Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

BÁNH CHƯNG NGÀY XUÂN ,TRUYỀN THỐNG TẾT VIỆT

☘️☘️☘️HỘ KINH DOANH VIỆT THÀNH BÁO GIÁ: NĂM 2022 
Đ/ C: 218/35 Minh phụng, F 6, Q 6, TPHCM . ĐT: 02839606000 

👉Bánh chưng : 150k/cái (1,3 kg) 
👉Bánh chưng: 250k/cái (2kg) 
👉Bánh chưng chay: 100k/ cái ( 1kg) 
👉Giò thủ xào : 150k/cái (1/2kg) 

💋Mong cả nhà ủng hộ! Chân thành cảm ơn! 🌻🌺🌼🌿🍀🌸 
Liên hệ: 0937306766













Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2021

LÊ SƠN THÁNH MẪU CƠ BÚT

 










BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO II

Bửu-Quang-Đàn

Ngọ thời 7-6 Kỷ-Dậu (20-7-1969)

Pháp Đàn: Huỳnh-Hoa-Pháp * Đồng Tử: Kim-Hoa

____________





Thi:

LÊ dân náo nhiệt Đạo Trời ban,

SƠN thủy nhô lên tợ nước tràn,

THÁNH triết hiền nhơn lưu lại thế,

MẪU lai thọ sắc Mẫu-Từ ban.

LÊ-SƠN THÁNH-MẪU, Tôn-Sư mừng chư hiền đồ! Chư hiền đồ an tọa nghe Tôn-Sư tiếp bài tả Bình-Minh Đệ Nhị.





Tiếp bài:

Đời tranh đấu thua hơn vật chất,

Đạo trau giồi âm chất nghĩa nhân,

Ai ôi! Kiếp tạm sống trần,

Hỏi bao nhiêu tuổi hưởng phần vinh quang.

Đời cay nghiệt chứa chan tâm sự,

Đạo thay vào hai chữ Từ-Bi,

Người ôi! có biết chăng thì,

Hỏi người tâm sự có chi nặng lòng?

Đời như thế chữ công lấp mất,

Đạo tâm trung thành thật thi hành,

Miễn là thương cả chúng sanh,

Hỏi ai có biết bại thành ra sao?

Đời hằng luận thấp cao hơn Đạo,

Đạo công phu đào tạo tâm hiền,

Đến ngày Đại-Hội Qui-Nguyên,

Hỏi ai còn nắm mối giềng Đài-Cao?

Đời thay đổi biết bao ý nghĩ,

Đạo nhứt tâm chung-thỉ đừng quên,

Ngày cùng sơn đậm tuổi tên,

Hỏi ai chứa đựng đài đền ích chi?

Đời xáo trộn lắm khi điên đảo,

Đạo trau giồi đào tạo tâm linh,

Nói lên tiếng nghĩa nhân tình,

Hỏi ai còn nhớ khắc in thửa lời?

Đời sớm khóc, chiều chơi vui thú,

Đạo ôn tồn cho đủ tánh tâm,

Vui Đạo-Đức chẳng sai lầm,

Hỏi ai còn nhớ mấy năm lạc loài?

Đời lòn cúi đổi thay ảo mộng,

Đạo thong dong cõi sống an vui,

Sống ăn ở để hưởng mùi,

Hỏi ai sao lại lấp vùi đời tu?

Đời không Đạo ngục tù vương vấn,

Đạo lọc thanh cái bẩn kề bên,

Ngày sau tên tuổi vang rền,

Hỏi ai gìn giữ mới nên Đạo người?

Phần Nữ-Đạo vui tươi lấy phận,

Lập kỳ công tiếp dẫn chơn truyền,

Ngày kề dựa cửa non Tiên,

Hỏi ai có biết diệu huyền đã ban?

Giã từ môn đệ trung đàn,

Cõi Tiên vội giục, tiền đàn điển thăng.

Thăng...

BÀI VIẾT TỪ CHÙA NGỌC HOÀNG NHỚ VỀ TOÀ THÁNH TÂY NINH






LINK BÀI VIẾT ĐƯỢC TÁC GIẢ, GHI CHÉP VÀ KỂ RÕ CHI TIẾT QUA TỪNG GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ

LÊ SƠN THÁNH MẪU KHUYẾN TU















LÊ mê cảnh tục chịu nguy nàn,

SƠN hải ngao du rất toại nhàn,

THÁNH-Ðức Chuyển-Me?ơn nước lửa,

MẪU đơn đua nở phất hương tràng.

Chào chư hiền nam nữ.

Than ôi! Nền Ðại-Ðạo hoằng khai đã mười năm. Máy Thiên-cơ xây chuyển làm cho người quân tử phải ngã lòng, kẻ trượng phu nản chí, chẳng biết đâu là chánh với tà, thấy cũng quá thương. Nhưng về thời kỳ hoằng hóa thì cơ Ðạo tuyên truyền, nền chánh giáo phổ thông, hột giống từ hòa rải gieo cho nhơn sanh nhuần gội, bủa luồng khí hạo nhiên bố hóa cả nhơn loại đặng an nhàn. Cơ Ðạo lưu hành bốn phương tám hướng, giáo hóa cho đời thâm thúy mùi đạo đức vào lòng, sửa tâm con người trở nên chí thiện chí mỹ, hầu bước lên nấc thang tối thượng nhứt thừa, hoát vẹt chín cung mây cho tinh thần sáng suốt, trí tuệ thông minh hầu sau thay mặt các đấng thiêng-liêng mà dạy dỗ người còn mẫn mê trong vòng khổ sở. Vả lại, cơ Ðạo phổ thông là cơ chọn Thánh phân phàm, chia ra nhiều chi nhiều phái. Nhưng có hai lẽ: Một là do thiên ý và vì phận sự; Hai là vì bản ngã, độc quyền, thủ lợi, cầu danh mà chia tách ra cũng có. Ðạo phổ thông chẳng khác chi nước ở thâm sơn đại hải. Gặp nhằm buổi đập khai, mặc sức chảy dài, không thể một chỗ cho nó chảy đủ sức. Hễ nước tràn thì bờ đê phải bể thêm nhiều đường nữa. Vì chia rẽ để tranh giành mà tấn hóa. Tuy là phổ độ hiện thời cả chúng sanh Nam địa, mà Ðạo mầu lại càng bủa tràn khắp trong thế giới. Vì chỗ đó mà lương sanh hướng-đạo và thiên-mạng kích bác nhau, chê tà nói chánh, làm cho gây oán chác hờn, nghịch lẫn nhau, xoi bói, đố kﬠsiểm gièm nhau trong con đường đạo đức. Máy thiên cơ của Trời sắp đặt chẳng một kẻ dưới phàm trần thấu đáo đặng. Nhắc lại điều thứ hai: Sự chia rẽ này là vì lòng tư tâm tư dục của chúng sanh làm ra mà thủ lợi riêng, gạt gẫm người lành cũng có, hay là cái bản ngã của nó muốn ra nắm trọn quyền hành tất cả chúng sanh mà sai khiến cũng có vậy; hay là chúng nó có cái tâm tư dục bán Ðạo cầu danh, và bị trục xuất rồi lập thêm ra phái riêng cũng có. Lời Bần-đạo nói trên đây là có ý tứ sâu xa, cũng hay mà cũng dỡ, nhưng các vị thiên-mạng phải lấy công tâm mà phán xét cho ra lý chánh lẽ tà, chớ nên đem lòng nghịch lẫn nhau thì trái hẳn với lòng Trời vậy. Ðạo nào cũng Ðạo, bất luận là chi phái nào. Nói cho cùng, dầu chẳng phải Phật Trời đặt để, mà người có tài trí thông minh, ưu thời mẫn thế, khuyên người lánh dữ làm lành, dạy người biết đường hay nẻo chánh của Trời, bỏ điều quấy quá, đặng thoát ra khỏi vòng tứ khổ, quả báo luân hồi, lẽ thì thiên-mạng mừng cho mới phải, nở nào lại nghịch lẫn lấy nhau? Bần-Ðạo khuyên chư thiên-mạng mở lòng bác ái, từ tâm giúp nhau, bủa dèo ngọn đèn chơn lý, rọi thấu chỗ tối tăm, dẫn dắt người hiền bước lên con đường tấn hóa. Khuyên bỏ thói xấu hèn, rán chung tâm hòa hảo, lo tuyên truyền nền chánh-giáo rộng thêm, ấy mới gọi râu mày cõi thế.





