Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Di Lặc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Di Lặc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

Kinh Bồ Tát Di Lặc Hỏi Phật Về Bổn Nguyện



Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Bồ Tát Di Lặc Hỏi Phật Về Bổn Nguyện

Thích Chánh Lạc

Nguồn: Thích Chánh Lạc




Nghe như vầy :

Một thời Phật du hóa tại vườn Nai, trong rừng Khủng Cụ, núi Diệu Hoa, nước Phi Kỳ, cùng đông đủ chúng đại Tỳ Kheo là năm trăm vị, tất cả hiền thánh thần thông đã đạt, đều là những Tỳ kheo được mọi người tôn kính. Tên của những vị ấy là : hiền giả Liễu Bổn Tế, hiền giả Mã Sư, hiền giả Hòa Ba, hiền giả Đại Xứng, hiền giả Hiền Thiện, hiền giả Ly Cấu, hiền giả Cụ Túc, hiền giả Ngưu Từ, hiền giả Lộc Kiết Tường, hiền Ưu Vi Ca Diếp, hiền giả Na Dực Ca Diếp, hiền giả Ca Dực Ca Diếp, hiền giả Đại Ca Diếp, hiền giả Sở Thuyết, hiền giả Sở Trước, hiền giả Diện Vương, hiền giả Nan Đề, hiền giả Hòa Nan, hiền giả La Vân, hiền giả A-Nan, ... Như vậy cả thảy năm trăm vị Tỳ kheo. Lại có Bồ tát như : Di Lặc ... năm trăm người, tên các vị ấy là : Bồ tát Tăng Ý, Bồ tát Kiên Ý, Bồ tát Biện Tích, Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí, Bồ tát Anh Kiết Tường, Bồ tát Nhuyến Kiết Tường, Bồ tát Thần Thông Hoa, Bồ tát Không Vô, Bồ tát Hỷ Tín Tịnh, Bồ tát Căn Độ, Bồ tát Xứng Độ, Bồ tát Nhu Nhuyến Âm Hưởng, Bồ tát Tịnh Độ, Bồ tát Sơn Tích, Bồ tát Cụ Túc, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi Căn Kiết Tường. Như vậy cả thảy năn trăm vị Bồ tát.

Bấy giờ Bồ tát Di Lặc từ tòa đứng dậy, sửa y phục ngay thẳng, qùy dài chấp tay bạch đức Phật :

- Con có điều muốn hỏi, cúi mong đức Thiên Trung Thiên cho phép con mới dám hỏi.

Đức Phật bảo Bồ tát Di Lặc :

- Ta hứa khả. Như Lai sẽ theo ý muốn của ngươi mà giải thích để tâm ngươi được hoan hỷ.

Bấy giờ Bồ tát Di Lặc được Phật cho phép nên vui mừng hoan hỷ bạch đức Thế tôn :

- Bồ tát có mấy pháp hạnh để vứt bỏ các ác đạo, không tùy thuận trong ác tri thức ?

Đức Phật dạy Bồ tát Di Lặc :

- Lành thay ! Lành thay ! Này Di Lặc ! Bồ tát có nhiều lòng thương xót, nhiều sự an ổn, thương yêu chư thiên và lòai người nên mới phát tâm hỏi đức Như Lai những nghĩa lý như vậy. Hãy suy nghĩ kỹ.

Bồ tát Di Lặc liền thưa :

- Thưa vâng bạch Thế tôn ! Con xin thọ giáo lắng nghe.

Đức Phật dạy :

- Này Di Lặc ! Bồ tát có một pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Môt pháp đó là gì ? Đó là ý đạo tịch tịnh bình đẳng. Đó là một pháp.

Đức Phật dạy :

- Này Di Lặc, Bồ tát lại có hai pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Hai pháp đó là gì ? Một là trụ nơi định vô sở khởi, hai là phương tiên phân biệt sở kiến. Đó là hai pháp.

Đức Phật dạy ;

- Này Di Lặc, Bồ tát lại có ba pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Những gì là ba ? Một là được pháp đại thừa, hai là đối với không, vô sở tập, ba là biết vô sở niệm. Đó gọi là ba pháp.

Đức Phật dạy :

- Này Di Lặc ! Bố tát lại có bốn pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Những gì là bốn ? Một là đứng trên giới, hai là đối với tất cả pháp không nghi ngờ, ba là thích ở chỗ an tịnh, bốn là quán sát bình đẳng. Đó là bốn pháp.

Đức Phật bảo :

- Này Di Lặc ! Bồ tát lại có năm pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Những gì là năm ?

1/ Thường lập đức nghĩa.
2/ Không mong cầu những điều hay dở của người khác.
3/ Thân hành tự tĩnh.
4/ Thường ưa chánh pháp.
5/ Không tự nghĩ thân mình, thường cứu người khác.

Đó là năm pháp.

Đức Phật bảo :

- Này Di Lặc ! Bồ tát lại có sáu pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Nhựng gì là sáu ?

1/ Không san tham
2/ Trừ bỏ tâm tệ ác
3/ Không ngu si
4/ Không nói lời thô tục
5/ Giữ ý như hư không
6/ Lấy không làm nhà.

Đó là sáu pháp.

Đức Phật bảo :

- Này Di Lặc ! Bồ tát lại có bảy pháp hạnh để bỏ cac ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Những gì là bảy ?

1/ Có ý quyền xảo
2/ Có thể phân biệt được các pháp bảo.
3/ Thường tinh tấn.
4/ Thường hoan hỷ
5/ Được tín nhãn
6/ Khéo hiểu định ý.
7/ Tóm thâu hết trí tuệ sáng.
Đó là bảy pháp.
Đức Phật bảo :
- Này Di Lặc ! Bồ tát lại có tám pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Những gì là tám ?
1/ Được trực kiến
2/ Trực niệm.
3/ Trực ngữ
4/ Trực họat
5/ Trực nghiệp
6/ Trực phương tiện
7/ Trực ý
8/ Trực định.

Đó là tám pháp.

Đức Phật bảo :

- Này Di Lặc ! Bồ tát lại có chín pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào ác tri thức. Những gì là chín ?

1/ Bồ tát đã giải thóat dục, xa lìa các ác, với pháp bất thiện không có tưởng niệm nên được tịch tịnh, hoan hỷ, hành nhất tâm bậc nhất.

2/ Đã trừ tưởng niệm, ý bên trong tịch tịnh, đã được nhất tâm, không tưởng, không hành, liền được định ý, tâm được hoan duyệt, hành nhất tâm thứ hai.

3/ Lìa quán hoan hỷ, thường được tịch tịnh, thân được yên ổn như các thánh hiền. Dù nói, dù quán, tâm ý không động, hành nhất tâm thứ ba.

4/ Đã đọan trừ khổ, vui, đã đình chỉ sự vui mừng hay buồn rầu, đã quán thấy không khổ không vui, tâm ý thanh tịnh, được nhất tâm thứ tư.

5/ Vượt qua sắc tưởng.
6/ Không còn nói về tưởng.
7/ Không còn nghĩ về tưởng nữa, đều nhập vào trí huệ về hư không nhiều vô số.
8/ Đã vượt qua vô số hư không huệ, nhập vào hạnh phúc vô biên xứ.
9/ Đã vượy qua các huệ thức tri, không còn tưởng hữu vô, vượt qua các huệ vô thức, liền nhập vào hạnh hữu tưởng vô tưởng, không thấy tưởng, được Tam muội tịch tịnh.

Đó là chín pháp.

Đức Phật bảo :

- Này Di Lặc ! Bồ tát lại có mười pháp hạnh để bỏ các ác đạo, không rơi vào trong ác tri thức. Nhựng gì là mười ?

1/ Được Kim cang Tam muội.
2/ Bất cứ ở đâu, Tam muội vẫn có tiến bộ.
3/ Được Tam muội giáo thọ thiện quyền.
4/ Được ngự độ Tam muội hữu niệm, vô niệm.
5/ Được Tam muội cùng khắp thế gian
6/ Được Tam muội bình đẳng về khổ và vui.
7/ Được Tam muội Bảo nguyệt.
8/ Được Tam muội Minh nguyệt.
9/ Được Tam muội chiếu sáng.
10/ Được Tam muội Nhị tịch, đầy đủ với tất cả các pháp.

Này Di Lặc ! Đó là mười pháp hạnh của Bồ tát để bỏ các ác đạo, không vào trong ác tri thức.

Bấy giờ Bồ tát Di Lặc dùng bài kệ để tán thán đức Phật :

Thế tôn sẵn lòng thí
Đầu, mắt chẳng tiếc gì
Giữ giới không vi phạm
Thờ giới không ai bằng
Đã hiện sức nhẫn nhục
Nhẫn nhục là mạnh nhất
Đã rõ sức tinh tấn
Tinh tấn là đại chí
Đã đọan tất cả ác
Đại huệ tịch là lực
Thanh tịnh huệ tự tại
Trí huệ thường bậc nhất
Dùng huệ để hàng ma ...
Thượng nghĩa lìa các uế
Thế tôn chuyển pháp luân
Hàng phục các ngọai đạo
Sắc đẹp không ai bằng
Tinh tấn vượt các bến
Khó có thể ví dụ
Thường giảng các pháp bảo
Vợ con và ẩm thực
Đức độ Phật vô cùng
Như chim hạc yêu lông
Công đức nhiều vô lượng
Bình đẳng với khổ, vui
Đức độ Phật vô lượng
Đức vô thượng, đối hại
Phật chuyên cần vô lượng
Đạo sư thích nhất tâm
Phật tịnh, thật vô cùng
Tự nhiên không khởi động
Phật minh thật vô cùng
Dưới cây được đại trí
Phật lực hàng phục ma
Thân lớn, Sư tử rống
Phật huệ độ chúng sanh
Giới đức và trí tuệ
Phật đạo hơn các đức
Vô thượng đại trí tuệ
Quang minh dẫn dắt chúng.

Bấy giờ hiền giả A-Nan bạch đức Phật :

- Thật chưa từng có, bạch Thế tôn ! Sở nguyện của Bồ tát Di Lặc nầy đầy đủ, thuyết pháp khuyết giảm, giảng pháp câu chữ bằng nhau, pháp cú đã nói không bị gò bó, giảng kinh hòan tòan không bị lọan.

Đức Phật dạy :

-Như vậy, như vậy, này A-Nan ! Như lời ngươi nói, Bồ tát Di Lặc đầy đủ biện tài, kinh pháp nói ra không bị khuyết giảm.

Đức Phật dạy :

- Này A-Nan ! Bồ tát Di Lặc không chỉ dùng bài kện này tát thán ta, nhưng trong một ngàn vô số kiếp ở thời quá khứ bấy giờ có đức Phật hiệu là Viêm Quang Cụ Hưởng Tác Vương, ngài là bậc Như Lai, Vô sở trước, Dẳng chánh giác, hiện tại thành huệ hành an định, thế gian phụ, Vô thượng sĩ, Đạo pháp ngự, Thiên thượng thiên hã tôn, Phật thiên trung thiên.

Bấy giờ có Phạm chí trưởng giả tên là Hiền Hạnh từ viên quán đi ra, đằng xa trông thấy đức Như Lai đang kinh hành, thân sắc chói sáng rực rỡ. Khi thấy xong, tâm ông suy nghĩ : " Lành thay, thật chưa từng có. Thân của đức Như Lai vòi vọi, không thể nghĩ lường như vậy, sắc sáng thật đẹp, oai thần chiếu diệu, có đức tốt đẹp để trang sức thân, monh cho đời sau của con được thân hình có đầy đủ sáng oai thần chiếu diệu như vậy, có đức tốt đẹp để tự trang nghiêm ! Khi mong ước như vậy xong, ông liền nằm dài dưới đất tâm niệm rằng : " Con mong đời sau được pháp thân như Như Lai, bậc Vô sở trước, Dẳng chánh giác. Mong đức Như Lai đi trên thân con ".

Bấy giờ đức Thế tonDiẹ6m Quang Cụ Hưởng Tác Vương Như Lai biết tâm niệm Phạm Chí Hiền Hạnh là trưởng giả tử như vậy nên ngài bước qua thân ông. Ngài vừa bước qua thân ông xong, ông liền pháp nhẫn bất khởi. Bấy giờ đức Phật quay lại nói với thị giả :

- Sở dĩ ta bước lên trên thân của Phạm chí Hiền Hạnh, con của trưởng giả là để ông ta ngay tức khắc được pháp nhẫn bất khởi, mắt có thễ thấy khắp, tai có thể nghe hết, biết được tâm người khác suy nghĩ, tự biết từ đâu sanh đến, thân có thể phi hành, thần thông cụ túc.

Đức Phật bước qua thân của Phạm chí Hìền Hạnh, ông liền có đầy đủ các trí, ngũ thông, không bị quên mất.

Khi ấy ông làm bài kệ tán thán Phật :

- Qua lại đời, đến mười phương
Nhân trung tôn, không ai bằng
Chỉ chí đạo nhơn các hành
Nguyện cúi kạy các đạo sư
Hơn ánh sáng các thế gian
Và ma-ni, hỏa diệm quang
Hào quang Phật là tối thượng
Nguyện cúi lạy các đạo sư
Như sư tử một lần rống
Các thú nhỏ đều khiếp sợ
Phật giảng pháp cũng như vậy
Đều hành phục các ngoại đạo
Tướng giữa mày trong mà suốt
Oai vô lượng như núi tuyết
Hào quang Ngài chiếu ba cõi
Phật ở đời không ai bằng
Tướng bánh xe dưới chân thánh
Bánh xe đẹp tới ngàn căm
Mặt đất này và núi non
Không thể động vô thương tôn.

