Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Diêu Trì Kim Mẫu

Diêu Trì Kim Mẫu - Phật Mẫu Diêu Trì:






Kim Mẫu : là từ nói tắt của danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung. Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu chứa các nguyên chất để tạo ra chơn thần cho vạn linh.

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Mẫu: Mẹ.

Kim Mẫu là nói tắt danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, là Đức Đại Từ Mẫu nơi cõi thiêng liêng.

* Diêu Trì Kim Mẫu là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.

* Phật Mẫu Diêu Trì là Đức Phật Mẫu ở Diêu Trì Cung.

Đây là hai danh hiệu của Đức Phật Mẫu.

NGHĨA " DIÊU-TRÌ KIM-MẪU "
Chữ Diêu, hoặc chữ Dao cũng được, có nghĩa là ngọc diêu, một thứ đá quí báu ( pierre précieuse ).

Chữ Trì nghĩa là ao nước, hay là hồ nước.

Hai chữ Diêu Trì hiệp lại có nghĩa là : Ao hay hồ nước, trong đó có nhiều ngọc quí báu. Đây có nghĩa là một cảnh trí, một cung điện, ở trên một chót núi Hi-mã-lạp-nhã (Himalaya), làm ranh giới giữa nước An Độ và nước Trung Hoa, gọi tên núi là Côn Lôn. Ai có coi truyện thần tiên thì biết đó là chỗ Ngọc Đế ngự và nhiều vị Đại Tiên tu luyện.

Chữ Kim là vàng, cũng có nghĩa là các loại kim, như bạc, đồng, chì, sắt . . .thuộc về Tây phương. Theo Bát quái hậu thiên (Lạc thơ), Kim nầy ở ngôi Đoài, mà Đoài là Âm kim.

Chữ Mẫu là mẹ, là chủ tể, thuộc về hữu hình. Như cuốn Đạo Đức kinh nói: "Hữu danh, vạn vật chi mẫu.", nghĩa là chừng Đạo có hình, có tên, Nó là mẹ sanh muôn vật.

Người ta thường hiểu chữ "mẫu" theo nghĩa thông thường, là người đàn bà sanh con, nên gọi Đức Diêu Trì Kim Mẫu là Bà Tây Vương Mẫu.

Theo sách vở của người Trung Hoa, Ngài là một vị Thần Tiên từ đời xưa, xa xăm. [ . . .]

Tây Vương Mẫu cũng là một vị ban thuốc trường sanh. Ngài trở thành một vị chủ tể vườn đào,. Ơ cõi trên trời, và cai quản các vị thần tiên cõi đó, có khác hơn cõi ta ở dưới trần nầy là đặng sống lâu và hưởng vô cùng khoái lạc (jouit d’une félicité parfaite). 
Vườn Tây Vương Mẫu ở trên chót núi Côn Lôn – như tôi đã nói ở trên. Ngài ở trong lầu các bằng ngọc, có 9 từng huyền thất và chung quanh có vách thành bằng vàng.

Trong lầu có đơn phòng Tử Túy, bên trái có ao Diêu Trì, bên mặt có sông Huờn Túy. Dưới chơn có 9 từng nhược thủy ( nước yếu ), sóng cao muôn trượng, không có tiên xa ( xe nhờ bạo phong thổi đi ), vủ luân ( bánh xe bằng lông chim ) thì không thể nào đi đến đó được. [ . . . ]


II. NGHĨA " VÔ CỰC TỪ TÔN "

Tại sao gọi Đức Diêu Trì Kim Mẫu là Vô Cực Từ Tôn ?

Có lẽ chư đạo hữu còn nhớ nghĩa Tam cực đã có giải nhiều lần. [ . . .]