Thi:

Khuyên một điều nhau trọng chữ HÒA,

Lưu hành chơn lý khắp gần xa,

Tam-Kỳ Ðại-Ðạo chung tâm bước,

Bước đến tâm không sẽ có Già.

Có Ðào-Hoa đến, Bần-Ðạo chào. Bần-Ðạo lui.





* * *

ÐÀO thâm máy nhiệm dễ chi nào?

HOA cúc gặp thu giá phẩm cao.

THÁNH-Ðức phổ thông cơn rét hạ,

MẪU từ khuyên thế giải trần lao.

Chào các hiền-đồ. Ðại tịnh nghe dạy.





Thi bài:

Quẩn quanh trong kiếp dinh hoàn,

Người đời sống thác tợ lằn thoi đưa.

Khuyên đời hung dữ mau chừa,

Bạo tàn sớm dứt, mây mưa chớ gần.

Ác tâm tai họa đến chân,

Phạt người vô đạo thưởng phần kẻ tu.

Trần gian mịt mịt, mù mù,

Lấn chen cướp giựt lao tù phải mang.

Cung Tiên chi xiết nỗi nhàn,

Sớm chơi hải-đảo, chiều sang non Kỳ.

Say mùi vịnh thú ngâm thi,

Ngao du thiên ngoại nhiều khi quên về.

Người đời thiệt quá muội mê,

Chôn mình cõi thế, quên về quê xưa.

Khuyên đời sự quấy mau chừa,

Tìm Thầy học Ðạo thượng-thừa trường sanh.

Quá vui muôn thuở mây xanh,

Bạn Tiên hóa phép tạo thành chơn công.



Thi:

Công luật thiên nhiên thưởng phạt đời,

Ðạo mầu lượng cả bủa tràng nơi,

Biết khôn sớm bước đường chơn lý,

Gây quả phải mang ách nạn trời.

Ban ơn các hiền-đồ. Có Thất-Nương đến. Thầy chào các trò, thăng.


LÊ SƠN THÁNH MẪU HIỂN ĐẠO









BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO III



Văn-Phòng Đại-Đạo

Đàn Ngọ thời, 15-05 Tân-Hợi (07-06-1971)

Pháp Đàn: Ngọc-Như-Liên * Đồng Tử: Huỳnh-Hoa

___________

HẢI-TRIỀU THÁNH-NHƠN.





Thi:

HẢI đảo sơn lâm thọ bẩm Trời,

TRIỀU nghinh Đạo pháp khắp dòng khơi,

THÁNH tâm xuất hiện vầng mây bạc,

NHƠN phẩm tu mi chẳng đổi dời.

Tôn-Sư mừng chư môn đồ.

Giờ tả Kinh, Tôn-Sư báo đàn, chư môn đồ thành tâm tiếp lịnh chư Thánh-Mẫu hạ trần tả Kinh.

Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

(Tiếp điển:)





Thi:

LÊ hoắc nuôi lòng điển tiếp cao,

SƠN trân mỹ vị hại tâm bào,

THÁNH Thần tùy giác hiền Tiên Phật,

MẪU thọ Diêu-Cung đạm bút vào.

LÊ-SƠN THÁNH-MẪU — Tôn-Sư mừng chung chư môn đồ, an tọa.

Giờ thọ sắc Diêu-Cung chuyển linh bút tả quyển BÌNH-MINH ĐỆ-TAM lưu đề bút tích.

Nầy chư môn-đồ, cảnh vật ngổn ngang nơi cõi thế phù đầy phức tạp, để an ủi lòng cô đơn chư môn đồ, Tôn-Sư lưu đề đôi dòng mô tả cảnh trạng đương kim mà chư môn đồ đã bị vòng vây bể trần dập khỏa. Trên mặt đất, nẻ đầy đường quanh co ngang dọc, chia thành manh mún của nền đất Mẹ bao hình. Một di sản tối linh chen chúc đang dày vò mạng sống, cảnh phiêu lưu vất vả đã chôn thân bảy thước đành cam. Đó là tinh thần bị nô lệ vì xác thân điều khiển để thỏa mãn lòng phàm mà xác thân yêu quí này ngày nay, rồi ngày mai phải chịu trịu-trằn lặn hụp. Sự luyến tiếc đành cam nhốt trí vì tương quan liên lụy đến linh hồn mờ lu, đó là do xác thân nhục dục điều khiển.

Vậy chư môn đồ cần phải đánh thức lòng phàm, để nhận xét mà thực hiện chương trình hoạch định. Mọi sự lạnh-lùng nơi thế đều phải chịu theo dòng thế hệ.





Bài:

Nền cổ học tinh hoa xây dựng,

Máy kiền-khôn triệu chứng ba màu,

Hạ-Nguơn xuất hiện ĐÀI-CAO,

Tam-Kỳ Phổ-Độ phục vào Thượng-Nguơn.

Chuyển linh bút, LÊ-SƠN đề bảng,

Cho môn đồ tường hản hồng trần,

Sống trong kiếp tạm tao tân,

Vượt qua bể khổ nợ trần trả xong.

Luật tuần-huờn chí công, chí chánh,

Máy âm dương ngộ cảnh ngộ nhân,

Lòng phàm minh định cân phân,

Lệch chênh vay trả nợ nần tiền khiên.

Hỷ hoan dụng danh quyền tất hại,

Hỷ cùng hoan thừa thãi lòng tu,

Hỷ là đạt đặng công phu,

Hỷ cho người đạo phá mù trần gian.

Hỷ vốn ở truy hoan thời cuộc,

Hỷ lạc quan ngọn đuốc giữa đường,

Hỷ là mến cảnh rau tương,

Hỷ hoan đồng bước thẳng đường yên vui.