Bấy giờ đức Phật bảo hiền giả A-Nan :

- Muốn biết trưởng giả tử, Phạm chí Hiền Hạnh lúc ấy là ai ? Nay chính là Bồ tát Di Lặc vậy.

Hiền giả A-Nan liền bạch đức Phật :

- Bồ tát Di Lặc được cái nhẫn bất khởi đã từ lâu xa rồi, vì sao không mau được đạo Vô thượng cháng chơn, thành bậc tối chánh giác ?

Đức Phật bảo :

- Này A-Nan ! Bồ tát vì bốn việc mà không nắm giữ quả vị chánh giác. Những gì là bốn ?

1/ Thanh tịnh quốc độ
2/ Bảo vệ quốc độ
3/ Thanh tịnh tất cả ( chúng sanh )
4/ Bảo vệ tất cả chúng sanh.

Đó là bốn việc. Bồ tát Di Lặc lúc cầu Phật quả, vì bồn việc này mà không thủ đắc quả Phật.

Đức Phật bảo

-Này A-Nan ! Chính ta lúc cầu Phật quả cũng muốn thanh tịnh quốc độ, cũng muốn thanh tịnh tất cả, cũng muốn bảo vệ quốc độ, cũng muốn bảo vệ tất cả. Bồtát Di-Lặc phát tâm trước ta bốn mươi hai kiếp. Sau đó ta mới phát đạo ý vào thời hiền kiếp, nhờ hết sức tinh tấn vượt qua 9 kiếp được đạo vô thượng chánh chơn, thành tối chánh giác.

Đức Phật bảo hiền giả A-Nan :

-Ta nhờ mười việc mà tối chánh giác:

1/không yêu tiếc đối với vật sở hữu
2/Với vợ
3/Với con
4/Với đầu, mắt
5/Với tay,chân
6/Với đất nước
7/Với châu báu, tiền của
8/Với tủy nảo
9/Với máu, thịt
10/Không tiếc thân mạng.

Này A-Nan, ta nhờ mười việc này nên mau được Phật đạo.

Đức Phật bảo tôn giả A-Nan :

-Lại có mười việc mau được Phật đạo. Những gỉ là mười ?

1/Lấy pháp lập đối với giới đức
2/Thường hành nhẫn nhục
3/Thường hành tinh tấn
4/Thường giũ nhất tâm
5/Thường hành trí tuệ đáo bỉ ngạn
6/Không bỏ tất cả
7/Đã được tâm nhẫn nhũc, bình đẳng với tất cả
8/Không tập không
9/Được pháp nhẫn không
10/Được pháp vô tưởng.

Này A-Nan ! Ta nhờ mười pháp này nên tự mình chứng được Phật đạo.

Đức Phật bảo hiền giả A-Nan :

-Lúc ta mới cầu Phật đạo, cần khổ vô số mới được đạo vô thượng chánh chơn, việc đó chẳng phải là một lần.

Đức Phật dạy :

- Này A-Nan ! Vào thời quá khứ có người Thái tử con vua tên là Nhất Thiết Hiện Nghĩa, đoan chánh, đẹp đẽ, từ viên quán đi ra đường, thấy một người tật bệnh đau đớn, thấy rồi sanh lòng thương xót, mới hỏi người bệnh :

-Phải dùng những loại thuốc gì mới có thểå trị lành căn bệnh này ?

Người bệnh đáp :

-Chỉ có máu trong thân của vua mới có thể trị lành bệnh của tôi được.

Khi ấy Thái tử liền dùng dao bén đâm vào thân, lấy máu cho người bậnh, chí tâm đem cho người bệnh mà lòng không hối tiếc.

Đức Phật bảo A-Nan :

-Thái tử Hiện Nghĩa lúc ấy chính là thân của ta. Này A-Nan ! Nước trong bốn biển còn có thể đo lường, chứ máu trên thân ta mà đem cho thì không hạn lượng, vì ta cầu chánh giác vậy.

Đức Phật bảo hiền giả A-Nan :

-Về thời xa xưa có một Thái tử của nhà vua tên là Liên Hoa Vương, đoan chánh, đẹp đẽ, oai thần vòi vọi, từ viên quán đi dạo, thấy một người thân thể bị bậnh hủi. Thấy xong. Liền sanh lòng thương xót mới hỏi người bệnh :

-Phải dùng những loại thuốc gì mới có thể trị lành bệnh của ngươi ?

Nguời bệnh đáp :

-Nếu được tủy trong thân của nhà vua thoa lên thân tôi thì bệnh mới lành.

Lúc ấy Thái tử liền chẻ xương của mình, lấy tủy đem cho bệnh nhân. Thái tử hoan hỷ huệ thí như vậy mà tâm không hối hận. Thái tử lúc ấy chính là tâm của ta vậy.

Đức Phật bảo tôn giả A-Nan :

- Nước trong bốn biển còn có thể đo lường, nhưng tủy trong thân ta mà đem bố thí thì không thể tính được.

Đức Phật bảo tôn giả A-Nan :

-Về thời quá khứ có một vi Vua tên là Nguyệt Minh, đoan chánh, tuyệt đẹp , oai thần vòi vọi, từ trong cung đi ra đường, thấy một người mù, bần cùng đói khát, mò mẫm dọc đường để xin ăn, đi đế chổ vua tâu rằng.

-Một mình vua được tôn quý, an ổn, khóai lạc, còn riêng tôi thì bần cùng, lại thêm mù lòa.

Bấy giờ vua Nguyệt Minh thấy người mù lòa ấy, xót thương rơi lệ, mới nói rằng :

-Có những loại thuốc gì mới có thể rị lành bệnh mắt và làm cho tôi thấy được.

Bấy giờ vua Nguyệt Minh tự móc hai con mắt của mình đem cho người mù. Lúc ấy trong lòng nhà vua vẫn thản nhiên, không có một chút hối tiếc. Vua Nguyệt Minh lúc ấy chính là thân của ta.

Đức Phật dạy :

-Núi Tu Ma Đề-Di còn có thể cân luờng được, nhưng ta đem mắt bố thí thì không thể kể được.

Đức Phật bảo hiền giả A-Nan :

-Bồ tát Di Lặc lúc xưa cầu đạo không đem tai, mũi, đầu, mắt, tay, chân, thân mạng, trân bảo, thành ấp, vợ con và quốc gia để bố thí cho người để thành Phật đạo, chỉ dùng hạnh an lạc, thiện quyền phương tiện để đạt được Phật đạo.

Tôn giả a-Nan bạch đức Phật :

-Bồ tát Di Lặc dùng thiện quyền gì mà được Phật đạo ?

Đức Phật dạy :

-Này A-Nan , Bồ tát Di Lặc ngày đêm mặt ba y phục vào thân, chắp tay, quỳ gối ở dưới đất, hướng về mười phương nói bài kệ này :

" Tôi sám hối các lỗi
Quy mạng lễ chư Phật
Khuyên chúng giúp đạo dức
Mong được Vô thượng huệ ".

Đức Phật bảo hiền giả A-Nan :

-Bồ tát Di Lặc nhờ dùng quyền xảo này nên đạt được đạo vô thượng chánh chơn, thành tối chánh giác. Này A-Nan ! Bồ tát Di Lặc khi cầu đạo có phát lời nguyện rằng : " Mong cho nhân dân nước tôi không có các sự cấu uế. Đối với dâm nộ si cạn mỏng, ân cần phụng hành thập thiện, thì tôi mới chứng quả Vô thượng chánh giác ".

Đức Phật bảo tôn giả A-Nan :

-Nhân dân ở đời sau không có điều cấu uế, phụng hành thập thiện, đối với dâm nộ si không có trong tâm. Chính ngay lúc đó Bồ tát Di Lặc sẽ đắc đạo vô thượng chánh chơn, thành tối chánh giác. Vì sao vậy ? Vì bổn nguyện của Bồ tát Di Lặc đã thành vậy.

Đức Phật bảo hiền giả A-Nan :

-Lúc ta cầu Bồ tát đạo, muốn bảo vệ tất cả chúng sanh, muốn họ được thanh tịnh nên ở trong thâm, sân, si, ngũ trượt vui ởi nơi sanh tử. Vì sao vậy ? Vì các nhân dân phần nhiều làm điều phi pháp, lấy điều quấy làm điều phải, phụng hành tà đạo, giết hại lẫn nhau, bất hiếu với cha mẹ, tâm thường nghĩ điều ác, ác ý đối với anh em , vợ con, quyến thuộc và người khác, khinh dể hòa thượng, thường phạm sự ô trượt của nam và nữ, ăn nuốt lẫn nhau. Ta nguyện ở trong đời này làm Phật, hoặc họ ở quận nươc, núi rừng, huyện ấp. Chỉ nói các điều ác, trở lại giết hại lẫn nhau, hoặc lấy gạch đá ném nhau, lấy gậy phan nhau, cùng xúm lại mắng chửi lẫn nhau, tự trở về nhà đặt bàn ăn uống, lấy thưốc độc trộn vào thức ăn muốn hại người khác, sanh ý tưởng ô trược, bài báng lẫn nhau, che dấu điều ác, trở lại hối lộ, không có thiện ý.

Đức Phật day :

-Này A-Nan ! Ta dùng lòng thương bao la nhớ nghỉ tất cả, vì những người này giảng thuyết pháp kinh.

Hiền giả A-Nan nghe đức Phật dạy như vậy liền bạch rằng :

-Con chua từng thấy có vị Thiên Trung Thiên Như Lai, Đẳng chánh giác nào mà có thể cần khổ, phát đại ý điều phục sự tệ ác, khiến cho thành tựu thiện pháp, vì trừ gánh nặng, đầy đủ pháp bảo, vì bọn người này nói kinh pháp.

Đức Phật dạy :

-Đúng vậy, này A-Nan , như lời ngươi nói, đức Phật có thể kham nhẫn điều đó nên đức Như Lai Đẳng Chánh Giác mới giáo hóa kẻ cang cường, trừ tối tăm cho mọi loài. Ngài dùng đầy đủ oai đức của Phật pháp, vì hạnhg người này mà nói kinh pháp.

Tôn giả A-Nan bạch đức Phật :

-Con nghe đức Như Lai dùng tâm bình đẳng, tinh tấn, kiên cố như vậy, lông trong người con dựng đứng. Vậy tên kinh này gọi là gì và làm sao phụng hành ?

Đức Phật dạy :

-Kinh này gọi tên là " Di Lặc thưa hỏi về bổn nguyện phải gĩu gìn bổn hạnh của Từ Thị, phải khéo thọ trì " .

Đức Phật Như Lai thuyết kinh này xong, Bồ tát Di Lặc, hiền giả A-Nan, hiền giả Đại Ca Diếp, các đệ tử lớn và chúng Bồ tát, tất cả chúng hội, chư thiênl, long, Càn đạp hòa, người trong thế gian...nghe kinh hoan hỷ, đến trước đức Phật đảnh lễ.

KINH BỒ TÁT DI LẶC HỎI VỀ BỔN NGUYỆN

Kinh Di Lặc Hạ Sanh


Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Kinh Di Lặc Hạ Sanh

Thích nữ Như Phúc

Nguồn: Thích nữ Như Phúc



Đại trí Xá Lợi Phất, bậc tướng vĩ đại trong pháp Phật, bậc theo đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp, vì thương thưởng chúng sanh nên bạch Phật:

- Bạch đức Thế Tôn! Theo trình tự như trong kinh dạy, Bồ-tát Di Lặc sẽ hạ sanh làm Phật. Chúng con muốn nghe đức Thế Tôn dạy rõ về sự trang nghiêm cõi nước và thần lực công đức của Phật Di Lặc. Chúng sanh bố thí như thế nào? Giữ giới thế nào và được trí tuệ gì để được gặp Phật Di lặc?

Đức Phật bảo Xá Lợi Phất:

- Nay Ta giảng rộng việc này. Thầy hãy nhất tâm lắng nghe.

Này Xá Lợi Phất! Nước trong 4 biển cả giảm bớt một ít còn 3.000 do-tuần, lúc ấy đất ở Diêm Phù Đề dài 10.000 do-tuần, rộng 8.000 do-tuần, bằng phẳng như gương gọi là Hoa Nhuyến. Cỏ phủ khắp mặt đất, các loại cây cối, hoa quả thật sum suê. Cây ở đây đều cao 30 dặm, thành phố nối tiếp nhau, gà có thể bay qua lại, tuổi thọ của con người là 8 vạn 4 ngàn năm. Họ có đầy đủ oai đức, trí tuệ và sắc lực an vui. Chỉ có 3 bệnh: 1- Đại tiểu tiện. 2- Ăn uống. 3- Già suy. Người nữ ở đây năm trăm tuổi mới kết hôn.

