân quả thì quả thiện trong tương lai bắt nguồn từ nhân lành trong hiện tại. Vì nút cát tường tượng trưng cho sự kết nối, nên khi chọn nút thắt vô tận làm quà tặng thì ngụ ý rằng nút thắt này sẽ kết nối duyên lành giữa người tặng và người được tặng.



7. Thắng Lợi Chàng Phan (Tràng phan chiến thắng): 

Tượng trưng cho Thân của đức Phật. Tràng phan chiến thắng tượng trưng cho sự chiến thắng của đức Phật trước Ma vương và cũng là sự chiến thắng những tham ái, sân giận, nỗi sợ chết. Việc tặng tràng phan chiến thắng cho ai có ý nghĩa cầu chúc cho người đó thành đạt mọi tâm nguyện trong cuộc sống và trên con đường thành tựu tâm linh.



8. Pháp luân (Bánh xe luân chuyển): 

Tượng trưng cho bàn chân, bàn tay của đức Phật. Bánh xe có tám nan tượng trưng cho Bát chính đạo và sự diệu dụng của trí tuệ, giúp chấm dứt vô minh và đoạn tận khổ đau; trục bánh xe nêu biểu cho sự rèn luyện trong khuôn khổ giới luật, hỗ trợ cho tâm được ổn định; vành bánh xe biểu thị cho sự kiểm soát và nhất tâm trong khi hành thiền, giống như vòng bánh xe và nan bánh xe được giữ bởi trục của nó. Bánh xe Pháp luân tượng trưng cho giáo pháp – chân lý của vũ trụ luôn được trao truyền và trải rộng khắp muôn phương vì lợi ích tất cả chúng sinh.

  • Trong Phật giáo Kim Cương thừa, hình ảnh tám tướng cát tường được nhìn thấy ở nhiều nơi: trên tường và trần các ngôi tự viện, trên ngai, tòa ngồi, pháp khí, đồ thờ cúng, tranh cuộn, nhiều đồ vật tôn giáo và cả những vật dụng sinh hoạt hàng ngày. Chúng ta cần hiểu đây không chỉ là hình ảnh trang trí mỹ thuật thông thường mà là biểu tượng tâm linh vô cùng sâu sắc. Tập hợp Tám tướng cát tường tạo nên sự gia trì cát tường hoàn hảo. Tám tướng cát tường khi được vẽ kết hợp lại với nhau thành một tổng thể được gọi là trí tuệ Bản Lai, chính là hóa thân Phật dưới hình thức biểu tượng cát tường để ban gia trì lợi ích chúng sinh.























Tibetan eight treasures

The Ashtamangala 
(Sanskrit Aṣṭamaṅgala, 
Tibetan: བཀྲ་ཤིས་རྟགས་བརྒྱད་, 
THL: Trashi Takgyé;
Chinese: 吉祥八宝 Jíxiáng bā bǎo) are a sacred suite of Eight Auspicious Signs endemic to a number of Indian religions such as Hinduism, Jainism, and Buddhism. The symbols or "symbolic attributes" (Tibetan: ཕྱག་མཚན་, THL: chaktsen) are yidam and teaching tools. Not only do these attributes, these energetic signatures, point to qualities of enlightened mindstream, but they are the investiture that ornaments these enlightened "qualities" (Sanskrit: guṇa; Tibetan: ཡོན་ཏན་, THL: yönten). Many cultural enumerations and variations of the Ashtamangala are extant.


Groupings of eight auspicious symbols were originally used in India at ceremonies such as an investiture or coronation of a king. An early grouping of symbols included: throne, swastika, handprint, hooked knot, vase of jewels, water libation flask, pair of fishes, lidded bowl. In Buddhism, these eight symbols of good fortune represent the offerings made by the gods to Shakyamuni Buddha immediately after he gained enlightenment.





Right-coiled White ConchRight-coiled White Conch

  • The white conch which coils to the right symbolises the deep, far-reaching and melodious sound of the Dharma teachings, which being appropriate to different natures, predispositions and aspirations of disciples, awakens them from the deep slumber of ignorance and urges them to accomplish their own and others' welfare.





Precious UmbrellaPrecious Umbrella

  • The precious umbrella symbolises the wholesome activity of preserving beings from illness, harmful forces, obstacles and so forth in this life and all kinds of temporary and enduring sufferings of the three lower realms, and the realms of men and gods in future lives. It also represents the enjoyment of a feast of benefit under its cool shade.



Victory BannerVictory Banner

  • The victory banner symbolises the victory of the activities of one's own and others body, speech and mind over obstacles and negativitities. It also stands for the complete victory of the Buddhist Doctrine over all harmful and pernicious forces.



Golden FishGolden Fish

  • The golden fish symbolises the auspiciousness of all living beings in a state of fearlessness, without danger of drowning in the ocean of sufferings, and migrating from place to place freely and spontaneously, just as fish swim freely without fear through water.