Hỷ tiêu khiển hưởng mùi thanh đạm,

Hỷ là mừng cõi tạm vượt đi,

Hỷ phùng thượng hạ tôn ty,

Hỷ vưng sứ mạng hồi qui Diêu-Đài.

Mừng đạo-đức không sai đường hướng,

Mừng nhơn hòa trưởng dưỡng tu tâm,

Mừng là đạt đặng huyền thâm,

Mừng chi vật chất luân trầm bể vơi.

Mừng nhơn tử lưu thời danh tạc,

Mừng đời mê giải thoát mộng trần,

Mừng là ngộ cảnh tu thân,

Mừng thay Đại-Đạo đạt phần vinh quang.

Mừng nếm đặng Đạo vàng tại thế,

Mừng là mừng thoát bể trần hồng,

Mừng cây Tạo-Hóa chí công,

Mừng danh chuốc lợi bụi hồng phủ bao.

Giấc mộng điệp Ai-Đào tan vỡ,

Luật tuần-huờn khai mở thưởng răn,

Lánh xa bể tục trịu-trằn,

Lánh xa luyến ái hóa hoằng kiếp sanh.

Sống cô độc cam đành đen tối,

Sống chung nhau đường lối hiểu am,

Đại-đồng khai mở Kỳ-Tam,

Môn đồ thẳng đến để làm Nữ-Tiên.

Chớ mê mộng xích-xiềng ràng buộc,

Mở tâm hồn sẵn đuốc Đài-Cao,

Tôn-Sư ban bố điển vào,

Trần tình Nữ-Đạo kíp mau chơn quày.

Hỡi môn đồ: nữ tài tấn bước,

Nơi Diêu-Đài đón rước Nữ-Tiên,

Kỳ công phản bổn phục nguyên,

Thừa vâng sứ mạng chỉ truyền đồ môn.

Lưu bút ngọc ôn-tồn học tập,

Cho môn đồ xây đắp phân minh,

Nữ-Đoàn Đại-Đạo hồi minh,

Trấn an thoát tục đời tình dẹp yên.

Tôn-Sư ban ân lành chung, chư môn đồ thành tâm tiếp lịnh, Tôn-Sư điển hồi Tiên cảnh. Thăng...

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

Thần chú Tara Xanh Lục Độ Phật Mẫu











Thần chú Tara Xanh Lục Độ Phật Mẫu – Om Tara Tuttare Ture Soha



Thần chú Lục Độ Phật Mẫu (Thần chú Tara Xanh – Green Tara Mantra) là một trong những thần chú Phật giáo phổ biến ở Tây Tạng, thần chú này nhằm loaị bỏ những khó khăn,lo lắng, sợ hãi và tăng thêm thịnh vượng. 

Ở một cấp độ cao hơn, thần chú của Đức Tara Xanh đánh thức trí tuệ của chúng ta, giúp chúng ta có thể nhận ra bản chất thật sự của cuộc sống.

Tara, người Tây Tạng còn gọi là Dolma , được cho là Bồ Tát hay Phật từ bi, một người bảo trợ giúp con người thoát khỏi những đau khổ về thể xác và tinh thần. Tara có 21 hình thức, mỗi hình thức đều có màu sắc khác nhau và thuộc tính tâm linh.

Trong số 21 hình thức này, có 2 hình thức phổ biến đối với những người Tây Tạng là Đức Tara Trắng (Bạch Độ Phật Mẫu) và Đức Tara Xanh (Lục Độ Phật Mẫu).

Chúng ta thường nghĩ đến câu thần chú Om Tare Tuttare Ture Soha như là thần chú của Đức Tara Xanh, mặc dù đôi khi nó được dùng làm thần chú chính cho tất cả các hình thức Tara.

Người Tây Tạng rất thích cầu nguyện và niệm các thần chú, giống như thần chú nổi tiếng của Bồ Tát Quán Thế Âm – Om Mani Padme Hum hay thần chú Phật Thích Ca – Om Muni Muni Maha Muniye Soha, thần chú Tara Xanh là một trong ba hoặc bốn thần chú chính mà họ thường tụng niệm.


Ý nghĩa thần chú Tara Xanh

Om Tare Tuttare Ture Soha – Om Tare Tuttare Ture Svaha



Thần chú Om Tare Tuttare Ture Soha do nữ ca sĩ Phật giáo - Joan Injoma thể hiện rất hay!

Om: Âm tiết “Om” tượng trưng cho thực tại tối thượng, trong cuốn sách “Om Chanting and Meditation”, Amit Ray giải thích Om như một giọng nói vĩnh cửu của chư Phật, nó liên tục vang dội trên nền của mọi thứ tồn tại trên vũ trụ này. Âm thanh của nó đại diện cho toàn thể vũ trụ, quá khứ hiện tại và tương lai.

Tare: Thể hiện sự cứu rỗi từ những nguy hiểm và đau khổ trên thế giới. Điều đó cho thấy Mẹ Tara sẽ giải thoát chúng sinh khỏi 6 cõi luân hồi, từ nỗi khổ thực sự, hoặc các vấn đề nan giải. Bạn có thể liên hệ điều này với những đau khổ đặc biệt của con người: sinh, lão, bệnh tật và chết.

Tuttare: Tuttare giải phóng chúng ta khỏi tám nỗi sợ hãi. Có tám nỗi sợ hãi liên quan đến những nguy hiểm bên ngoài như lửa, nước, không khí, đất, và từ những thứ như kẻ trộm và các loài động vật nguy hiểm.

Tuy nhiên, những mối nguy hiểm chính đến từ sự thiếu hiểu biết, chấp trước, tức giận, kiêu căng, ghen tuông, khốn khổ, nghi ngờ và những quan điểm không đúng.

Tuttare hướng dẫn chúng ta vào con đường tâm linh đúng đắn được hình thành dưới dạng cứu rỗi cá nhân. Theo thuật ngữ truyền thống, đây là con đường của Arhant, dẫn đến giải phóng cá nhân khỏi đau khổ. Điều này được thấy trong Phật giáo Đại Thừa là một loại chứng ngộ. Nó bảo vệ cá nhân khỏi những nguy hiểm về tinh thần, những ý nghĩ tiêu cực như tham lam, hận thù và ảo tưởng: ba yếu tố gây ra cho chúng ta sự đau khổ.

Ture: Đại diện cho đỉnh cao của con đường tâm linh, con đường vị tha của sự cứu rỗi phổ quát – con đường Bồ Tát. Trong con đường Bồ Tát, chúng ta mong muốn giác ngộ cá nhân, nhưng chúng ta cũng kết nối từ bi với những đau khổ của người khác, và cố gắng để giải phóng họ cùng lúc với chính mình.

Đức Tara Xanh hướng dẫn cho chúng ta từ một quan niệm hạn hẹp về đời sống tinh thần. Người cứu chúng ta khỏi quan niệm rằng, tiến bộ tâm linh là giải phóng khỏi những đau khổ cho bản thân, và thay vào đó, Người chỉ chúng ta thấy rằng, tiến bộ tâm linh thật sự liên quan đến việc từ bi đối với người khác.