Khi ấy có một thành lớn tên Sí-đầu-mạc, dài 12 do-tuần, rộng 7 do-tuần, vô cùng sạch sẽ, trật tự và tốt đẹp. Người ở trong thành này phước đức sung mãn và nhờ phước đức nên họ rất giàu sang, vui vẻ, an bình. Thành này có 7 báu và lầu gác, cửa lớn, sửa sổ, lan can đều do 7 báu tạo thành, lưới chân châu bao phủ lên trên, đường sá rộng 12 dặm, được quét dọn sạch sẽ, có đại lực Long vương tên Đa-la-thi-khí. Ao và cung điện của Long vương gần thành. Vào lúc nửa đêm, trong ao này thường có mưa phùn để đầm bụi, vì thế mặt đất ướt sáng như thoa dầu, người đi đường không bị bụi bám. Đây là nhờ phước đức của dân chúng nên được như vậy. Đường sá khắp nơi đều có trụ ngọc minh châu cao 10 dặm, ánh sáng chiếu tỏa suốt ngày đêm phát ra từ trụ này nên không cần dùng đến ánh sáng của đèn đuốc. Từ những nẻo đường đến nhà cửa, thành ấp hoàn toàn không có một cục đất nhỏ nào, mặt đất được phủ thuần bằng cát vàng và có những đụn vàng bạc ở khắp nơi. Có thần đại Dạ-xoa tên Bạt-đà-ba-la-xa-tắc-ca luôn bảo vệ và quét dọn sạch sẽ trong thành. Nếu có những vật dơ hay đại tiểu tiện thì mặt đất nứt ra tiếp nhận những vật dơ đó, xong rồi khép lại như cũ. Người nào sắp chết, tự nhiên đi đến giữa mộ mà chết. Đời sống thật an vui, không có những nạn trộm cắp, giặc cướp hay oán thù. Làng mạc, phố xá không ai đóng cửa, cũng không buồn phiền vì những nạn binh đao, nước, lửa hay độc hại, đói khát. Người người sống với nhau bằng tâm từ ái, cung kính, thuận hòa. Họ chế phục các căn, nói năng khiêm tốn.

Này Xá Lợi Phất! Ta nói tóm tắt cho thầy nghe về sự an vui, giàu có tại thành ấp ở cõi nước kia. Trong những ao, suối, vườn, rừng nơi đây, tự nhiên có nước 8 công đức và trên mặt ao phủ đầy hoa sen đủ màu sắc: xanh, hồng, đỏ, trắng xen nhau rất đẹp ; bốn phía ao có 4 bậc thềm bằng châu báu. Có nhiều giống chim tụ tập lại thường trú ngụ nơi ao, hót líu lo tạo thành âm thanh tuyệt diệu như chim thiên nga, chim uyên ương, chim công, chim phỉ thúy, chim anh vũ, chim xá-lợi, chim cưu-na-la, chim kỳ bà kỳ bà... Và còn những loài chim khác hót hay tuyệt vời, không thể tính hết. Trong nước có đầy cây thơm, quả ngọt. Bấy giờ trong Diêm Phù Đề thường có mùi hương tuyệt hảo, giống như là núi hương, chảy ra những vị ngọt thơm ngon trừ bệnh hoạn. Mưa nhuần thấm theo thời tiết nên lúa gạo tốt tươi, không sanh ra loài cỏ dại mà chỉ thuần một loại lúa ngon, dùng công sức rất ít, thu hoạch lại nhiều, người ăn cảm thấy thơm ngon, tăng nhiều khí lực.

Trong nước lúc ấy có vua Chuyển-luân tên Nhương Khứ, có 4 loại binh, không cần dùng đến oai lực để trị vì dân chúng. Vua có ngàn người con tráng kiện, oai hùng, phá tan giặc oán. Vua có 7 báu : kim luân bảo, tượng bảo, mã bảo, châu bảo, nữ bảo, chủ tàng bảo và chủ binh bảo. Đất nước này có đài 7 báu, tất cả đều cao ngàn trượng, ngàn đầu, ngàn bánh xe và rộng 60 trượng. Có 4 kho tàng lớn, mỗi một kho tàng lớn lại có 4 ức kho tàng nhỏ xung quanh. Kho tàng Y-lặc-bát ở nước Càn-đà-la, kho tàng Bàn-du-ca ở nước Di-đề-la, kho tàng Tân-ca-la ở nước Tu-la-tra, kho tàng của vua Nhượng Khứ ở nước Ba-la-nại. Bốn kho tàng lớn này chu vi 1.000 do-tuần, trong đó đầy ắp trân bảo. Mỗi kho tàng lớn lại có 4 ức kho tàng nhỏ phụ. Có 4 con rồng lớn tự bảo vệ kho tàng. Bốn kho tàng lớn và các kho tàng nhỏ tự nhiên phun ra như hình hoa sen, vô số người cùng đến tham quan. Các kho báu này không có người trông giữ, những người trông thấy cũng không sanh tâm tham đắm, bỏ ra đất giống như ngói đá, cỏ cây, cục đất... Những người trông thấy châu báu đều sanh tâm nhàm chán mà nghĩ thế này: "Xưa kia, các chúng sanh do châu báu này mà cùng tàn hại lẫn nhau, lại cùng quanh co, lường gạt, cướp đoạt nhau, làm cho tăng thêm tội lỗi ràng buộc nơi đường sanh tử" .

Thành Sí-đầu-mạc được các lưới châu báu phủ khắp bên trên và trang hoàng những phong linh báu, mỗi khi gió nhẹ xao động chúng vang ra những thanh âm trầm nhẹ ngân nga như chuông đồng. Trong thành Sí-đầu-mạc có người chủ đại Bà-la-môn tên Diệu Phạm. Người nữ Bà-la-môn tên Phạm-ma-ba-đề, Bồ-tát Di Lặc thác sanh làm con của 2 vị Bà-la-môn này. Ngài có thân màu vàng ròng, 32 tướng tốt, chúng sanh trông thấy nhìn mãi không nhàm, thần lực vô lượng không thể nghĩ bàn, hào quang tỏa chiếu xuyên suốt tất cả, phủ mờ hết ánh sáng của mặt trăng, mặt trời và hỏa châu. Thân Bồ-tát cao ngàn thước, ngực rộng 30 trượng, mặt dài 12 trượng 4 thước. Thân thể toàn vẹn đoan chánh, không gì sánh được. Ngài thành tựu tướng tốt như tượng vàng ròng, mắt thịt thanh tịnh nhìn xa 10 do-tuần, thường tỏa ánh sáng 4 phía mặt hàng trăm do-tuần, ánh sáng của mặt trăng, mặt trời và hỏa châu không hiện ra được. Chỉ có hào quang đức Phật là tốt đẹp vi diệu đệ nhất.

Bồ-tát Di-Lặc vô cùng thương xót khi quán thấy cuộc đời ngũ dục đưa đến nhiều hoạn nạn và làm chìm đắm biết bao chúng sanh vào biển cả sanh tử. Vì lý do đó mà Ngài chánh niệm tư duy, không thích sống ở gia đình. Vua Nhương Khứ cùng các đại thần đem đài báu này dâng lên Bồ-tát Di-Lặc. Bồ-tát nhận xong đem cho các Bà-la-môn. Các Bà-la-môn nhận xong liền làm hủy hoại, phân tán hết. Bồ-tát Di Lặc nhìn thấy đài báu tốt đẹp này bị vô thường trong thoáng chốc và nhận thấy tất cả những gì hiện hữu cũng đều bị hoại diệt nên tu quán vô thường, xuất gia học đạo. Bồ-tát ngồi dưới cội cây Bồ-đề Long Hoa, lá cành thân cây cao 50 dặm. Vào ngày Bồ-tát xuất gia, liền đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lúc đó, chư thiên, long thần vương ẩn thân, tuôn hoa hương xuống cúng dường Phật. 3.000 đại thiên thế giới đều chấn động mạnh. Phật phóng hào quang tỏa chiếu vô lượng cõi nước, những ai có duyên hóa độ đều được thấy Phật.

Lúc bấy giờ mọi người tự nghĩ: "Dầu cho ngàn vạn ức năm hưởng thụ thúvui ngũ dục vẫn không thoát khỏi khổ đau trong 3 đường ác, vợ con hay tài sản vẫn không cứu giúp được. Cuộc đời mong manh, mạng người khó giữ được lâu dài, nay chúng ta nên tu hành phạm hạnh nơi giáo pháp Phật" . Suy nghĩ như vậy rồi họ xin xuất gia học đạo.

Khi ấy, vua Nhương Khứ cùng 8 vạn 4 ngàn đại thần cung kính xung quanh Phật xin xuất gia học đạo. Có 8 vạn 4 ngàn các Bà-la-môn nhiều trí tuệ thông minh cùng xin xuất gia trong giáo pháp Phật. Trưởng giả Tu-đạt-na nay là trưởng giả Tu-đạt cùng với 8 vạn 4 ngàn người đều xin xuất gia.

Có anh em Lô-sư-đạt-đa Phú-lan-na cùng với 8 vạn 4 ngàn người xin xuất gia và có 2 đại thần, một người tên Chiên-đàn, một người tên Tu-mạn được vua yêu mến, trọng dụng cũng cùng với 8 vạn 4 ngàn người xin xuất gia trong giáo pháp Phật. Bảo nữ của vua Nhương Khứ tên Xá-di-bà-đế nay là Tỳ-xá-khư cùng với 8 vạn 4 ngàn thể nữ đều xin xuất gia. Thái tử của vua Nhương Khứ tên Thiên Sắc, nay là Đề-bà-na cùng với 8 vạn bốn ngàn người đều xin xuất gia. Tu-ma-đề con của một Bà-la-môn là thân tộc của Phật Di Lặc, có trí tuệ và các căn lanh lợi, nay là Uất-đa-la cùng với 8 vạn 4 ngàn người xin xuất gia trong giáo pháp Phật. Vô lượng ngàn vạn ức đại chúng này vì thấy cuộc đời khổ não nên muốn xuất gia trong giáo pháp Phật Di Lặc.

Đức Phật Di-Lặc biết tâm niệm của đại chúng nên nói:

- Nay các ngươi không vì thú vui sanh lên trời, không vì thú vui đời hiện tại mà đến chỗ Ta, chỉ vì nhân duyên Niết-bàn, thường, lạc. Những người như vậy là đã trồng nhiều thiện căn nơi pháp Phật, do đức Phật Thích Ca Mâu Ni để lại giao phó cho Ta. Thế nên hôm nay các ngươi đến chỗ Ta, Ta xin tiếp nhận. Những người này do đọc tụng, phân tích, quyết định tu tạng A-tỳ-đàm, Đố-lộ-tỳ-ni và tu tập các công đức nên đến chỗ Ta. Hoặc đem cơm áo cúng dường cho người trí tuệ giữ giới, do tu các công đức này nên đến chỗ Ta. Hoặc đem tràng phan, hoa hương cúng dường Phật, do tu công đức này nên đến chỗ Ta. Hoặc bố thí, giữ trai giới, tu tập tâm từ, thực hành công đức này nên đến chỗ Ta. Hoặc vì sự khổ não của chúng sanh, muốn làm cho họ được an vui nên tu tập công đức này và được đến chỗ Ta. Hoặc giữ giới, nhẫn nhục, tu trí tuệ thanh tịnh, do công đức này nên đến chỗ Ta. Hoặc cúng dường thực phẩm, cúng dường chư Tăng, cúng dường thức ăn cho lễ hội, giảng kinh, vì tu công đức này nên đến chỗ Ta. Hoặc giữ giới, nghe nhiều, tu tập thiền định và trí tuệ vô lậu, do công đức này nên đến chỗ Ta. Hoặc xây tháp, cúng dường xá-lợi, do công đức này nên đến chỗ Ta. Lành thay đức Phật Thích Ca Mâu Ni! Đã khéo giáo hóa trăm ngàn vạn ức chúng sanh như vậy, làm cho họ đến chỗ Ta.

Phật Di Lặc 3 lần ngợi khen đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau đó Ngài thuyết pháp và nói thế này:

- Những chúng sanh nào ở trong cuộc đời xấu ác, nhiều tham dục , sân hận, ngu si, mê hoặc và mạng sống ngắn ngủi mà làm được việc khó làm như: tu hành, giữ giới, làm các công đức thì thật là hy hữu. Trong lúc có những chúng sanh không biết đến cha mẹ, Sa-môn, Bà-la-môn ; không biết đạo pháp, gần gũi với đao binh, giặc cướp, sát hại lẫn nhau, đam mê nơi ngũ dục, ganh tị, dối trá, quanh co; tà ngụy vẩn đục, không có tâm thương mến, uống máu, ăn thịt, làm việc giết hại. Những ai ở trong chốn đó mà có thể tu hành, làm việc thiện thì thật là hy hữu.

Hay thay, đức Phật Thích Ca Mâu Ni! Ngài đã đem tâm đại bi ban rải cho khắp chúng sanh bị khổ não bằng những lời răn dạy vô cùng chân thật. Và Ngài đã chỉ dạy Ta sự giáo hóa cứu độ các ngươi trong tương lai. Bậc thầy như vậy thật khó được gặp. Trong thâm tâm Ngài luôn thương tưởng chúng sanh trong cuộc đời xấu ác. Ngài cứu giúp họ thoát khỏi khổ đau và làm cho họ được an ổn. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì các ngươi mà bố thí đầu, tai, mũi, tay, chân, thân thể... Ngài đã chịu biết bao khổ não để mang lại lợi lạc cho các ngươi.

Đức Phật Di Lặc an ủi vô lượng chúng sanh bằng những lời khại đạo như vậy, khiến họ vô cùng hoan hỷ. Sau đó Ngài mới thuyết pháp. Trong số chúng sanh đó có người phước đức sung mãn, cung kính tin thọ và khát ngưỡng đại sư, họ muốn nghe pháp nên suy nghĩ: "Nguồn gốc các khổ do 5 dục bất tịnh. Chúng ta nên từ bỏ lo sầu khổ não, biết pháp khổ vui đều là vô thường" .

Phật Di Lặc quán sát tâm của đại chúng khi ấy đều thanh tịnh, thuần thục. Ngài thuyết pháp Tứ đế, những người được nghe đồng thời đạt đạo Niết-bàn.

Lúc bấy giờ Phật Di Lặc ở vườn Hoa Lâm. Vườn này có diện tích 100 do-tuần, đại chúng đầy khắp vườn. Hội thuyết pháp lần đầu có 96 ức người đắc quả A-la-hán. Đại hội thuyết pháp lần hai có 94 ức người đắc quả A-la-hán. Hội thuyết pháp lần ba có 92 ức người đắc quả A-la-hán.