Dharma WheelDharma Wheel


  • The golden wheel symbolises the auspiciousness of the turning of the precious wheel of Buddha's doctrine, both in its teachings and realizations, in all realms and at all times, enabling beings to experience the joy of wholesome deeds and liberation



Auspicious Drawing Auspicious Drawing

  • The auspicious drawing symbolises the mutual dependence of religious doctrine and secular affairs. Similarly, it represents the union of wisdom and method, the inseparability of emptiness and dependent arising at the time of path, and finally, at the time of enlightenment, the complete union of wisdom and great compassion.



Lotus FlowerLotus Flower

  • The lotus flower symbolises the complete purification of the defilements of the body, speech and mind, and the full blossoming of wholesome deeds in blissful liberation.



Vase of TreasureVase of Treasure

  • The treasure vase symbolises an endless rain of long life, wealth and prosperity and all the benefits of this world and liberation.

(Nguồn theo daibaothapmandalataythien.org )

Ý Trinh Pháp Khí Thất Bảo Luân Vương


THẤT BẢO


Thất bảo là bảy món quí báu

Trong A Di Đà Kinh, Đức Phật phán với Ngài Xá Lợi Phật rằng: Nơi cõi Cực Lạc, phía trên những ao thất bảo, thì có lầu các, đều bằng thất bảo hiệp thành, thất bảo đó là:

1. Kim





2. Ngân



3. Lưu ly



4. Pha lê




5. Xà cừ



6. Xích châu




7. Mã não




Thất bảo này rất đẹp đẽ, nó nghiêm trang nơi quốc độ Cực Lạc



Trong pháp bảo Đàn Kinh Tổ Huệ Năng có giảng rằng: Thất bảo ở cõi Cực lạc là bảy món của cải Thánh (thất Thánh tài) của nhà tu niệm:

1. Kim ( giới )

2. Ngân ( tín )

3. Lưu ly ( văn )

4. Pha lê ( tàm )

5. Xà cừ ( tấn )

6. Xích châu ( huệ )

7. Mã não ( xã )

Cho nên nhà tu niệm nên đắc bảy món Thánh tài ấy, còn hơn có được bảy món báo thế gian.

Thất bảo của vị Chuyển Luân Thánh Vương bao gồm:

1. Luân bảo: Xe báu dùng đi hàng phục thiên hạ

2. Tượng bảo: Voi báu

3. Mã bảo: Ngựa báu

4. Ma ni châu: Châu báu

5. Nữ bảo: Ngọc nữ ( bà vợ đẹp đẽ và hiền thục hơn hết )

6. Chủ tạng thần: Vị quan giữ kho tàng

7. Chủ binh thần: Vị quan giữ binh quyền

Vị Chuyển Luân Thánh Vướng mỗi khi ra đi thâu phục quốc độ nào đều có đem theo thất bảo ấy là binh tướng tùy tùng. Thất bảo của vị Chuyển Luân Thánh Vương có mô tả giảng rõ trong Kinh Đại Bát Niết Bàn ( quyển 12 )



Seven hallows vajrayana



  • Item name: Buddhism Wheel Wang Qizhen;

  • Material: copper alloy;

  • Color: golden, bronze colour;
  • Size: 60mmX85mm;
  • Pacakge include: 7 pcs per set;
  • Application: Buddhism decor, Collection, film props;

Buddhist Classic Bronze Color Tantric 7 pcs Auspicious Symbols Delicate Gilt King of Wheel Seven Treasures for Temple Decor

  • The History story:
Runner Wang Qibao for:
  • 1, round treasure: a symbol of the spread of the teachings of the Buddha.
  • 2, jewelry: table can cut off the root of poverty, growth reported income.
  • 3, Princess Po: table can break the root of ignorance, to know the performance of Empty, Tragic dual-shipped.
  • 4, Robinson: table can be inside and outside the dense three-bit fruit, eternal protection of Dharma meaning.
  • 5, like Po: table yield evil view, get the supreme fruit of the achievements.
  • 6, Ma Po: Table can be released from reincarnation, can increase the power of change, to reach the Holy Land of Buddha fruit.
  • 7, General Po: table to overcome the troubles of the enemy, destroy the evil group of evil, to reach the situation without slow.
As the seven treasures to support the Guru and the ten parties III all Buddhas and Bodhisattvas, merit is very large.



The Vajrayana Buddhism(Lamaism) Seven Auspicious

Seven auspicious, Tibetan, said, "扎西达杰" Tibetan painting are the most common and the profound meaning of a given combination of painting products. Most of the form of murals, there is also a small amount of carving and shaping three-dimensional shape, the eight auspicious signs are closely related with the Buddha or Buddhism.

Building for Success at the time of ancient India, a flag. Buddhist moral problems with buildings to escape the root of sin, a Zhengguo consciousness. Tibetan metaphor used their annoyance of 11 kinds of governance, namely ring, set, Hui, free, Great Mercy, empty with no wish to facilitate, without me, understanding the origin, from prejudice, by the blessing of the Buddha from the heart since clean conditions.