Soha: Theo từ điển tiếng Phạn của Monier Monier-William, Soha có nghĩa là: “Hail!”, “Hail to!” hoặc “Có thể ban phép lành cho chúng ta!” Chúng ta có thể thấy được sự ban phước cuối cùng này như là biểu tượng của sự công nhận rằng chúng ta là Tara.

Nó có nghĩa là thiết lập nguồn gốc của con đường trong trái tim chúng ta. Nói cách khác, bằng cách gửi thân mình tại Tara và thực hành Tara, chúng ta sẽ nhận được sự ban phước của Tara trong trái tim của chính mình. Bằng cách nương tựa vào Đức Tara Xanh, thực hành Tara như niệm thần chú Tara Xanh và thực hành con đường nằm trong đó, chúng ta có thể đạt được trạng thái giác ngộ đầy đủ.
Lợi ích khi niệm thần chú Tara Xanh

Thần chú Tara Xanh mang lại những lợi ích tinh thần nhanh hơn bất kỳ thực hành tantric nào, đó là lý do vì sao nó rất phổ biến. Sadhanas (thực hành tâm linh) trong đó Tara là Yidam (vị thần thiền định).

Cũng có nhiều lợi ích tạm thời từ việc thực hành Tara, tụng niệm thần chú Tara Xanh hoặc một lời cầu nguyện “Hai mươi mốt Tara”. Tara có thể giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống của bạn, giải phóng bạn khỏi cái chết không đúng lúc, giúp bạn tránh khỏi bệnh tật, mang lại cho bạn thành công trong kinh doanh, giúp bạn tìm được việc làm và mang lại cho bạn sự giàu có thịnh vượng.

Khi bạn có một vấn đề thực sự nghiêm trọng, chẳng hạn như một căn bệnh đe dọa mạng sống, nếu bạn dựa vào Tara, thường xuyên niệm thần chú Tara Xanh thì căn bệnh đó sẽ giảm dần hoặc biến mất. Nếu bạn bị trúng thuốc độc, chất độc sẽ không làm hại bạn.

Bằng cách cầu nguyện thần chú Tara Xanh, các cặp vợ chồng khó sinh sẽ được một đứa bé kháu khỉnh và bất cứ điều gì họ muốn, con trai hoặc con gái, đây là những kinh nghiệm rất phổ biến. Thông qua thực hành Tara, bạn có thể có được bất kỳ hạnh phúc của cuộc sống này mà bạn muốn.

Tất nhiên, giống như các câu thần chú khác, thần chú Tara Xanh cần đến một trái tim chân thành khi trì tụng, bạn có thể cầu xin các phước lành của Đức Mẹ Tara và Người sẽ bạn bảo vệ khỏi nguy hiểm và từ những nỗi sợ hãi của bạn.

Ngoài ra, thần chú được sử dụng để khắc phục sự tắc nghẽn về tinh thần, cũng như tắc nghẽn trong các mối quan hệ. Đọc thần chú mỗi ngày có thể loại trừ được bệnh tật, sợ hãi, lo lắng, đau khổ, thiên tai, khó khăn và nghiệp xấu.

Theo các vị Lạt Ma, không ai đạt được giác ngộ mà không có sự giúp đỡ của Đức Mẹ Tara. Khi bạn niệm thần chú Tara Xanh bằng sự cống hiến mãnh liệt, thần chú sẽ được biến đổi thành một lời nguyện cầu đầy quyền năng.

Hãy hát thần chú này mỗi buổi sáng (108 lần) và mỗi đêm. Khi bạn hát thần chú, hãy tưởng tượng Mẹ Tara Xanh hiện ra trong không gian trước mặt bạn, ngang bằng trán của bạn, ở khoảng cách thoải mái khoảng một thân.

Như Chagdud Tulku Rinpoche nói trong phần giới thiệu của ông về Tara Sadhana:

“Tara là biểu hiện hoàn hảo của sự không thể tách rời của tánh không, nhận thức và lòng trắc ẩn. Cũng như bạn sử dụng gương để nhìn thấy khuôn mặt của bạn, thiền Tara là một phương tiện nhìn thấy khuôn mặt thật của tâm trí bạn, không có bất cứ dấu vết ảo tưởng nào.”

LỤC ĐỘ MẪU TARA











LỤC ĐỘ MẪU TARA

Tara (zh. 多羅, sa. tārā, Tara, Drolma, bo. sgrol-ma སྒྲོལ་མ་) từ tiếng Phạn Tārā, là tên của một vị nữ Bồ Tát thường gặp trong Phật giáo Tây Tạng. Tên này dịch ý là Độ Mẫu (zh. 度母), Cứu Độ Mẫu (zh. 救度母), là "người mẹ cứu độ chúng sinh". Lục Độ Mẫu (vị cứu độ mẫu thực hành Lục độ ba la mật, chữ "lục " này là 6 khác với chữ "lục " là xanh để chỉ vị đại diện là Tara Xanh, tóm lại khi Lục Độ Mẫu là 21 vị Tara khi đó lục có nghĩa là 6, khi chỉ riêng mình Tara xanh thì lục là màu xanh lá cây.)



Biểu tượng


Bổn Tôn Tara biểu hiện là một vị Bổn Tôn trẻ đẹp, có khả năng hóa thân. Ngài có thể hiện ra trong màu xanh, màu trắng, đỏ, hay màu của vàng. Mỗi màu đều có ý nghĩa riêng.

Phía sau đầu của Bổn Tôn Tara là ánh sáng của trăng tròn, là biểu tượng của áng sáng soi sáng trái đất. Ánh sáng đem lại sự mát lành, xóa tan đau khổ của vòng luân hồi. Ngài ngồi trên một tòa sen nở và một chiếc đĩa tròn. Vòng quanh thần là một vòng lửa màu vàng, mà lời kinh cầu nguyện số 21 nói rằng: "như lửa cháy ở cuối thời đại này".

Trên mỗi bàn tay, Ngài nhẹ nhàng cầm một cành hoa dài màu xanh trắng, hoa utpala, một loại hoa có mùi hương thơm ngọt giống như hoa sen, loại hoa mọc trên bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Hoa utpala là sự trong sạch tự nhiên, mà theo Gehlek Rinpoche nói "để có thể là người trong sạch, hãy hành động một cách trong sạch".

Ba ngón tay của tay trái Ngài chỉ lên để biểu hiện ba thứ quý giá, đó là: Đức Bụt, Pháp Bụt và Giác Ngộ, hay sự tự giải phóng (tự tại). Tay phải duỗi ra, ngửa bàn tay về phía trước với một cử chỉ mời gọi. Genlek Rinpoche nói "Bổn Tôn Tara nói với những người bị mất hi vọng và không có ai giúp đỡ, rằng: 'hãy lại đây, ta đang ở đây'."

Y áo có những sợi lụa mềm được trang điểm bằng những hạt châu báu, dái tai dài và thanh nhã. Trên thực tế, các Đức Bụt thì không đeo châu báu, nhưng Bổn Tôn Tara lại mang châu báu. Những châu báu này sáng lấp lánh như sự cảnh báo về những đau khổ trên trần thế.