Phật Di Lặc đã chuyển pháp luân hóa độ chư thiên và loài người rồi, Ngài dẫn các đệ tử vào thành khất thực. Vô lượng chúng trời Tịnh Cư cung kính theo Phật vào thành Sí-đầu-mạc. Trong lúc vào thành, họ hiện vô số thần lực và vô lượng sự biến hiện. Thích Đề Hoàn Nhân cùng chư thiên cõi Dục, Phạm Thiên Vương cùng chư thiên cõi Sắc trỗi trăm ngàn loại âm nhạc ca ngợi công đức Phật và mưa tuôn những hoa trời, bột thơm Chiên-đàn cúng dường đức Phật. Họ dựng tràng phan, lọng che khắp các nẻo đường và đốt những loại hương thơm, khói tụ như mây.

Khi đức Thế Tôn vào thành, Đại Phạm Thiên Vương và Thích Đề Hoàn Nhân chắp tay cung kính nói kệ tán thán:

- Đấng Chánh biến tri Lưỡng túc tôn
Trời người thế gian không sánh kịp
Thế Tôn Thập lực rất hy hữu
Ruộng phước tốt cao tột vô biên
Ai cúng dường Phật sanh lên trời
Cung kính đảnh lễ bậc tinh tấn.

Lúc ấy, trời người, La-sát... trông thấy đại lực rộng lớn của Phật chinh phục tất cả. Ngàn vạn ức vô lượng chúng sanh đều rất hoan hỷ. Họ chắp tay ca ngợi:

- Vô cùng hy hữu! Vô cùng hy hữu! Công đức thần lực của Như Lai viên mãn không thể nghĩ bàn.

Các trời người đem hoa sen đủ màu sắc xen lẫn và hoa Mạn-đà-la để rải trên đất Phật. Hoa tụ lại cao đến đầu gối. Chư thiên trong hư không trỗi trăm ngàn âm nhạc ca ngợi công đức Phật. Từ đầu đêm đến cuối đêm, Ma vương luôn cảnh tỉnh mọi người rằng:

- Các ngươi đã được làm thân người, được gặp thời tốt đẹp, chớ nên ngủ nghỉ suốt đêm để tâm trí mê muội. Hoặc đứng hay ngồi, các ngươi cũng cần phải nỗ lực tinh tấn giữ chánh niệm, quán sát chân chính về 5 ấm, vô thường, khổ, không, vô ngã. Các ngươi hãy thực hành theo lời Phật dạy, chớ có buông lung. Nếu ai phát sanh nghiệp ác, sau này chắc chắn đưa đến hối hận.

Khi đó trên các nẻo đường, nam nữ đều bắt chước nói theo:

- Các ngươi hãy thực hành theo lời Phật dạy, chớ có buông lung. Nếu ai phát sanh nghiệp ác, sau này chắc chắn sẽ hối hận. Hãy nỗ lực phương tiện, tinh tấn cầu đạo, chớ đánh mất pháp lợi lạc mà rong ruỗi theo con đường sanh tử. Khó thay được gặp đấng đạo sư cứu vớt khổ não cho chúng sanh như vậy. Nhờ tâm kiên trì tinh tấn sẽ được Niết-bàn thường lạc.

Các đệ tử của Phật Di Lặc đều đầy đủ oai nghi, thân đoan chánh. Họ nhàm chán sanh - già - bệnh - chết, học rộng, nghe nhiều, bảo vệ kho tàng chánh pháp, được lìa bỏ các dục như chim sổ lồng.

Lúc bấy giờ Phật Di Lặc muốn đến chỗ trưởng lão Đại Ca Diếp, Ngài cùng 4 chúng vân tập đến núi Kỳ-xà-quật và tất cả đều trông thấy đại Ca Diếp trên đỉnh núi. Trong thâm tâm của đại chúng vô cùng kinh ngạc. Đức Phật Di Lặc ngợi khen:

- Tỳ-kheo Đại Ca Diếp là vị đệ tử lớn của Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong đại chúng thường ca ngợi, tán thán hạnh đầu-đà đệ nhất của thầy. Thầy thông đạt thiền định giải thoát tam muội, mặc dầu có nhiều thần lực nhưng tâm không cao ngạo, còn làm cho chúng sanh được nhiều hoan hỷ. Thầy luôn thương tưởng những chúng sanh bần cùng, hạ tiện, khổ não và cứu giúp họ hết khổ não, được an vui.

Đức Phật Di Lặc ngợi khen nhục thân của Đại Ca Diếp:

- Lành thay Đại Ca Diếp! Vị đại đệ tử của đấng có thần đức lớn Thích Ca Mâu Ni ở nơi đời xấu ác vẫn có thể giữ tâm tu tập. Mọi người thấy Phật Di Lặc ngợi khen Đại Ca Diếp nên có trăm ngàn ức người nhờ nhân này mà nhàm chán cuộc đời và đắc đạo. Họ suy nghĩ: "Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong cuộc đời xấu ác đã giáo hóa vô lượng chúng sanh, làm cho họ được đầy đủ 6 thần thông, thành tựu đạo quả A-la-hán". Đạo tràng thuyết pháp rộng 80 do-tuần, dài 100 do-tuần. Những người ở trong đạo tràng này hoặc đứng hoặc ngồi, hoặc gần hoặc xa đều tự thấy Phật ở ngay trước mặt và chỉ thuyết pháp cho riêng họ mà thôi. Phật Di-Lặc trụ thế 6 vạn năm. Ngài thương xót chúng sanh, làm cho họ được mắt pháp. Sau khi Ngài diệt độ, chánh pháp trụ ở đời cũng 6 vạn năm. Các ngươi hãy nên tinh tấn phát tâm thanh tịnh, phát khởi các nghiệp thiện, được gặp Phật Di Lặc như ngọn đèn sáng của thế gian, chắc chắn không nghi ngờ.

Đức Phật dạy kinh này xong, tôn giả Xá Lợi Phất... đều hoan hỷ thọ trì, đảnh lễ Phật mà lui ra.

KINH DI LẶC HẠ SANH

Hết

Kinh Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Hạ Sanh


Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Kinh Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Hạ Sanh

Thích Nữ Như Phúc

Nguồn: Thích Nữ Như Phúc



Như vầy tôi nghe:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp-Cô-Độc, rừng Kỳ-Đà, nước Xá-Vệ, cùng 1.500 đại chúng Tỳ-kheo. Lúc bấy giờ tôn giả A-nan sửa y về vai phải, gối phải quỳ sát đất, bạch đức Thế Tôn:

- Đức Như Lai quán sát thật sâu xa, uyên áo, không việc gì mà Ngài không soi xét, cả ba đời quá khứ, tương lai hay hiện tại Ngài đều biết rõ. Danh hiệu, tên họ của chư Phật cùng chúng Bồ-tát, Thanh văn từ thời quá khứ theo tùy tùng nhiều hay ít Ngài đều biết rõ. Dầu là một kiếp, trăm kiếp hoặc vô số kiếp Ngài đều quán sát và biết rõ như vậy. Ngài phân biệt rõ ràng tên họ của từng vua, quan, nhân dân, như cõi nước hiện tại này có bao nhiêu người Ngài đều biết rõ. Kính bạch đức Như Lai Chí chơn Đẳng chánh giác, chúng con muốn nghe sự giáo hóa, xuất hiện của Phật Di Lặc nơi thời tương lai lâu xa cùng chúng đệ tử theo Phật về cõi nước an vui sung mãn trải qua thời gian bao lâu?

Đức Phật bảo A-nan:

- Thầy hãy trở về chỗ ngồi, lắng nghe Ta nói và khéo suy nghĩ, ghi nhớ về sự xuất hiện của Phật Di Lặc và cõi nước giàu có, an vui cùng chúng đệ tử nhiều hay ít .

Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy, trở lại chỗ ngồi. Đức Phật bảo A-nan:

- Thời tương lai lâu xa, nơi cõi nước này sẽ có thành quách tên Sí-đầu, Đông Tây 12 do-tuần, Nam Bắc 7 do-tuần, đất đai phì nhiêu, nhân dân hùng cường giàu có và nhiều đường sá. Trong thành có Long vương tên Thủy Quang, ban đêm tuôn những chất thơm thấm nhuần, ban ngày thì làm ôn hòa trong mát. Trong thành Sí-đầu có quỷ La-sát tên Diệp Hoa, hành động thuận với chánh pháp, không trái chánh giáo. Sau khi mọi người ngủ say thì vị này đi trừ bỏ những vật nhơ uế bất tịnh và dùng nước thơm rưới trên đất, cực kỳ sạch sẽ thơm tho.

A-nan nên biết! Đất ở Diêm Phù Đề lúc ấy các phương Đông Tây Nam Bắc rộng 10.000 do-tuần. Các núi, sông, vách đá đều tự tiêu diệt. Nước ở 4 biển cả đều chiếm cứ một phương. Mặt đất ở Diêm Phù Đề cực kỳ bằng phẳng như tấm gương sáng sạch. Đất khắp Diêm Phù Đề đều có thực phẩm, ngũ cốc trù phú, tốt tươi. Nhân dân phồn thịnh, châu báu thật nhiều, làng mạc thôn xóm gần nhau, cùng nghe tiếng gà gáy. Bao nhiêu hoa quả, cây cối khô cằn hay những vật dơ xấu đều tự tiêu diệt. Những cây ngon quả ngọt, thơm ngon tươi tốt nhất thì sanh ra khắp mặt đất. Khí hậu ôn hòa, thời tiết thích hợp theo mùa. Con người không bị 108 bệnh, không có tham dục, sân hận, ngu si, không cần lo âu săn sóc. Nhân tâm quân bình, cùng một ý với nhau, gặp nhau vui vẻ và nói những lời hiền thiện, cùng một loại ngôn ngữ giống như người Uất-đơn-việt không khác. Nhân dân lớn hay nhỏ ở Diêm Phù Đề đều cùng một âm giọng, không có sự sai khác. Những người nam hay nữ ở cõi này khi muốn đại tiểu tiện, đất tự nhiên nứt ra, sau khi xong việc, đất khép lại như cũ.

Lúc ấy đất đai ở Diêm Phù Đề tự nhiên sanh lúa gạo vô cùng thơm ngon, không có vỏ, ăn vào không bị bệnh khổ. Những loại vàng, bạc, trân bảo, xa cừ, mã não, chân châu, hổ phách rải khắp trên mặt đất mà không có ai quan tâm. Có khi họ cầm châu báu này và nói với nhau: "Con người xưa kia vì những châu báu này mà phải tàn hại nhau, bị tù đày và chịu biết bao khổ não. Vậy mà ngày nay châu báu này cũng như ngói gạch, không có ai cất giữ" . Lúc bấy giờ vương pháp xuất hiện, tên là Nhương Khứ, dùng chánh pháp trị nước và đầy đủ bảy báu. Bảy báu đó là: kim luân bảo, tượng bảo, mã bảo, châu bảo, ngọc nữ bảo, điển binh bảo, thủ tàng bảo. Trấn giữ Diêm Phù Đề không cần đến đao trượng mà điều phục tự nhiên.

Này A-nan! Bốn kho trân bảo là:

1- Nước Càn-đà-việt có kho báu Y-la-bát, rất nhiều trân báu và vật quý hiếm, không thể kể hết.

2- Nước Di-đề-la có kho lớn lưới báu và rất nhiều trân bảo.

3- Nước Tu-lại-tra có kho báu lớn và nhiều trân bảo.

4- Nước Ba-la-nại Nhương Khứ có kho báu lón và rất nhiều trân bảo, không thể tính kể.

Bốn kho báu lớn này tự nhiên ứng hiện. Các vị giữ kho đến tâu vua: "Cúi xin đại vương đem những vật trong kho báu này ban bố cho những kẻ bần cùng" . Vua Nhượng Khứ được những kho báu này cũng chẳng dòm ngó chúng vì không có ý nghĩ về của cải châu báu.

Tại đất Diêm Phù, trên cây tự nhiên sanh những y phục vô cùng mềm mịn để cho mọi người mặc, như hiện nay người Uất-đơn-việt tự nhiên trên cây sanh ra y phục. Đại vương có đại thần tên Tu Phạm Ma, là vị quan được vua rất kính mến từ thuở còn niên thiếu. Vị đại thần này có tướng mạo khôi ngô, không cao, không thấp, không mập, không gầy, không trắng, không đen, không già, không trẻ. Vợ của Tu Phạm Ma tên Phạm Ma Việt, là người xinh đẹp tuyệt trần nhất trong các ngọc nữ, giống như hậu phi của thiên đế. Miệng bà nói ra có mùi thơm hoa sen và thân đầy hương chiên-đàn, 84 trạng thái mà các phụ nữ khác vĩnh viễn không bao giờ có. Bà cũng không có ý niệm hay tư tưởng cuồng loạn, tật bệnh.

Lúc bấy giờ Bồ-tát Di-Lặc ở trời Đâu Suất quán sát cha mẹ không già, không trẻ, giáng thần ứng hiện sanh ra từ hông phải của mẹ, như Ta ngày nay cũng đã giáng sanh từ hông phải. Bồ-tát Di lặc cũng như thế. Tất cả chư thiên cõi Đâu Suất đều ngợi ca: "Bồ-tát Di Lặc đã giáng sanh" .

Tu Phạm Ma đặt tên cho con là Di Lặc. Bồ-tát Di Lặc có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, thân màu vàng ròng vô cùng tốt đẹp. Người ở cõi này không có các hoạn nạn, tuổi thọ lâu dài. Họ sống đến 8 vạn 4 ngàn năm, con gái 500 tuổi mới lấy chồng.