Aquarius monasteries of Tibetan Buddhism bottle of water purification equipment (mannose) and precious stones, there is inserted the bottle tree孔雀翎or wishful. That is, a symbol of good luck, purity and wealth, but also a symbol of Po are seamless, full福智Park, immortal.

Po umbrella of ancient India, the aristocracy, when members of the royal family travel to the umbrella cover yang, after the evolution of equipment for the guards of honor, for the supreme moral authority. Buddhist symbol of shelter umbrella魔障to protect Buddhism. Tibetan Buddhism also think, Po umbrella symbolizes the authority of the teachings of the Buddha.

Knot knot more auspicious auspicious meaning of the original symbol of love and devotion. According to the interpretation of Buddhism, is also a symbol of good luck if node follow the Buddha, there is the ability to survive the ocean from the recovered treasures of wisdom and consciousness of pearls.

Kingland ancient India, the round is a powerful weapon of mass destruction. Buddhism after the borrowing, as a symbol of Buddhism as the wheels kept rotating, does not stand still.

Gold fish in the water line, smooth obstacle. Buddhist metaphor that goes beyond its world, a free open-minded practitioners relief. Tibetan Buddhism, often a symbol of male and female goldfish release a pair of position, but also a symbol of recovery, eternal life, regeneration, such as Italy.

Aquarius monasteries of Tibetan Buddhism bottle of water purification equipment (mannose) and precious stones, there is inserted the bottle tree孔雀翎or wishful. That is, a symbol of good luck, purity and wealth, but also a symbol of Po are seamless, full福智Park, immortal.

Buddhist white conch on the sonic booms when the Buddha said the Quartet, such as Voice of conch. Therefore, this method will be a time when the regular blowing conch-ming. In Tibet, in order to right the most respected white conch, the reputation of being regarded as a symbol of the world far 3000, but also a symbol that is always echoed the voice of Bodhidharma.



Dưới đây là bảy món châu báu quý hiếm trên thế gian này mà ai ai cũng thích, ai ai cũng muốn có được, vì chúng quá hiếm và đắc tiền. Chúng ta đều làm lụng vất vả để tích trữ những món châu báu này từ đời này cho đến đời khác để dành cho con cháu.

Tuy nhiên có mấy ai biết được rằng những món châu báu này ở những nơi Phật ở lại có nhiều vô kể mà không ai thèm lụm tại nơi đó, bạn không thể tin được là có chuyện này phải không? Tuy nhiên điều này là có thật vì có rất nhiều dẫn chứng để lại trong các đoạn kinh.

Chúng ta không ngờ được rằng, chẳng cần dành dụm tí nào, mà chỉ cần yêu thương mọi người không mục đích, giúp đỡ mọi người không vụ lợi là khi mất ta tự nhiên sẽ về cõi Phật, nơi có bảy loại châu báu này có vô số mà bạn hằng mơ ước.

Kinh Vô Lượng thọ chép rằng:”Có loại cây vàng lá, hoa trái bằng bạc, hoặc có cây bạc, lá hoa trái bằng vàng, hoặc cây lưu ly có hoa trái bằng pha lê, hoặc có cây thủy tinh, lá hoa trái bằng lưu ly, có cây san hô, lá hoa trái bằng mã não, có cây mã não có hoa trái bằng lưu ly, có cây xà cừ lá hoa trái bằng các thứ báu”

Kinh A Di Đà chép :”Cõi ao cực lạc có nước bảy báu nước tám công đức đầy khắp trong đó, dưới đáy ao toàn là cát vàng, bốn bên bờ có vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành, trên có lầu gác cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Hiện Bảo Tháp chép :”Bấy giờ trước Phật có tháp bảy báu, vô số tràng phan trang sức, các tràng phan ấy dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, mã não, chơn châu, mai khôi bảy thứ báu như thế hợp thành, cao đến cõi trời tứ thiên vương”

Thế nên, đừng dại khờ tích trữ ở đời này chi cho mệt những loại châu báu này để rồi chết cũng không đem theo được, nhưng hãy làm điều thiện, điều lành để tạo nên những công đức lớn, làm với mục đích không vụ lợi sẽ tạo nên công đức vô lượng (không giới hạn), và khi mất đi bạn sẽ về những cõi có đầy châu báu này, lúc đó bạn có lấy xe tải chở cũng không ai thèm nói đến bạn, nhưng có lẽ đến lúc đó bạn sẽ không quan tâm đến chúng nữa, vì tâm của bạn đã tìm được điều khác thiêng liêng hơn, cao quý hơn rất nhiều là những châu báu tầm thường này.




Hãy luôn niệm Danh hiệu Phật

  • 🌹Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
  • 🌹Nam Mô A Di Đà Phật
  • 🌹Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát
  • 🌹Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
  • 🌹Nam Mô Di Lạc Tôn Vương Phật
  • 🌹Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Phật










(Theo PHDS của Thích Nữ Đức Trí)