21 Thánh Độ Mẫu - Tara

      1. Cứu Độ Tốc Dũng Mẫu
      2. Bách Thu Lãng Nguyệt Mẫu
      3. Lam Kim Cứu Độ Mẫu
      4. Như Lai Đỉnh Kế Mẫu
      5. TARA Tự mẫu TUTARA HUNG
      6. Thích Phạm Hỏa Thiên Mẫu
      7. Trát Phét Cứu Độ Phật Mẫu
      8. Ture Phẫn Nộ Mẫu
      9. Tam Bảo Nghiêm Ấn Mẫu
      10. Uy Đức Hoan Hỷ Mẫu
      11. Thủ Hộ Chúng Địa Mẫu
      12. Đỉnh Quan Nguyệt Tướng Mẫu
      13. Như Tận Kiếp Hỏa Mẫu
      14. Thủ Án Đại Địa Mẫu
      15. An Thiện Tĩnh Tịch Mẫu
      16. Phổ Biến Cực Hỷ Mẫu
      17. Ture Đốn Túc Mẫu
      18. Cụ Hải Thâm Tướng Mẫu
      19. Chư Thiên Vân Tập Mẫu
      20. Nhật Nguyệt Quảng Viên Mẫu
      21. Cụ Tam Bảo Tướng Mẫu.

Một danh sách danh hiệu 21 Độ Mẫu tương tự như sau:
      1. Lục Độ Mẫu
      2. Cứu Tai Nạn Độ Mẫu
      3. Cứu Thủy Tai Độ Mẫu
      4. Cứu Địa Tai Độ Mẫu
      5. Cứu Hỏa Tai Độ Mẫu
      6. Cứu Phong Tai Độ Mẫu
      7. Tăng Phúc Tuệ Độ Mẫu
      8. Cứu Thiên Tai Độ Mẫu
      9. Cứu Binh Tai Độ Mẫu
      10. Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu
      11. Cứu Đạo Nạn Độ Mẫu
      12. Tăng Uy Quyền Độ Mẫu
      13. Cứu Ma Nạn Độ Mẫu
      14. Cứu Súc Nạn Độ Mẫu
      15. Cứu Thú Nạn Độ Mẫu
      16. Cứu Độc Nạn Độ Mẫu
      17. Phục Ma Độ Mẫu
      18. Dược Vương Độ Mẫu
      19. Trường Thọ Độ Mẫu
      20. Bảo Nguyện Độ Mẫu
      21. Như Ý Độ Mẫu





Ý NGHĨA ĐỨC LỤC ĐỘ PHẬT MẪU TARA


Trước mặt bạn, an tọa trên tòa sen nguyệt luân là một thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp với thân sắc xanh lục rạng ngời ánh sáng. Nàng là ai? Tara là gì? Tại sao hành giả Kim Cương Thừa lại thiền định về một sắc tướng như vậy? Tại sao việc trưởng dưỡng mối liên hệ tâm linh với đức Tara lại có thể làm phong phú và viên mãn những mong nguyện thế gian và xuất thế gian của chúng ta?

Đức Phật là gì?


Tara là đức Phật, bất kỳ ai đều có thể trở thành Phật. Chúng ta cần biết có rất nhiều đức Phật song tâm toàn tri chỉ có một, phẩm hạnh, công đức, trí tuệ của các bậc giác ngộ như nhau. Chư Phật đã loại bỏ được tất cả phiền não, tựu chung được chia làm 2 loại: phiền não chướng và sở tri chướng. Những loại chướng này là nguyên nhân làm chúng ta mắc kẹt trong luân hồi đau khổ. Sở tri chướng là vô minh phiền não vi tế trong tâm chúng sinh, phiền não chướng là những trạng thái si mê, sân giận, tham ái và nghiệp quả đã vận chuyển vòng quay luân hồi. Bất kỳ đức Phật nào đều hoàn toàn xả ly mọi loại phiền não trên và hoàn thiện trưởng dưỡng tất cả đức tính tốt như Từ, Bi Hỷ, Xả cũng như viên mãn công hạnh Ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

Đức Tara giống như đức Văn Thù, Quan Âm, Kim Cương Thủ và các bản tôn Kim Cương Thừa khác là hiện thân của Phật. Khác với quan điểm của tôn giáo khác, Đức Phật không phải đấng Thượng đế sáng tạo và ngài không điều khiển thế giới, kiểm soát các số phận của chúng sinh, thưởng thiện cho người này hoặc phạt ác cho người nọ. Là Phật tử, chúng ta nên có chính kiến về Phật để tránh sự ngộ nhận sai lầm trong việc thực hành tâm linh. Hãy luôn cẩn thận để tránh chướng ngại đó!

Đức Tara không phải là một người tồn tại một cách cụ thể với những nhân cách tách biệt. Chính vì vậy, chúng ta rèn luyện tâm mình để nhìn Ngài là một hiện thân của tất cả minh hạnh giác ngộ, những công hạnh mà chúng ta ngưỡng mộ và muốn trưởng dưỡng Nhận thức được như vậy, chúng ta sẽ có những cảm xúc chân thực giúp tinh tấn trên con đường tu tập đem lại vô lượng công đức trí tuệ không thể nghĩ bàn.

Đức Phật có hai thân chính: Pháp thân(Dharmakaya) hay thân chân lý và một sắc thân (Rupakaya), ở đây không phải thân bằng thể chất nhưng là thân hợp nhất tất cả các phẩm hạnh. Tâm toàn tri, tâm giác ngộ là Pháp Thân. Sắc thân (Rupakaya) là hiện thân của đức Phật để kết nối giúp đỡ chúng sinh chưa giác ngộ do tâm của chúng ta còn bị ám chướng không thể trực tiếp thấu biết tâm toàn tri của Phật. Chính vì lòng từ bi, chư Phật xuất hiện trong hàng loạt hóa thân để lợi ích chúng ta. Các báo hóa thân ứng hiện khác nhau tùy căn cơ để độ chúng sinh như vậy gọi đó là sắc thân.

Sắc thân cũng chia ra làm hai loại: Thân Sambokaya hay báo thân hỷ lạc là thân tạo bằng ánh sáng tịnh quang, xuất hiện trong cõi tịnh độ. Thân hỷ lạc là báo thân đức Phật dùng để dạy các Bồ Tát ở mức độ cao cấp. Loại thứ hai là thân Nirmarakaya hay hóa thân là thân đức Phật dùng để xuất hiện trong thế giới trần tục. Ví dụ như: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là nhân vật lịch sử xuất hiện gần 2600 năm về trước. Ngài là Phật hóa thân hay thân Nirmarakaya, một hóa thân trong hình tướng một vị tăng xuất thế, giảng dạy Phật pháp ở Ấn Độ. Một ví dụ trong thời đại ngày nay là hoá thân chuyển thế của đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ 12. Trong lịch sử truyền thừa Drukpa và trong niềm tin nhân gian tại rất nhiều vùng trên dãy Hymalaya, đông đảo dân chúng tin tưởng tuyệt đối rằng rằng đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa không chi là một bậc Thượng sư giác ngộ hoàn toàn mà còn là hoá thân từ bi của đức Quan Âm ứng hiện vì lợi ích chúng sinh.