Di-Lặc sống ở gia đình một thời gian ngắn thì đi xuất gia học đạo. Khi đi ra khỏi thành Sí-đầu chưa bao xa thì Ngài gặp đạo thọ tên Long Hoa cao một do-tuần, ngang 500 bộ. Bồ-tát Di Lặc ngồi dưới cội cây này thành tựu đạo quả Vô thượng. Ngay nửa đêm Bồ-tát Di Lặc xuất gia thì đạt ngay đạo quả Vô thượng. Cả 3.000 cõi đại thiên chấn động 6 cách. Các địa thần đều bảo nhau rằng: "Hôm nay Bồ-tát Di Lặc đã thành Phật đạo" . Dần dần đến cung Tứ Thiên Vương cũng nghe "Bồ-tát Di-Lặc đã thành Phật đạo" , và lan dần đến cõi trời 33, trời Đâu Suất Đà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, cho đến Phạm thiên đều vang tiếng "Bồ-tát Di-Lặc đã thành Phật đạo" .

Lúc bấy giờ có ma vương tên Đại Tướng - giáo hóa trị vì ma quân bằng chánh pháp - nhờ nghe tiếng vang danh âm của Như Lai vô cùng hân hoan, phấn chấn, suốt 7 ngày đêm không ngủ nghỉ. Sau đó ma vương mang vô số thiên nhân ở cõi Dục đến chỗ Phật Di Lặc cung kính lễ bái. Thánh tôn Di Lặc cùng các thiên nhân dần dần nói về luận của pháp mầu vi diệu. Các luận đó là: Luận về bố thí, luận về giới, luận về sanh thiên, giải thoát khỏi dục tưởng bất tịnh là tốt đẹp.

Đức Phật Di Lặc thấy mọi người đã hoan hỷ phát tâm, Ngài liền đem những pháp chư Phật Thế Tôn thường dạy như: khổ, tập, diệt, đạo và phân tích nghĩa lý sâu rộng cho chư thiên nhân. Lúc ấy trên tòa có 8 vạn 4 ngàn thiên tử đã sạch bụi trần, đắc pháp nhãn tịnh. Ma vương Đại Tướng bảo mọi người ở cõi đó rằng: "Các ngươi hãy mau xuất gia. Vì sao? - Vì Bồ-tát Di Lặc nay đã đến bờ giác ngộ và sẽ hóa độ cho các ngươi cũng đến bờ giác ngộ" .

Trong thành Sí-đầu có trưởng giả tên Thiện Tài nghe giáo lệnh của ma vương, lại nghe âm vang của Phật nên đem 8 vạn 4 ngàn chúng đến chỗ Phật Di Lặc cung kính đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi qua một bên. Đức Phật Di Lặc dần dần nói pháp luận vi diệu cho đại chúng. Pháp luận đó là: luận về thí, luận về giới, luận về sanh thiên, giải thoát khỏi dục tưởng bất tịnh là tốt đẹp.

Đức Phật Di Lặc thấy mọi người tâm ý được khai mở theo như pháp chư Phật Thế Tôn đã nói, Ngài giảng về khổ, tập, diệt, đạo và phân tích nghĩa rộng các pháp ấy cho mọi người. Lúc ấy 8 vạn 4 ngàn người dứt sạch bụi trần, đắc pháp nhãn tịnh. Trưởng giả Thiện Tài cùng 8 vạn 4 ngàn người đến trước đức Phật cần cầu xin xuất gia, khéo tu phạm hạnh, tất cả đều thành tựu đạo quả A-la-hán. Hội đầu tiên của Phật Di Lặc có 8 vạn 4 ngàn người đắc quả A-la-hán. Lúc ấy vua Nhương Khứ nghe Bồ-tát Di-Lặc đã thành Phật đạo, ông muốn được nghe pháp nên vội đến chỗ Phật. Pháp đức Phật nói cho vua ban đầu thiện , giữa thiện, cuối cùng thiện và nghĩa lý rất sâu xa. Một thời gian sau, đại vương lập thái tử lên làm vua, bao vật quý báu vua cho người thợ cắt tóc rồi đem các loại châu báu ban cho các Phạm chí và dẫn 8 vạn 4 ngàn chúng đến chỗ Phật xin làm Sa-môn. Cuối cùng, họ thành tựu đạo quả, đắc đạo A-la-hán.

Đại trưởng giả Tu Phạm Ma nghe Bồ-tát Di Lặc thành Phật đạo cũng đem 8 vạn 4 ngàn chúng Phạm chí đến chỗ Phật cầu xin làm Sa-môn. tất cả đều chứng đắc A-la-hán, duy nhất có Tu Phạm Ma đoạn tận 3 kiết sử và chắc chắn chấm dứt hết khổ.

Phật mẫu Phạm Ma Việt cũng đem 8 vạn 4 ngàn chúng thể nữ đến chỗ Phật xin làm Sa-môn. Các thể nữ đều chứng đắc A-la-hán, duy nhất có Phạm Ma Việt đoạn tận 3 kiết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn.

Các bà dòng Sát-lợi nghe tin Phật Di Lặc xuất hiện ở thế gian, thành Đẳng chánh giác, đem cả ngàn vạn chúng đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ dưới chân Ngài rồi ngồi qua một bên. Họ phát tâm mong cầu được xuất gia học đạo, làm Sa-môn. Có người chứng đắc đến bờ giác, có người không chứng đắc. Lúc ấy, này A-Nan! Những người chưa vượt bậc để chứng đắc đều là những người phụng hành giáo pháp, nhàm chán tất cả thế gian và tu hành quán tưởng không có dục lạc. Phật Di Lặc sẽ nói giáo nghĩa Tam thừa như Ta hiện nay. Trong các đệ tử của Ta có Đại Ca Diếp thực hành 12 hạnh Đầu-đà, như chư Phật thời quá khứ đã khéo tu phạm hạnh, người này sẽ ở bên cạnh Phật Di Lặc khuyến hóa mọi người tu tập.

Ca Diếp cách Như Lai không xa, ngồi kiết-già, thân ý chánh niệm tỉnh giác. Đức Thế Tôn bảo Ca Diếp:

- Nay Ta đã 80, tuổi đã già suy và có 4 đại Thanh văn kham nhận việc giáo hóa khắp nơi. Họ có đầy đủ phước đức và trí tuệ vô tận, đó là: Tỳ-kheo Đại Ca Diếp, Tỳ-kheo Quân-xa-bát-thán, Tỳ-kheo Tân-đầu-lô, Tỳ-kheo La-vân. Bốn Thanh văn các ông chưa được nhập Niết-bàn mà chờ đến khi giáo pháp Ta không còn, khi ấy mới được nhập Niết-bàn. Đại Ca Diếp cũng không nên nhập Niết-bàn mà cần phải đời Phật Di lặc xuất hiện ở thế gian. Vì sao? - Vì đệ tử của Phật Di Lặc đều là đệ tử của Phật Thích Ca Văn, nhờ Ta giáo hóa chấm dứt hữu lậu. Trong thôn Tỳ Đề, cõi nước Ma Kiệt, Đại Ca Diếp cư trú trong núi đó và Di Lặc Như Lai sẽ đem vô số ngàn người lần lượt cùng nhau đến núi này. Nhờ hồng ân Phật, các quỷ thần đều mở cửa làm cho họ được thấy Ca Diếp thiền định trong hang động. Khi đó, Phật Di Lặc đưa cánh tay phải chỉ Ca Diếp và bảo mọi người: "Thời quá khứ xa xưa, đệ tử của Phật Thích Ca Văn tên Ca Diếp hiện đang tu khổ hạnh Đầu-đà tối thượng đệ nhất" . Mọi người thấy sự kiện như vậy, ngợi khen là việc chưa từng có. Có vô số trăm ngàn chúng sanh dứt sạch bụi trần, đắc pháp nhãn tịnh. Hoặc có chúng sanh đượïc thấy thân Ca-Diếp, gọi đó là hội đầu tiên. Có 96 ức người đều đạt quả A-la-hán. Những người này đều là đệ tử của Ta. Vì sao? - Vì họ được Ta giáo hóa mới đạt kết quả này. Và nhờ bốn nhân duyên bố thí, nhân từ, mang lại lợi lạc cho hết thảy quần sanh.

Này A-nan! Di Lặc Như Lai sẽ trao Tăng-già-lê cho Ca Diếp đắp. Lúc ấy thân thể Ca Diếp chợt sáng như sao sa. Phật Di Lặc lại đem các loại hương hoa cúng dường Ca Diếp. Vì sao? - Vì chư Phật Thế Tôn có tâm tôn kính chánh pháp và Bồ-tát Di-Lặc cũng đã từng do Ta truyền trao giáo hóa chánh pháp, thành tựu đạo Vô thượng Chánh chơn.

A-nan nên biết! Hội kỳ hai của Phật Di Lặc có 94 ức người đều đắc quả A-la-hán, đều là đệ tử đã từng được Ta giáo hóa thực hành 4 sự cúng dường nên được kết quả như vậy. Hội kỳ ba của Phật Di lặc có 92 ức người đắc quả A-la-hán, cũng là đệ tử do Ta giáo hóa. Lúc bấy giờ đệ tử của Ta là Tỳ-kheo tên Từ Thị, như Ta ngày này các Thanh văn đều xưng là đệ tử của Thích Ca. Phật Di Lặc thuyết pháp cho các đệ tử: "Này các Tỳ-kheo! Hãy nghĩ đến vô thường, tưởng vui có khổ, tưởng ngã và vô ngã, tưởng thật có không, tưởng sự biến đổi của sắc, tưởng sự ứ dịch, tưởng về sưng trướng, tưởng ăn chưa tiêu hết, tưởng về máu mủ, tưởng tất cả thế gian không an vui. Vì sao? - Này các Tỳ-kheo! Đây là 10 tưởng mà Phật Thích Ca Văn đã dạy cho các ông, làm cho tất cả được dứt trừ tâm hữu lậu và được giải thoát. Những ai trong chúng này là đệ tử Phật Thích Ca Văn đều do thời quá khứ đã tu hành thanh tịnh nên đến cõi của Ta. Hoặc có người ở thời Phật Thích Ca Văn cúng dường Tam bảo mà sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn tu tập thiện căn trong khoảng khảy móng tay mà sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn thực hành Tứ đẳng tâm rồi sanh đến đây. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn thọ trì 5 giới, 3 pháp tự quy nên sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn xây dựng tháp miếu nên sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn sửa sang chùa cũ nên sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn giữ 8 pháp trai giới nên sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn cúng dường hương hoa nên sanh đến đây. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn nghe pháp mà rơi lệ nên sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ở chỗ Phật Thích Ca Văn nhất tâm lảnh hội giáo pháp nên sanh đến chỗ của Ta. Hoặc có người suốt đời tu hành phạm hạnh nên sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người ghi chép, đọc tụng nên sanh đến chỗ Ta. Hoặc có người phục vụ cúng dường nên sanh đến chỗ Ta.

Đức Phật Di Lặc nói kệ:

- Tăng thêm giới, văn, đức
Thiền và nghiệp tư duy
Khéo tu hạnh thanh tịnh
Nên đến chỗ của Ta
Bố thí phát tâm vui
Tâm tu hành căn bản
Ý không nghĩ bao la
Đều đến chỗ của Ta
Biết phát tâm bình đẳng
Cúng dường các đức Phật
Cúng Thánh chúng thực phẩm
Đều đến chỗ của Ta
Hoặc tụng giới, khế kinh
Dạy cho người khổ, tập
Thắp sáng chánh pháp Phật
Nay đến chỗ của Ta
Thích chủng khéo biến hóa
Cúng dường các xá-lợi
Phục vụ pháp cúng dường
Nay đến chỗ của Ta
Nếu người ghi chép kinh
Tuyên nói điều cao tột
Và cúng dường kinh điển
Đều nên đến chỗ Ta
Gấm vóc và mọi vật
Cúng dường nơi chùa tháp
Tự xưng "Nam mô Phật"
Đều nên đến chỗ Ta
Cúng dường Phật hiện tại
Cùng chư Phật quá khứ
Thiền định chánh bình đẳng
Cũng không có tăng giảm
Thế nên đối pháp Phật
Kính thờ các bậc Thánh
Chuyên tâm thờ Tam bảo
Ắt đến chỗ vô si

A-Nan nên biết! Di Lặc Như Lai ở nơi chúng đó nói bài kệ này, chư thiên, loài người trong đại chúng tư duy về 10 tưởng này có 11 ức người dứt sạch bụi trần, đắc pháp nhãn tịnh. Trong 1.000 năm chúng Tăng ở cõi Phật Di Lặc không có lỗi lầm, Ngài thường dùng một bài kệ để làm giới cấm ngăn:

Miệng, ý không làm ác
Thân cũng không trái phạm
Hãy dứt ba nghiệp này
Chóng thoát đường sanh tử.

Trải qua 1.000 năm sau sẽ có người phạm giới, Phật thiết lập ra giới cấm. Di Lặc Như Lai thọ 8 vạn 4 ngàn năm. Sau khi Phật nhập Niết-bàn, giáo pháp của Ngài tồn tại đến 8 vạn 4 ngàn năm. Chúng sanh lúc ấy đều lợi căn. Những người thiện nam hay thiện nữ nào muốn được gặp Phật Di-Lặc, ba hội chúng Thanh văn và thành Sí-đầu, muốn gặp vua Nhương Khứ cùng 4 kho trân bảo lớn, muốn ăn lúa gạo ngon tự nhiên và mặc y phục tự nhiên, sau khi chết được sanh lên trời. Những người thiện nam, thiện nữ ấy không nên lười nhác mà hãy nỗ lực tinh tấn, hãy cúng dường hầu hạ các Pháp sư, cúng dường các loại vật dụng, hoa hương... chớ để thiếu sót.