Ở mức độ phát triển tâm linh còn hạn chế của mình, rất khó để mỗi chúng ta thấu suốt và chứng minh điều vừa nêu trên. Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ bên ngoài dường như các Ngài cũng có cuộc sống thăng trầm như chúng ta, thì dưới góc độ bên trong các Ngài không hề bị chi phối bởi trải nghiệm si mê, phiền não. Vì các Ngài đã hoàn toàn loại bỏ tất cả nguồn gốc của sự khổ đau luân hồi.

Một Bồ Tát là một bậc đang tu tập để thành Phật. Các ngài dùng nhiên liệu Bồ Đề Tâm, phát nguyện trở thành bậc giác ngộ để cứu độ chúng sinh một cách hiệu quả nhất. Với mục đích duy nhất này, chư Bồ Tát thực hành rất chuyên cần để tịnh hoá phiền não và trưởng dưỡng Bồ đề tâm mình để lợi ích khổ não chúng sinh. Sau khi đạt được giác ngộ, chư Bồ Tát ứng hiện rất nhiều hóa thân khác nhau để kết nối với chúng ta. Nếu các Ngài không ứng hóa như vậy, các Ngài sẽ không có khả năng viên mãn tâm nguyện vị tha của mình. Một vị Bồ tát sẽ không bao giờ thực hành vô số kiếp để thành tựu giác ngộ để rồi sau đó chỉ thư giãn và đi ngủ! Thay vì thế, các công hạnh giác ngộ lợi tha sẽ xảy ra một cách tự nhiên mà không cần nỗ lực được lưu xuất từ bản tâm tâm thanh tịnh đó. Những công hạnh này sẽ nhậm vận tự nhiên tùy duyên ứng hiện như ngàn nơi cần cầu ngàn xứ ứng đem lại lợi ích cho vô lượng chúng sinh bởi công hạnh của các Ngài đều bắt nguồn từ tâm Bồ đề vị tha hợp nhất với trí tuệ sâu sắc.

Đức Tara có thể được hiểu trên các mức độ khác nhau.


Theo cách hiểu thứ nhất, Ngài là nhân vật lịch sử, một người phát Bồ đề tâm đạt giác ngộ tối thượng để lợi ích tất cả chúng sinh một cách hiệu quả nhất và sau đó chú tâm tu tập để trở thành Phật.

Theo cách hiểu thứ hai, đức Tara là hiện thân của phẩm hạnh giác ngộ,

Cuối cùng, ta cũng có thể hiểu đức Tara là tiềm năng Phật tính sẵn có nơi mỗi người. Trong tương lai, nhờ công phu tu tập, tâm chúng ta sẽ được thanh tịnh hoàn toàn và tạo ra sắc thân. Chúng ta nên có sự hiểu biết chân thật cần thiết như thế để phát triển đức tính từ, bi, hỷ, xả, trưởng dưỡng trí tuệ và công hạnh của chính mình.

Đức Tara là một nhân vật lịch sử

Vô số kiếp trong một cảnh giới khác, có một công chúa tên là Yeshe Dawa. Nhờ sự học và trí tuệ của mình, nàng có lòng tin kiên cố với Ba ngôi Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng. Nàng thấu hiểu đời sống bất như ý của bản chất luân hồi, do vậy nàng quyết định giải thoát khỏi tất cả mọi đau khổ. Do thấu hiểu tất cả chúng sinh cũng giống như mình đều muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ nên Công chúa Yeshe Dawa đã trưởng dưỡng lòng từ bi và tình yêu thương hướng về mỗi chúng sinh. Nàng không thích lối sống xa hoa trong cung điện vàng ngọc, và đã phát lời nguyện dẫn dắt hướng đạo cho hàng nghìn chúng sinh trên con đường giải thoát mỗi ngày trước bữa ăn sáng, cho hàng nghìn chúng sinh trước bữa ăn trưa, và thậm chí nhiều hơn nữa trước khi đi ngủ. Vì nhân duyên này, công chúa được tôn xưng là Arya (Bậc tôn quý) có nghĩa là Ngài có thể chứng ngộ trực tiếp bản chất của thực tại và danh xưng đó biểu lộ các hạnh nguyện giải thoát của Ngài. Một bậc lãnh tụ tâm linh của thời đó đã khuyên: Công chúa hãy cầu nguyện để tái sinh làm thân trượng phu. Nhưng công chúa Yeshe Drawa đã phát nguyện thành tựu giác ngộ trong thân người nữ và còn liên tục hóa thân trở lại trong hình tướng nữ nhân để cứu độ hữu tình. Dù cho chúng ta là thân nam hay nữ thì Đức Tara lịch sử là tấm gương cho chúng ta. Giống như mọi hữu tình, Ngài cũng là một chúng sinh bình thường, có những vấn đề căng thẳng và tình cảm phiền não. Nhưng nhờ tu tập Phật pháp rèn luyện tâm linh nên Ngài đã đạt được toàn giác. Giống như vậy, nếu chúng ta thực hành giáo pháp với niềm tinh tấn hỷ lạc, chúng ta có thể được thành tựu giác ngộ như Ngài. Mỉm cười từ mẫn với chúng ta, đức Tara nói: “Nếu Ta có thể thực hành thành tựu thì các con cũng có thể thực hành viên mãn mọi tâm nguyện như thế”. Bởi vậy, câu chuyện về Ngài là tấm gương sách tấn lớn lao đối với mỗi chúng ta trên con đường tu tập.

Trong một bản kinh Tara khác có kể rằng: đức Tara được sinh ra từ giọt nước mắt bi mẫn của Đức Quan Âm. Nhân duyên vì Bồ Tát Avalokiteshvara hay Đức Quan thế Âm đã không ngừng cứu độ chúng sinh để giải thoát tất cả thoát khỏi cõi địa ngục thống khổ. Sau khi hoàn thành công hạnh này, Ngài chỉ kịp nghỉ ngơi một chút, nhưng ngay sau đó Ngài nhận ra rằng trong cõi địa ngục thống khổ kia thoáng chốc lại đầy tất cả những chúng sinh mình vừa cứu khỏi địa ngục vì họ vừa tạo tác những ác nghiệp cực trọng. Trong khoảnh khắc tuyệt vọng, Đức Quan Âm đã nhỏ những giọt nước mắt bi mẫn vì lời nguyện cứu khổ cho những chúng sinh vô minh đó. Một trong những giọt nước mắt từ bi của Đức Quan Âm đã biến thành đức Tara để khích lệ Ngài trên con đường Bồ Tát hạnh, khi đó Đức Tara đã phát nguyện rằng: Xin Ngài đừng tuyệt vọng, tôi nguyện cùng Ngài giải thoát tất cả chúng sinh vô minh trong cõi luân hồi thống khổ mà không để xót một ai!

Trong bản kinh này, chúng ta thấy đức Tara là một người với đời sống huyền diệu. Câu chuyện về ngài khuyến khích chúng ta không nên mất lòng tin trong các nghịch cảnh khó khăn vì lợi ích chúng sinh. Sự nhẫn nhục và lòng kiên trì rất cần thiết để chúng ta dùng làm tư lương trong cuộc sống. Những chúng sinh như chúng ta hiện tại thường làm đối ngược những gì đem lại sự hạnh phúc và bình an cho hữu tình. Sự lạc quan ban cho chúng ta sức mạnh trong mọi hoàn cảnh khó khăn và giúp chúng ta hiểu được rằng mọi sự đau khổ, dù là đau khổ cùng cực của cuộc sống, đều có thể vượt qua.



Đức Tara là hiện thân của các công hạnh giác ngộ

Cách thứ hai để hiểu về đức Tara là hiện thân của các công hạnh giác ngộ. Bất kỳ người nào đạt giác ngộ đều có khả năng xuất hiện trong các hình tướng bất kỳ vị Bồ tát, hóa thân nào. Không phải chỉ có một đức Lục Độ Mẫu, một đức Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Văn Thù hay Kim Cương Thủ… những hình tướng đó đơn giản là sự xuất hiện của các ứng hóa thân.

Tâm đức Phật là siêu vượt các khái niệm hạn hẹp hiện tại của phàm phu, tất cả bậc giác ngộ thực hành vô số kiếp để tịnh hóa tâm và phát triển khả năng để giúp đỡ lợi ích chúng ta. Nhưng các Ngài cần để liên kết với chúng sinh, dìu dắt chúng ta trên con đường thoát khỏi khổ đau để đạt được chân hạnh phúc. Bởi vì chúng ta là một hữu tình chúng sinh nên liên quan đến kích cỡ, màu sắc, đối tượng, cảm giác. Do vậy, đức Phật từ bi hóa thân xuất hiện trong các hình tướng khác nhau để giúp đỡ chúng ta. Mỗi hóa thân nêu biểu hiện thân của những phẩm hạnh giác ngộ từ, bi, hỷ, xả, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Đức Phật Mẫu Tara giống như những Bản Tôn thiền định khác là một trong những hóa thân đó!


Mỗi hóa thân có thể biểu trưng nhấn mạnh vào những phẩm hạnh cụ thể, thì đức Tara xanh biểu trưng cho công hạnh giác ngộ của chư Phật trong khi đức Quan Âm là hóa thân của lòng từ bi. Một cách chung nhất, các hóa thân của đức lục độ mẫu Tara đều được mô tả là bậc bản tôn có thể tiêu trừ chướng ngại và đem lại sự viên mãn thành tựu cho chúng sinh, đặc biệt còn có đức Bạch Độ Mẫu Tara với khả năng giúp tiêu trừ bệnh tật và ban cho đời sống trường thọ. Tuy vậy, mỗi đức Tara trong 21 độ mẫu Tara hay 108 đức Tara đều có những sự đặc biệt, biểu trưng, mầu sắc, pháp khí, tư thế, mật ấn riêng. Đức Tara là hiện thân hợp nhất của đại lạc và tính không. Sự đại hỷ lạc phương tiện thiện xảo và trí tuệ tinh không của tất cả chư Phật đều xuất hiện trong sắc thân của đức Tara để truyền cảm hứng cho chúng ta phát triển Bồ Đề Tâm, trưởng dưỡng những công hạnh lợi tha. Nhờ vào hiểu biết các ý nghĩa, biểu tượng và các tính cách của sắc thân của đức Tara, chúng ta sẽ có niềm tin chí thành và tinh tấn đi theo con đường ngài hướng đạo để tỏa chiếu những phẩm chất, công hạnh, thần lực Tara trong tự thân chúng ta.

Khi nghĩ về công hạnh của một đức Phật, chúng ta nên tiếp cận những phẩm hạnh đó như thế nào, nhất là khi không phải ngẫu nhiên mà các ngài xuất hiện trong sắc tướng, hình thức và tư thế nhất định? Thậm chí từng đức Phật đều có cùng các biểu lộ, công hạnh riêng nên các ngài xuất hiện trong các hóa thân khác nhau để nhấn mạnh các tính cách cụ thể khác nhau nhằm phù hợp cho căn cơ chúng sinh khác nhau. Ví dụ: một người họa sỹ hay một nhạc sỹ cần phải có nguồn cảm hứng và cảm xúc bên trong khi anh ta muốn diễn đạt nghệ thuật. Cảm hứng sáng tác của anh ta lại được diễn tả ra bên ngoài qua các công cụ nghệ thuật như các cung bậc âm thanh, giai điệu hay các mảng màu, hình khối được lựa chọn để diễn tả những trạng thái cảm xúc đang trào dâng bên trong mình. Cũng giống như vậy, đức Phật diễn đạt sự chứng ngộ của mình qua nhiều hình tướng hóa thân bên ngoài khác nhau. Sắc tướng Phật mẫu của Đức Tara biểu trưng cho trí tuệ là nhân tố chính để loại bỏ vô minh. Sự vô minh này đã gây lầm lẫn thực tại và là gốc rễ của sự đau khổ. Người phụ nữ có xu hướng cảm nhận và nhận thức nhanh chóng nhờ vào trực giác và trí tuệ bí mật. Đức Tara biểu trưng cho phẩm hạnh này! Một cách không quản ngại, Ngài có khả năng giúp chúng ta phát triển những phẩm hạnh đó. Do vậy đức Tara được gọi là mẹ của tất cả chư Phật, vì Ngài được biểu trưng cho trí tuệ chứng ngộ thực tại, nên Ngài hiện thân sinh ra để đạt toàn giác, là tâm tự do khỏi vô minh chấp thủ, bản ngã.

Mầu sắc của đức Lục Độ Mẫu Tara biểu trưng các công hạnh thành tựu. Dù Ngài có cùng phẩm hạnh như là các hiện thân của bậc toàn tri khác, Đức Tara đặc biệt hiện thân cho các công hạnh giác ngộ của chư Phật, gia trì đem lại lợi ích và chúng ta. Thêm vào đó, Ngài đại diện khía cạnh thanh tịnh của Không đại, vì Không đại bao hàm tất cả các sự vật hiện tượng. Những ảnh hưởng và công hạnh của Đức Tara làm những phẩm hạnh vô ngã vị tha tiềm tàng của chúng ta nở hoa giác ngộ thơm ngát muôn phương. Những hạt giống tốt mọc dễ dàng là niềm vui của người nông dân. Cũng vậy, sắc xanh của Ngài nêu biểu cho sự thành công của sự xả bình đẳng trong thế giới trần tục, cũng như trong sự phát triển thế giới tâm linh cho chúng ta cảm giác vui vẻ, hy vọng và lạc quan. Những tâm nguyện của Đức Tara có thể dễ dàng nở hoa kết trái và hạnh nguyện của Ngài nhanh chóng cảm ứng tới chúng sinh không thể nghĩ bàn. Vì lý do này, bằng sự quán tưởng và cầu nguyện Đức Tara, chúng ta có năng lực để tạo ra nhân của hạnh phúc và sự thông tuệ trong sự thực hành pháp trên con đường tự lợi, lợi tha. Sắc thân của Đức Tara kết tinh bằng ánh sáng và thuộc về phương Bắc. Thân ánh sáng của Ngài xuất hiện nhưng không thể nắm bắt, giống như cầu vồng, ảo cảnh. Thân ánh sáng này là biểu trưng cho sự hợp nhất của hai chân lý: Chân lý tương đối và Chân lý tuyệt đối. Trong mức độ chân lý tương đối, Đức Tara xuất hiện tồn tại. Ấy vậy mà khi chúng ta tìm kiếm sự tồn tại tuyệt đối của Ngài thì không thể tìm thấy bất kỳ thứ gì tồn tại một cách cố hữu, sự độc lập từ các nhân và điều kiện, các phần, thuật ngữ và khái niệm. Đức Tara xuất hiện một cách tương đối giống như ảo giác, không thể tìm thấy nắm bắt được và chỉ là tính không. Thân của Đức Tara diễn tả sự nội chứng bên trong và các công hạnh vị tha bên ngoài. Tư thế vũ điệu du hý của Ngài tự do, cởi mở và thân thiện, chân phải của Ngài duỗi xuống chỉ ra sự sẵn sàng bước xuống cõi luân hồi khổ để cứu giúp chúng ta và chúng sinh vô minh. Nhờ lòng bi mẫn của Ngài, Đức Tara có thể xuất hiện trong mọi cõi giới mà không gây ảnh hưởng bất lợi cho các hoàn cảnh đó. Ngài không trốn tránh sự khổ đau mà đối mặt nó một cách vô úy và từ bi bằng cách trung hòa đau khổ.