Này A-nan! Hãy học và thực hành như vậy.

Tôn giả A-nan và các đại hội nghe lời Phật dạy hoan hỷ phụng hành.

KINH PHẬT THUYẾT QUÁN BỒ-TÁT

DI LẶC HẠ SANH

Hết

Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất



Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất

Thích nữ Như Phúc

Nguồn: Thích nữ Như Phúc dịch



Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp-Cô-Độc, rừng cây Thái tử Kỳ-Đà, nước Xá-Vệ. Lúc bấy giờ là đầu đêm, toàn thân đức Thế Tôn phóng ra hào quang sắc vàng. Hào quang ấy tỏa chiếu chung quanh khắp vườn Kỳ-Đà đến 7 vòng, tỏa chiếu nhà trưởng giả Tu-Đạt cũng sắc vàng. Hào quang vàng rực rỡ như những đám mây. Khắp nước Xá-Vệ nơi nào cũng mưa tuôn những hoa sen màu vàng và trong hào quang ấy có vô lượng trăm ngàn các vị hóa Phật xướng rằng: " Nơi đây hôm nay có ngàn Bồ-tát, vị thành Phật đầu tiên tên là Câu Lưu Tôn và vị thành Phật cuối cùng tên Lâu Chí".

Khi nghe lời này xong, tôn giả A-nhã Kiều Trần Như xuất thiền cùng với 250 quyến thuộc, tôn giả Ma-ha Ca-Diếp cùng với 250 quyến thuộc, tôn giả Đại Mục Kiền Liên cùng với 250 quyến thuộc, tôn giả Xá Lợi Phất cùng với 250 quyến thuộc, Tỳ-kheo ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng 1.000 Tỳ-kheo ni quyến thuộc, trưởng giả Tu-Đạt cùng 3.000 Ưu-bà-tắc, bà Tỳ-xá-khư cùng 2.000 Ưu-bà-di. Lại có Bồ-tát Ma-ha-tát tên Bạt-đà-ba-la cùng 16 quyến thuộc, Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử cùng 500 Bồ-tát quyến thuộc vân tập. Tất cả đại chúng trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà... trông thấy hào quang tỏa sáng của đức Phật nên đều vân tập.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn xuất tướng lưỡi rộng dài, phóng ra ngàn hào quang sáng, mỗi một hào quang có ngàn màu, trong mỗi một màu có vô lượng hóa Phật. Các vị hóa Phật này đều đồng thanh nói về các pháp đà-la-ni bất khả tư nghì sâu xa của các đại Bồ-tát thanh tịnh. Đó là những đà-la-ni như: A nan đà mục khư, Không tuệ, Vô văn tánh, Đại giải thoát vô tướng.

Khi ấy, đức Thế Tôn dùng một âm thanh để nói trăm ức đà-la-ni môn. Thế Tôn nói đà-la-ni này rồi, trong hội chúng có một Bồ-tát tên Di-Lặc nghe lời Phật nói liền đạt trăm vạn ức đà-la-ni môn. Bồ-tát rời chỗ ngồi, sửa y tề chỉnh, cung kính chắp tay đứng trước Phật.

Khi ấy tôn giả Ưu-ba-ly cũng rời chỗ ngồi, cúi đầu đảnh lễ Phật, thưa:

- Bạch đức Thế Tôn! Thuở xưa ở trong Luật và các tạng Kinh đều dạy là A-dật-đa tiếp đến sẽ làm Phật, nhưng A-dật-đa hoàn toàn còn thân phàm phu, chưa đoạn các lậu hoặc, người này khi chết sẽ sanh về đâu? Hiện tại tuy đã xuất gia nhưng A-dật-đa không tu thiền định, không đoạn phiền não mà được Phật thọ ký: "Người này chắc chắn thành Phật" . Vậy thì người này kki chết sẽ sanh vào cõi nước nào?

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Thầy hãy lắng nghe thật kỹ, khéo suy tư và nhớ nghĩ những điều này: Hôm nay Như Lai Ứng cúng Chánh biến tri ở trong đại chúng này nói về sự thọ ký quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho đại Bồ-tát Di-Lặc. Từ đây cho đến 12 năm sau khi chết, người này chắc chắn sẽ được sanh sang cõi trời Đâu-Suất. Lúc bấy giờ trên trời Đâu-Suất có 500 vạn ức thiên tử, mỗi một thiên tử đều tu pháp bố thí ba-la-mật sâu xa để cúng dường vị Bồ-tát còn một đời sẽ làm Phật và dùng phước lực trời tạo thành cung điện. Mỗi mỗi thiên tử đều mở mũ chiên-đàn ma ni bảo trên người, quỳ gối chắp tay phát nguyện: "Nay con đem mũ trời châu báu vô giá này để cúng dường chúng sanh tâm rộng lớn. Người này chẳng bao lâu trong tương lai sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, con ở nơi thế giới trang nghiêm của đức Phật kia được thọ ký, làm cho mũ báu của con hóa thành những vật cúng dường" . Như thế, các thiên tử đều quỳ gối và phát nguyện rộng lớn. Lúc các thiên tử phát nguyện xong, các mũ báu hóa thành 500 vạn ức cung báu. Mỗi một cung báu có 7 lớp tường. Mỗi một lớp tường do 7 báu tạo thành. Mỗi một châu báu phát ra 500 ức ánh sáng. Trong mỗi một ánh sáng có 500 ức hoa sen. Mỗi một hoa sen hóa thành 500 ức hàng cây 7 báu. Mỗi một lá cây có 500 ức màu châu báu . Mỗi một màu châu báu có 500 ức ánh sáng vàng Diêm Phù Đàn. Trong mỗi một ánh sáng vàng Diêm Phù Đàn phát ra 500 ức Bảo nữ chư thiên. Mỗi một Bảo nữ đứng dưới cây cầm trăm ức châu báu và vô số anh lạc phát ra âm nhạc vi diệu. Trong âm nhạc diễn nói hạnh pháp luân Bất thối chuyển địa. Cây ấy sanh ra quả màu như pha-lê. Tất cả các màu nhập vào trong màu pha-lê. Các ánh sáng này lượn vòng bên phải, chuyển thành những thanh âm diễn nói pháp đại từ đại bi. Mỗi một vách tường cao 62 do-tuần, dày 14 do-tuần, có 500 ức Long vương vây quanh tường này. Mỗi mỗi Long vương phun ra 500 ức hàng cây 7 báu làm tăng thêm sự tráng lệ trên tường. Tự nhiên có gió thổi vào làm xao động những hàng cây. Các cây chạm vào nhau tạo thành lời diễn nói các pháp ba-la-mật và khổ, không, vô thường, vô ngã. Tại cung có một đại thần tên Lao-độ-bạt-đề rời tòa đứng dậy kính lễ chư Phật khắp 10 phương và phát nguyện: "Con vì phước đức cúng dường thiện pháp đường cho Bồ-tát Di-Lặc, trên trán của con tự nhiên có bảo châu " . Phát nguyện xong, trên trán của đại thần tự nhiên có 500 ức bảo châu, lưu ly, pha-lê đủ tất cả màu sắc như màu xanh sẫm ánh đỏ trong suốt từ trong ra ngoài. Ánh sáng của ngọc ma-ni ấy xoay vần trong hư không hóa thành cung điện báu cao 49 tầng, vô cùng tốt đẹp. Chung quanh cung điện có lan can do vạn ức ngọc ngà châu báu của trời Phạm thiên hợp thành. Giữa các lan can ấy hóa sanh 9 ức thiên tử, 500 ức thiên nữ. Trong tay của mỗi thiên tử hóa sanh vô lượng ức vạn hoa sen 7 báu. Trên mỗi một hoa sen có vô lượng ức ánh sáng và trong ánh sáng ấy có đủ các nhạc khí. Nhạc trời này không đánh tự kêu. Khi tiếng nhạc trỗi lên thì các thiên nữ tự nhiên cầm những nhạc khí đua nhau ca múa. Họ ca ngâm, diễn nói 10 pháp lành, 4 thệ nguyện lớn. Chư thiên nghe được đều phát tâm đạo vô thượng.

Trong các cảnh vườn có ao lưu ly 8 màu, mỗi một ao được tạo thành bởi 500 ức châu báu. Trong mỗi ao có nước 8 công đức và đủ 8 màu, nước phun lên quanh các trụ. Phía ngoài 4 cửa hóa sanh 4 hoa, nước từ trong hoa chảy ra thành dòng hoa báu, trên mỗi hoa có 24 thiên nữ thân sắc tươi đẹp, trang nghiêm như thân tướng của các Bồ-tát. Trong tay thiên nữ hóa ra 500 ức bình báu, trong mỗi bình báu tự nhiên chứa đầy chất cam-lồ. Vai trái họ mang vô lượng chuỗi anh lạc, vai phải của họ đeo vô lượng nhạc khí, từ nước hiện lên như mây tụ giữa hư không, tán thán 6 pháp ba-la-mật của Bồ-tát.

Người nào vãng sanh lên cõi trời Đâu-Suất, tự nhiên được các thiên nữ này hầu hạ. Có tòa sư tử lớn bằng 7 báu cao 4 do tuần trang trí bằng vàng Diêm Phù Đàn và vô lượng châu báu. Ở đầu 4 góc tòa sanh 4 hoa sen, mỗi mỗi hoa sen do trăm châu báu tạo thành, mỗi mỗi châu báu phát ra trăm ức ánh sáng. Ánh sáng vi diệu ấy hóa thành 500 ức những hoa báu xen nhau và các trướng báu.

Khi đó khắp 10 phương có trăm ngàn vua Phạm thiên, mỗi một vị cầm một món báu của Phạm thiên dùng làm linh báu treo trên bảo trướng. các tiểu Phạm vương cầm các châu báu trời dệt thành lưới rộng lớn che lên trên trướng. Có trăm ngàn vô số thiên tử, thiên nữ mang hoa báu rải trên tòa, các hoa sen này tự nhiên hiện ra 500 ức bảo nữ, tay cầm phất trần trắng đứng hầu dưới trướng. Có 4 trụ báu chống đỡ 4 góc cung điện, mỗi một trụ báu cao trăm ngàn tầng lầu, toàn dùng ngọc ma-ni trời Phạm thiên kết làm dây giăng. Trong các cung điện có trăm ngàn thiên nữ xinh đẹp không ai bằng, tay cầm nhạc khí trỗi lên thanh âm diễn nói các pháp ba-la-mật, khổ, không, vô thường, vô ngã. Thiên cung này có trăm ức vạn vô lượng màu sắc báu và tất cả thiên nữ cũng đều có sắc quý báu. Khi vô lượng chư thiên ở khắp 10 phương qua đời đều nguyện sanh về cung trời Đâu Suất.

Cung trời Đâu Suất có 5 đại thần:

- Đại thần thứ nhất tên Bảo Tràng, thân tuôn 7 báu rải trong tường cung trời, mỗi một châu báu hóa thành vô lượng nhạc khí treo giữa hư không và tự phát ra thanh âm. Có vô lượng thanh âm làm cho chúng sanh vui thích.

- Đại thần thứ hai tên Hoa Đức, thân tuôn vô số hoa phủ che cung tường và hóa thành lọng hoa, mỗi một lọng hoa làm thành trăm ngàn tràng phan để dẫn đường.

- Đại thần thứ ba tên Hương Âm, trong lỗ chân lông nơi thân tuôn ra mùi hương vi diệu như hương chiên-đàn hải ngạn. Hương ấy như mây, tạo thành trăm màu quý báu, thơm quanh cung điện 7 vòng.

- Đại thần thứ tư tên Hỷ Lạc, tuôn ra ngọc như ý, mỗi mỗi châu báu tự nhiên trụ trên tràng phan kêu reo vô lượng các pháp quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và 5 giới, các pháp ba-la-mật, vô lượng pháp lành làm lợi ích và khuyên tu tâm hạnh Bồ-đề.

- Đại thần thứ năm tên Chánh Âm Thanh, các lỗ chân lông trên thân tuôn ra các dòng nước. Trên mỗi một dòng nước có 500 ức hoa. Trên mỗi bông hoa có 25 ngọc nữ. Các lỗ chân lông trên thân những ngọc nữ đó phát ra tất cả thanh âm tuyệt diệu, hơn cả âm nhạc của hoàng hậu cung thiên ma.

Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Đó là cảnh giới Đâu Suất Đà Thiên, do phước báo tu thập thiện mới được phước đức thù thắng vi diệu như vậy. Nếu Ta ở đời một tiểu kiếp để giảng rộng về quả phước tu 10 điều thiện và báo ứng của Bồ-tát còn một đời sẽ thành Phật cũng không thể hết được. Nay Ta chỉ giảng nói tóm tắt cho các ngươi mà thôi.

Này Ưu-ba-ly! Như có Tỳ-kheo và tất cả đại chúng nào muốn sanh lên cõi trời ấy thì đừng nhàm chán sanh tử, tâm yêu kính tuệ giác vô thượng, muốn làm đệ tử Bồ-tát Di Lặc thì hãy quán tưởng thế này: giữ trọn vẹn 5 giới, 8 giới Bát-quan-trai và giới Cụ túc, thân tâm tinh tấn, không cầu đoạn kiết sử, tu pháp 10 điều thiện, luôn luôn tư duy về sự an vui tốt đẹp bậc nhất ở cõi trời Đâu-Suất. Quán như vậy gọi là Chánh quán, nếu quán khác đi là tà quán.

Tôn giả Ưu-ba-ly rời tòa, sửa y ca-sa, cung kính đảnh lễ và bạch Phật:

- Bạch đức Thế Tôn! Trên trời Đâu Suất mới có sự an vui và cực kỳ tốt đẹp như vậy. Nay khi nào đại sĩ này chết ở Diêm Phù Đề và được sanh đến cõi trời kia?

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Xưa kia Di-Lặc sanh nơi nhà đại Bà-la-môn Ba-bà-lợi, thôn Kiếp-ba-lợi, nước Ba-la-nại. Đến ngày rằm tháng hai, 12 kiếp sau Bồ-tát sanh trở lại nơi này với tư thế ngồi kiết-già như nhập Diệt định, thân màu vàng ròng, tỏa hào quang sáng rực rỡ như trăm ngàn mặt trời chiếu đến trời Đâu Suất Đà. Toàn thân Xá-lợi của Bồ-tát tĩnh lặng không dao động, như pho tượng vàng. Trong hào quang viên mãn ấy có chữ nghĩa Thủ Lăng Nghiêm tam muội và Bát-nhã ba-la-mật rạng rỡ sáng ngời.

Khi ấy các thiên nhân liền đến xây tháp bằng châu báu tốt đẹp để cúng dường xá-lợi Bồ-tát, rồi Bồ-tát bỗng hóa sanh nơi cung trời Đâu Suất Đà, trên điện ma-ni, trong đài 7 báu, ngồi kiết già trên hoa sen nơi tòa sư tử. Thân cao 16 do-tuần, sắc vàng như Diêm-phù-đàn, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Nhục kế nơi búi tóc trên đảnh màu lưu ly xanh biếc. Trên mũ trời của Bồ-tát được trang trí bằng ngọc Thích-ca-tỳ-lăng-già và trăm ngàn vạn ức Chân-thúc-ca-bảo có trăm vạn ức màu. Trong mỗi một màu nơi mũ có vô lượng trăm ngàn Phật hóa hiện, có các Bồ-tát hóa hiện làm thị giả. Phương khác lại có các đại Bồ-tát làm 18 cách biến đổi, tùy ý tự tại ở trong mũ trời. Giữa chân mày của Bồ-tát Di-Lặc có ánh sáng tướng bạch hào phát ra các ánh sáng tạo thành trăm màu châu báu và 32 tướng. Trong mỗi mỗi tướng có 500 ức màu báu, trong mỗi mỗi tướng tốt cũng có 500 ức màu báu. Mỗi một tướng tốt tuyệt diệu đó phát ra 8 vạn 4 ngàn mây ánh sáng. Các thiên tử đều ngồi trên tòa hoa, ngày đêm 6 thời thường nói về sự thực hành pháp luân Bất thối chuyển địa. Trải qua một thời gian, Bồ-tát giáo hóa thành tựu 500 ức thiên tử, làm cho họ được Bất thối chuyển nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Như thế, Bồ-tát ở cung trời Đâu Suất Đà ngày đêm thường nói pháp Bất thối chuyển này để hóa độ các thiên tử, theo như ở Diêm Phù Đề tính ra là 56 ức vạn năm. Lúc ấy Bồ-tát mới hạ sanh cõi Diêm Phù Đề, như kinh Di-Lặc Hạ Sanh đã ghi.

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Đây là sự việc của Bồ-tát Di-Lặc ở Diêm Phù Đề, chết rồi sanh lên cung trời Đâu Suất. Sau khi Ta diệt độ, các đệ tử của Ta có người tinh tấn tu hành các công đức oai nghi đầy đủ, quét tháp, dọn tinh xá, đem các hoa thơm tươi đẹp nhất để cúng dường, thực hành thiền định sâu xa, thọ trì đọc tụng kinh điển. Những người đó nên chí tâm, cho dù chưa đoạn tận phiền não hay chưa đắc lục thông. Hãy nên chánh niệm, nghĩ nhớ Phật và hình tượng, danh hiệu đức Di-Lặc. Người như vậy, hoặc trong khoảng một niệm thọ trì 8 trai giới, tu các tịnh nghiệp, phát thệ nguyện rộng lớn, sau khi qua đời, chỉ trong khoảnh khắc liền được vãng sanh lên cõi trời Đâu Suất, được ngồi kiết già trên hoa sen, có trăm ngàn thiên tử trỗi kỹ nhạc trời, dùng hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la rải lên trên những người ấy. Các thiên tử ngợi khen: "Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Người ở Diêm Phù Đề tu nhiều phước nghiệp, được sanh đến cõi này. Cõi này gọi là trời Đâu Suất Đà. Chủ cõi trời này là đức Di-Lặc. Ngươi hãy quy y Bồ-tát Di-Lặc" .

Khi nghe xong, những người đó liền đảnh lễ Bồ-tát, rồi nhìn kỹ vào tướng hào quang sáng giữa chân mày của Bồ-tát, tức thì họ được vượt khỏi tội sanh tử trong 90 ức kiếp. Lúc bấy giờ Bồ-tát tùy theo duyên đời trước của người ấy mà thuyết pháp vi diệu, làm cho họ được tâm vững chắc và không thoái chuyển nơi đạo Vô thượng. Những chúng sanh nào nếu tu các nghiệp thanh tịnh, thực hành 6 pháp hòa kính, kiên định không nghi ngờ sẽ được sanh lên trời Đâu Suất, gặp Bồ-tát và theo Bồ-tát Di-Lặc xuống lại cõi Diêm Phù Đề, được nghe pháp đệ nhất, vào đời tương lai được gặp tất cả chư Phật ở đời Hiền kiếp. Đến kiếp Tinh Tú cũng được gặp chư Phật Thế Tôn, được các đức Phật thọ ký đạo quả giác ngộ.

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Sau khi Ta diệt độ, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già... Các đại chúng này nếu ai được nghe danh hiệu đại Bồ-tát Di Lặc mà hoan hỷ cung kính, lễ bái, những người này sau khi chết, chỉ trong khoảng khảy móng tay liền được vãng sanh, như đã nêu trên. Chỉ được nghe danh hiệu Bồ-tát Di Lặc mà sau khi chết cũng được khỏi đọa vào chỗ tối tăm, chỗ biên địa tà kiến, các ác luật nghi, thường sanh chánh kiến, có quyến thuộc giàu sang, không hủy báng Tam bảo.

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Nếu người nam, người nữ nào phạm các giới cấm và tạo nhiều nghiệp ác mà được nghe danh tự đại bi của Bồ-tát, cung kính chí thành đảnh lễ sám hối thì các nghiệp ác đó được trong sạch ngay. Đời tương lai có những chúng sanh nghe được danh hiệu đại bi của Bồ-tát này mà tạo lập hình tượng, cúng dường hương hoa, y phục, lọng lụa, tràng phan, lễ bái và niệm danh hiệu Ngài, khi sắp chết người này được Bồ-tát Di Lặc phóng hào quang trắng giữa chân mày, cùng các thiên tử mưa hoa Mạn-đà-la và đến nghênh đón. Phút chốc người này liền được vãng sanh, được gặp Bồ-tát Di-Lặc và cung kính đảnh lễ Ngài, chưa kịp ngẩng đầu lên đã được nghe pháp nhiệm mầu, được Bất thối chuyển nơi đạo Vô thượng. Đời tương lai cũng sẽ được gặp hằng hà sa số chư Phật Như Lai.

Này Ưu-ba-ly! Ông hãy lắng nghe, đời tương lai Bồ-tát Di Lặc đại từ sẽ là chỗ quy y của vô lượng chúng sanh. Người quy y với Bồ-tát Di Lặc thì biết đó là không thoái chuyển nơi đạo Vô thượng. Khi Bồ-tát Di Lặc thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì những người này gặp được hào quang Phật, liền được thọ ký.

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Sau khi Ta diệt độ, 4 chúng đệ tử, trời, rồng, quỷ, thần, ai muốn sanh lên cõi trời Đâu Suất nên tu quán tưởng, tư duy chánh niệm về cõi trời ấy và giữ giới thanh tịnh, từ một đến 7 ngày chuyên trì niệm hạnh Thập thiện và 10 Thiện đạo, do công đức này hồi hướng nguyện sanh đối trước Phật Di Lặc thì hãy quán tưởng điều này. Người quán tưởng, nếu thấy một vị thiên nhân ngồi trên một hoa sen hoặc trong một khoảnh khắc niệm danh hiệu Bồ-tát Di Lặc, người này sẽ được tiêu trừ 1.200 kiếp tội ác sanh tử. Nếu nghe danh hiệu Bồ-tát Di Lặc mà chắp tay cung kính, người này trừ được 50 kiếp tội sanh tử. Người kính lễ Bồ-tát Di Lặc sẽ trừ được trăm ức kiếp tội sanh tử. Nếu như không được sanh lên cõi trời Đâu Suất thì đời tương lai trong hội Long Hoa, dưới cội Bồ-đề cũng được gặp Phật, phát tâm đạo vô thượng.

Khi đức Phật nói những lời này, vô lượng đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật và Bồ-tát Di Lặc rồi nhiễu quanh Phật cùng Bồ-tát Di Lặc trăm ngàn vòng. Những người chưa đắc đạo đều phát thệ nguyện:

- Chúng con trời người và tám bộ chúng hôm nay ở trước Phật thành thật phát nguyện: "Đời tương lai sẽ gặp Phật Di Lặc, khi xả bỏ thân này đều được sanh lên trời Đâu Suất" .

Đức Thế Tôn ghi nhận và dạy:

- Đời sau các ngươi tu phước, trì giới đều sẽ sanh sang cõi Bồ-tát Di Lặc và được Bồ-tát Di Lặc thọ ký.

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly:

- Người quán tưởng như vậy gọi là chánh quán. Nếu quán khác đi gọi là tà quán.

Lúc bấy giờ tôn giả A-nan rời chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay bạch Phật:

- Bạch đức Thế Tôn! Lành thay đức Thế Tôn! Ngài đã nói về công đức của Bồ-tát Di Lặc và thọ ký cho những ai đời sau tu phước thiện sẽ được quả báo. Con xin tùy hỷ. Xin đức Thế Tôn cho biết pháp này thọ trì như thế nào và kinh này tên là gì?

Đức Phật bảo A-nan:

- Ông nhớ lời Ta dạy, cẩn thận đừng quên mất, để đời sau khai mở con đường sanh lên cõi trời và chỉ bày đạo lộ giải thoát, chớ để đoạn mất hạt giống Phật. Kinh này nên gọi là Bồ-tát Di-Lặc nhập Niết-bàn, cũng gọi là Quán Di-Lặc sanh Đâu Suất Đà thiên. Khuyên người tu phát tâm Bồ-đề nên thọ trì như vậy.

Khi đức Phật dạy những lời này có 10 vạn Bồ-tát ở phương khác đến đại hội đạt Thủ Lăng Nghiêm Tam muội, 8 vạn ức chư thiên phát tâm Bồ-đề, đều nguyện theo Phật Di Lặc hạ sanh.

Lúc Phật dạy những lời này, 4 chúng đệ tử, trời, rồng, bát bộ nghe lời Phật dạy tất cả đều vui mừng đảnh lễ Phật mà lui ra.

QUÁN DI-LẶC BỒ-TÁT

THƯỢNG SANH ĐÂU-SUẤT

Hết

Kinh Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật



Những Bản Kinh Ngắn Dịch Từ Hán Tạng
Kinh Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật

Thích nữ Như Phúc dịch

Nguồn: Thích nữ Như Phúc dịch




Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Như Lai ở trên đỉnh núi Linh Thứu, thành Vương Xá cùng đại chúng Bí-sô. Tôn giả Xá Lợi Phất là bậc đại trí, bậc tướng đệ nhất về giáo pháp trong hàng đệ tử Phật. Vì thương tưởng chúng sanh nên ngài rời tòa đứng dậy, sửa y bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, cung kính chắp tay bạch Phật:

- Bạch đức Thế Tôn! Con có ít điều muốn thưa hỏi, cúi xin Ngài cho phép.

Đức Phật bảo Xá Lợi Phất:

- Thầy cứ tùy ý hỏi, Ta sẽ trả lời.