Chân trái Ngài co vào phía trong lòng, tỏ rõ rằng Ngài kiểm soát toàn bộ năng lượng vi tế bên trong, từ bi không quản ngại vấn đề gì, cho dù ai đó tán thán hay hủy báng, làm tổn hại hay giúp đỡ, năng lực của Ngài không vì thế trở nên mất cân bằng và tâm Ngài không rời bình đẳng xả.

Tay phải Ngài trong tư thế thực chứng siêu việt bằng cách thực hành tu tập để tự thân thành tựu sự chứng ngộ. Tư thế này cũng gọi là Thí Nguyện Ấn là tư thế bố thí nêu biểu Ngài sẵn sàng ban cho tài sản, tình yêu thương, sự bảo hộ và giáo pháp để tất cả chúng sinh tùy theo những nhu cầu và những mong ước của họ đều được viên mãn.

Tay trái của Ngài là Ấn Tam Bảo, với ngón tay cái chạm vào ngón tay đeo nhẫn và 3 ngón tay kia hướng thẳng, 3 ngón duỗi thẳng nêu biểu Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng có nghĩa rằng giao phó bản thân chúng ta nương tựa Ba ngôi báu và thực hành giáo pháp giải thoát. Ngón cái và ngón áp út chạm nhau nêu biểu chúng ta có thể hợp nhất lòng từ bi hỷ lạc và trí tuệ tính không.

Tay phải của Đức Tara và chân phải đều duỗi hướng ra phía ngoài, nhấn mạnh các công hạnh hạnh từ bi vị tha, phương tiện thiện xảo của con đường giác ngộ.Tay trái và chân trái của Ngài đều thu vào phía người biểu đạt sự điềm tĩnh an bình bên trong đạt được thông qua việc thực hành trí tuệ của đạo giải thoát.

Trong mỗi bàn tay của Ngài trì giữ hoa Utpala, hoa sen xanh. Bên phía tay trái, một bông nụ là nêu biểu chư Phật tương lai, bông nở hoàn toàn là nêu biểu chư Phật quá khứ, bông đang nở là nêu biểu đức Phật hiện tại. Trên vương miện của Đức Tara là Bản Sư Di Đà an bình và mỉm cười. Vì đức Phật Di Đà là bậc thượng sư hướng đạo tâm linh của Đức Tara, được an trí trên vương miện của đức Tara nhằm nêu biểu tầm quan trọng khi có bậc Căn bản Thượng sư đầy đủ phẩm hạnh trí tuệ và lòng từ bi dẫn dắt đệ tử đi đúng trên con đường giác ngộ, và cũng nêu biểu Đức Tara luôn trú tâm vào giáo pháp mà Ngài được đón nhận từ bậcThượng Sư của mình. Điều này nhắc nhở chúng ta thực hành noi theo thiện hạnh của Ngài.

Tiếp theo là các sức trang hoàng. Nếu phàm nhân chúng ta thường trang điểm cho thân thể mình những trang sức bên ngoài để trông cho đẹp mắt thì vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong đức Tara là lòng từ, bi, hỷ, xả mới thực sự là trang sức của Ngài. Sáu sức trang hoàng: Vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, vòng chân, đai lưng, vương miện bằng ngọc báu sáng chói trang hoàng trên sắc thân Ngài nêu biểu cho sự viên mãn sáu Ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ Ba La Mật và mọi công hạnh lợi tha này là trang sức giải thoát của báo thân Ngài.

Đức Tara cũng trang hoàng với ba chữ chủng tử, chủng tử OM trên vương miện, chữ AH tại luân xa cổ họng và chữ HUNG tại luân xa tim. Ba chữ chủng tử này tương ứng với thân, khẩu, ý giác ngộ của Phật và nêu biểu cho Tam quy: Phật, Pháp, Tăng. Những chủng tử này thường dùng làm đối tượng vi tế khi hành giả chú tâm thiền định. Ba chủng tử này nhắc nhở những phẩm hạnh mà chúng ta đang trưởng dưỡng trong chính mình, đó là kết quả thực hành Phật Pháp. Mỗi đặc điểm sắc tướng của Đức Tara minh hoạ cho toàn bộ con đường giác ngộ đạt đến Phật quả và Tara là hợp nhất các tinh túy đức tính, thần lực và công hạnh giác ngộ.





Đức Tara là tinh túy Phật

Quan điểm thứ ba về đức Tara là phản ánh của tiềm năng Phật tính hiện tại trong mỗi chúng ta, sẽ được phát triển toàn vẹn trong tương lai.

Làm thế nào để chứng ngộ được Phật tính? Một cách ngắn gọn, chúng ta tu tập theo con đường giác ngộ, có ba điểm chính yếu nên khắc cốt ghi tâm:
  • Thứ nhất: Phát tâm thoát khỏi luân hồi đau khổ.
  • Thứ hai: Thực hành Bồ Đề Tâm lợi ích chúng sinh.
  • Thứ ba: Chính kiến, trí tuệ thực chứng tính không- trí tuệ thực chứng tính không hợp nhất với bản tâm tuyệt đối của chính mình.

Thân tâm vi tế của chúng ta có khả năng chuyển hóa thành thân tâm giác ngộ hoàn hảo như chư Phật. Khi chúng ta quán tưởng đức Phật Mẫu Tara và sùng kính Ngài, thấu hiểu rằng đó là công hạnh, trí tuệ, thần lực mà chúng ta đang được viên mãn. Chúng ta sẽ được truyền cảm hứng để chuyển hóa tâm trên con đường đạt được kết quả thành tựu này.

Hãy trải nghiệm thực hành! Làm thế nào để việc thực hành Tara đem lại lợi ích như thế.