Tôn giả Xá Lợi Phất dùng kệ thỉnh hỏi đức Thế Tôn:

- Phật đã thọ ký cho
Tương lai Phật hạ sanh
Hiệu Di Lặc Từ Thị
Như trình tự kinh thuyết
Cúi xin Phật Thế Tôn
Tóm tắt và phân tích
Oai đức thần thông kia
Nay con mong muốn nghe.
Phật bảo Xá Lợi Tử:
- Nên chí tâm lắng nghe
Tương lai Phật Từ Thị
Ta giảng rộng cho thầy
Thời ấy nước biển cả
Giảm dần bớt ba ngàn
Hai trăm du-thiện-na
Bồi đất thành đường đi
Cõi Ta-bà rộng thêm
Hơn vạn du-thiện-na
Chúng sanh ở cõi ấy
Đầy đủ và sung mãn
Cõi nước giàu, tốt đẹp
Không hình phạt, tai nạn
Các nam nữ cõi này
Sanh ra từ thiện nghiệp
Đất không có gai góc
Cỏ xanh mọc mềm mại
Như trải thảm nhung êm
Người đi rất vừa ý
Tự nhiên sanh gạo thơm
Đầy đủ chất thơm ngon
Các cây sanh y phục
Màu sắc đều tốt đẹp
Cây cao ba câu-xá
Hoa quả rất sum suê
Người trong cõi nước này
Tuổi thọ tám vạn năm
Không có các bệnh khổ
Thân tâm thường an lạc
Đủ các tướng đoan nghiêm
Sắc lực đều viên mãn
Chỉ còn ba nỗi lo:
Ăn, già, đại tiểu tiện
Con gái năm trăm tuổi
Mới làm lễ kết hôn
Nếu người đại tiểu tiện
Đất nứt ra, khép lại
Khi người sắp qua đời
Tự đến rừng Thi Lâm
Có thành Diệu Tràng Tướng
Kinh đô của Luân vương
Dài mười hai do-tuần
Rộng bằng bảy do-tuần
Người sống trong thành ấy
Đều đã trồng nhân tốt
Thành này đức cao vời
Ai ở cũng an vui
Lầu đài đều tốt đẹp
Do bảy báu tạo thành
Đại sảnh và các cửa
Trang hoàng bằng châu báu
Các ao báu quanh thành
Đầy những trân bảo quý
Hoa đẹp nở đầy vườn
Nhiều chim đẹp líu lo
Bảy hàng cây đa-la
Bao bọc chung quanh thành
Cũng trang hoàng bảy báu
Lưới báu và phong linh
Gió thoảng vào cây báu
Tạo âm thanh tuyệt vời
Giống như nhạc bát âm
Người nghe sanh hoan hỷ
Nơi nơi có ao hồ
Phủ đầy những hoa đẹp
Công viên hoa thơm ngát
Làm đẹp thành quách này
Hoàng đế cai trị nước
Danh hiệu là Hướng Khư
Kim luân vương cai trị
Giàu sang nhiều oai lực
Phước đức nghiệp của vua
Hùng mạnh kiêm bốn binh
Thành tựu bởi bảy báu
Vua có đủ ngàn con
Bốn biển đều an vui
Không có việc chiến chinh
Chánh pháp dạy quần sanh
Hình pháp đều bình đẳng
Vua có bốn kho tàng
Mỗi kho ở một hướng
Cả bốn kho đều có
Trăm vạn ức trân bảo
Kho tàng Băng-kiệt-la
Ở nước Yết-lăng-già
Kho tàng Bát-trục-ca
Ở nước Mật-hy-la
Kho Y-la-bát-la
Đặt tại nước Kiền-đà
Kho tàng tên Hướng-khư
Nước Ba-na-bặc-tư
Bốn kho tàng kín này
Thuộc về vua Hướng Khư
Do trăm phước sanh ra
Quả báo tu thành tựu
Đại thần bảo vệ nước
Bà-la-môn Thiện Tịnh
Thông đạt cả bốn minh
Là uốc sư học rộng
Và bác học luận triết
Khéo dạy người nghe nhận
Thông tuệ và rõ ràng
Tất cả đều tường tận
Vợ ông tên Tịnh Diệu
Là phu nhân đại thần
Tướng đoan trang xinh đẹp
Ai gặp cũng mến yêu
Đại trượng phu Từ Thị
Từ cõi trời Đâu Suất
Thác vào thai phu nhân
Làm nơi sanh cuối cùng
Phu nhân mang đại thánh
Đủ mười tháng cưu mang
Một hôm Từ tôn mẫu
Đi dạo vườn hoa đẹp
Ở trong vườn hoa đó
Không ngồi cũng không nằm
Khoan thai vin cành hoa
Đản sanh Ngài Từ Thị
Bấy giờ bậc tối thắng
Hông phải mẹ chui ra
Như mặt trời rực rỡ
Tỏa ánh sáng muôn phương
Không nhiễm mùi tục lụy
Như hoa sen khỏi nước
Ánh sáng chiếu ba cõi
Đều quy ngưỡng đại từ
Khi Bồ-tát giáng sanh
Chư thiên, Đế Thích vương
Đưa tay đỡ Bồ-tát
Mừng gặp Lưỡng túc tôn
Bồ-tát ngay lúc này
Tự nhiên đi bảy bước
Và khắp dưới chân Ngài
Hiện ra hoa sen báu
Ngài nhìn khắp mười phương
Bảo hết các thiên nhân
Này thân cuối của Ta
Chứng Niết-bàn vô sanh
Rồng tuôn nước trong mát
Tắm gội sạch thân Ngài
Trời rải hoa tuyệt đẹp
Bao phủ đấng Đại từ
Ai cũng tâm hy hữu
Bảo vệ nơi Bồ-tát
Bảo mẫu bế hài nhi
Ba mươi hai tướng tốt
Đầy đủ ánh hào quang
Đem trao cho từ mẫu
Xa giá để cung nghinh
Trang hoàng bằng châu báu
Mẹ con cũng vào thành
Chư thiên theo hầu hạ
Muôn ngàn âm nhạc hay
Dẫn đường trở về cung
Từ Thị vào thành quách
Hoa trời như mưa rơi
Ngày đản sanh Bồ-tát
Các thể nữ mang thai
Đều được thân an ổn
Sanh con trai trí tuệ
Phụ thân Từ Thiện Tịnh
Thấy con đẹp diệu kỳ
Đủ ba mươi hai tướng
Lòng rất đổi vui mừng
Cha xem số cho con
Biết con có hai tướng
Ở đời làm Chuyển luân
Xuất gia thành Chánh giác
Bồ-tát lúc trưởng thành
Từ mẫn các quần sanh
Khổ đau trong hiểm nạn
Mãi quanh quẩn luân hồi
Thân như vàng sáng chói
Tiếng giống đại Phạm Vương
Mắt cánh sen xanh biếc
Các chi đều tròn đầy
Cao tám mươi khuỷu tay
Vai hai mươi khuỷu tay
Mặt rộng, vai cân xứng
Xinh đẹp như trăng tròn
Bồ-tát thông tài nghệ
Khéo giáo hóa mọi người
Đến cần cầu xin học
Tám vạn bốn ngàn người
Vua Hướng Khư nghe tiếng
Xây dựng tràng bảy báu
Tràng cao bảy mươi thước
Rộng mười sáu thước hơn
Bảo tràng đã lập xong
Vua phát tâm đại xả
Bố thí Bà-la-môn
Mở hội thí không hạn
Khi ấy các Phạm chí
Số có một ngàn người
Được tràng báu đẹp này
Chỉ khoảnh khắc vỡ vụn
Bồ-tát thấy như vậy
Nghĩ cuộc đời cũng thế
Sanh tử khổ lao lung
Sao không cầu giải thoát?
Nếu mong đạo tịch diệt
Hãy bỏ tục xuất gia
Trong sanh già bệnh chết
Phải làm sao ra khỏi
Từ Thị phát nguyện xong
Tám vạn bốn ngàn người
Đều sanh tâm nhàm chán
Theo tu tập phạm hạnh
Ngày đêm đều phát tâm
Xuất gia bỏ thế tục
Đến nửa đêm hôm ấy
Chứng đắc địa Đẳng giác
Có một cây giác ngộ
Cũng gọi cây Long Hoa
Cao bốn du-thiện-na
Sum suê và râm mát
Nhánh tỏa đều bốn mặt
Bóng sáu câu-lô-xá
Từ Thị đại bi tôn
Thành Chánh giác dưới cây
Tối thắng trong mọi người
Có tám tiếng Phạm âm
Thuyết pháp độ chúng sanh
Giúp xa lìa phiền não
Khổ và nơi sanh khổ
Tất cả được diệt trừ
Siêng tu tám chánh đạo
Đến bờ giác Niết-bàn
Nói bốn pháp chơn đế
Cho những người thanh, tín
Được nghe pháp vi diệu
Chí thành vâng làm theo
Trong vườn hoa tươi đẹp
Chúng tập hợp như mây
Đầy trăm ngàn do-tuần
Và quyến thuộc đông đủ
Kim luân vương Hướng Khư
Nghe pháp sâu nhiệm mầu
Bỏ lâu đài châu báu
Lòng cầu khẩn xuất gia
Tám vạn bốn ngàn người
Theo vua đi xuất gia
Và tám vạn bốn ngàn
Thanh niên Bà-la-môn
Nghe vua bỏ trần tục
Cũng cầu xin xuất gia
Trưởng giả chủ tàng thần
Có tên là Thiện Tài
Cùng ngàn người bà con
Cũng đến xin xuất gia
Bảo nữ Tỳ-xá-khư
Cùng tất cả thị tùng
Tám vạn bốn ngàn người
Cũng đến xin xuất gia
Và hơn số trăm ngàn
Chúng hiện nam thiện nữ
Nghe Phật giảng pháp mầu
Cũng đến xin xuất gia
Vô thượng Chúng trung tôn
Thánh chúa Đại từ bi
Xem khắp tâm chúng sanh
Mà giảng nói pháp yếu
Bảo đại chúng nên biết
Thích Ca Phật từ bi
Dạy người tu chánh đạo
Nay sanh trong pháp Ta
Hoặc đem vòng hoa thơm
Tràng phan và lọng báu
Cúng dường Phật Thích Ca
Nay sanh trong pháp Ta
Hoặc chiên-đàn, trầm thủy
Hương bột để tô phết
Cúng dường tháp Mâu-Ni
Nay sanh trong pháp Ta
Quy y Phật, Pháp, Tăng
Thường cung kính thân cận
Chuyên tu những hạnh thiện
Nay sanh trong pháp Ta
Hoặc đối với pháp Phật
Vâng thọ các kinh điển
Khéo giữ không khiếm khuyết
Nay sanh trong pháp Ta
Đối với Tăng bốn phương
Cúng thực phẩm, y phục
Tất cả thuốc thang hay
Nay sanh trong pháp Ta
Hoặc giữ bốn ngày trai
Và thập trai, nguyệt trai
Thọ trì tám trai giới
Nay sanh trong pháp Ta
Hoặc tu ba thần thông
Truyền trao dạy thần cảnh
Giáo hóa chúng Thanh văn
Giúp họ đoạn phiền não
Hội thứ nhất thuyết pháp
Độ khắp chúng Thanh văn
Chín mươi sáu ức người
Khiến khỏi chướng phiền não
Hội thứ hai thuyết pháp
Độ khắp chúng Thanh văn
Chín mươi bốn ức người
Vượt khỏi biển vô minh
Hội thứ ba thuyết pháp
Độ khắp chúng Thanh văn
Chín mươi hai ức người
Khéo biết điều phục tâm
Ba lần chuyển pháp luân
Trời, người tâm thuần tịnh
Đem tất cả đệ tử
Vào trong thành khất thực
Khi đến thành Diệu Tràng
Các nẻo đường trang hoàng
Để cúng dường đức Phật
Trời mưa hoa Mạn-đà
Tứ thiên vương, Phạm vương
Cùng tất cả thiên chúng
Cúng dường hương hoa thơm
Hầu bên đấng Đại từ
Chư thiên nhiều oai đức
Cúng y phục tốt đẹp
Khắp thị thành rộn rịp
Chiêm ngưỡng đại Y vương
Mang hoa thơm châu báu
Rải sạch các nẻo đường
Phủ đầy trên mặt đất
Ví như đổ-la-miên
Âm nhạc và tràng phan
Dọc hai bên đường đi
Chúng nhân thiên Đế Thích
Tán thán đức Thế Tôn
Nam mô Thiên Thượng Tôn
Nam mô Phật Tối Thắng
Lành thay đấng Như Lai
Thương xót khắp trần gian
Có trời nhiều oai đức
Đang làm vua các ma
Nhất tâm cung kính lễ
Quy ngưỡng đấng Đạo sư
Pham vương và thiên chúng
Cùng quyến thuộc vây quanh
Mang âm thanh Phạm thiên
Xiển dương pháp vi diệu
Ở trong thế giới này
Phần đông A-la-hán
Dứt sạch nghiệp hữu lậu
Khổ phiền não không còn
Chúng trời, người, long thần
Càn-thát, A-tu-la
La-sát và Dược-xoa
Đều hoan hỷ cúng dường
Đại chúng lúc bấy giờ
Đoạn chướng, trừ nghi hoặc
Vượt khỏi dòng sanh tử
Khéo tu hạnh thanh tịnh
Tất cả các đại chúng
Không tham đắm của cải
Vô ngã và ngã sở
Khéo tu hạnh thanh tịnh
Tất cả các đại chúng
Phá vỡ lưới tham ái
Tâm tịnh lự viên mãn
Khéo tu hạnh thanh tịnh
Thiên nhân tôn Từ Thị
Thương tưởng chúng hữu tình
Sáu vạn năm ở đời
Thuyết pháp độ chúng sanh
Giáo hóa trăm ngàn ức
Thoát khỏi biển phiền não
Người đủ duyên độ hết
Mới nhập thành Niết-bàn
Từ Thị đại bi tôn
Sau khi nhập Niết-bàn
Chánh pháp trụ ở đời
Cũng đủ sáu vạn năm
Người nào trong pháp Ta
Tâm tin nhận sâu xa
Tương lai khi hạ sanh
Ắt thờ đấng đại bi
Nếu có người thông tuệ
Nghe nói các việc này
Ai mà chẳng vui mừng
Nguyện gặp Phật Di-Lặc
Người nào cầu giải thoát
Mong gặp hội Long Hoa
Thường cúng dường Tam bảo
Nỗ lực chớ buông lung

Khi ấy, Xá Lợi Phất và đại chúng nghe đức Thế Tôn dạy về những sự việc của Ngài Từ Thị trong tương lai rồi, Phật lại dạy Xá Lợi Phất:

- Có người nam, người nữ nào nghe pháp này mà thọ trì, đọc tụng, giảng nói cho người khác tu hành theo giáo pháp, cúng dường hương hoa và ghi chép kinh điển, tương lai những người đó chắc chắn được gặp Phật Di Lặc hạ sanh, ở trong ba hội đều được nhờ ân cứu độ.

Lúc đức Phật nói bài kệ này, tôn giả Xá Lợi Phất và các đại chúng hoan hỷ tin thọ, đảnh lễ, phụng hành.

KINH PHẬT THUYẾT DI-LẶC

HẠ SANH THÀNH PHẬT

Hết