Tam cực nghĩa là Ba ngôi cực cao cả, gọi là :

1. – Vô cực

2. – Thái cực

3. – Hoàng cực


1)- Vô cực : Vô cực nghĩa là cực vô, trong đó cực kỳ trống không, chẳng có gì khác lạ hơn nó nữa, gây ra các sự trở ngại cho Nó, nên gọi là Khí hồn nhiên. Tuy vậy mà Nó đủ các đức tính tiềm tàng, còn kín đáo, ẩn núp, cũng như con gà còn trong trứng gà, chưa có lộ hình dạng mà ta có thể thấy được. Cũng như trong một hột giống lúa, tuy ta chưa thấy cây lúa, mà trong đó có đủ sinh lực để sanh ra sau nầy cây lúa vậy.

Đạo Đức Kinh gọi cái đó là: "Đạo tự hư vô sanh nhứt khí", nghĩa là từ trong Đạo hư vô mà sanh ra Nhứt khí. Nhứt khí có ba phương diện hay là Ba ngôi, mà ngôi Thứ nhứt gọi là Vô cực.

2)- Thái cực: Thái cực nghĩa là cực thái hay là cực đại. Từ trong Vô cực là ngôi thứ nhứt lại có một điểm khí dương phát sanh. Hễ khí động phát sanh tức là khí dương, thì phần tịnh còn lại là khí âm. Cho nên Kinh Dịch nói : " Thái cực sanh lưỡng nghi" , nghĩa là Thái cực sanh ra khí âm và khí dương. Đạo Đức kinh gọi là Một sanh ra hai. Đây là ngôi thứ nhì của Nhứt khí, mà ngôi Thứ nhì gọi là Thái cực.

3)- Hoàng cực: Hoàng nghĩa là ông vua. Cực là cực cao như nói trên. Cũng gọi là Nhơn cực hay là cái phần tinh thần, phần tâm linh cực cao, chẳng phải ở trong vua chúa mà thôi, như người xưa hiểu , mà ở trong tất cả mỗi con người. Nói theo Nho giáo, thông thường, ta có thể gọi Nó là Lương tâm, là Lương tri, Lương năng, là Tánh lý, là Thiên lương, là Thiên chơn, . . .

Thái cực (thèse) sanh ra âm dương, mới có hai bên tương đối (anti thèse), còn Hoàng cực, đây có nghĩa là hổn hiệp âm dương (synthèse) , mói có xuất ra vạn pháp. Nếu không có âm dương tương hiệp, thì làm sao sanh hóa được ! Nên Kinh Đạo Đức nói: "Hai sanh ba", là âm dương hiệp sanh ra Hoàng cực.

Vậy thì Ba ngôi chỉ có Nhứt khí, mà mỗi ngôi đều có một vai tuồng riêng biệt, chẳng giống nhau mà luôn luôn bổ túc cho nhau. Tuy phân ba thời kỳ cho dễ hiểu, kỳ thiệt là Ba ngôi cùng đồng thời, phân cao hạ.

Đức Diêu Trì Kim Mẫu vẫn có một vai tuồng đặc biệt, thuộc về ngôi Vô cực, nên lấy hiệu là: Vô cực Từ Tôn. Nghĩa là Ngài đại diện cho ngôi Thứ nhứt là ngôi Vô cực.

Sao gọi là Từ Tôn ?

"Từ" là nhân từ, từ bi, có lòng thương xót, độ dẫn tất cả chúng sanh. Như theo thế gian, mẹ thuơng con một cách diệu hiền nên gọi là từ mẫu, từ thân. Trái lại, đối với cha, thì dùng chữ nghiêm, nghĩa là nghiêm minh, nên gọi là nghiêm phụ, nghiêm quân.

"Tôn" là cao cả, bực rất mực tôn nghiêm. Hoặc gọi là Thiên tôn, nghĩa là bực cao cả, tôn nghiêm, ỏ trên các từng trời, hay là trên thiên đàng.

ĐỊA MẪU CHÂN KINH
( Chú Giải )

Hồi mới tạo Thiên lập Địa, Vua Bàn Cổ xuất thế trị đời trước nhất, Ngài mới sắp đặt ngôi thứ, vì lẽ tự nhiên Ngài phong tặng cho Mẫu đây đến bậc tối cao tối đại.

Âm Dương hai khí đủ rồi mới kết cấu cùng nhau hiệp thành hôn phối. Nhờ có mưa thuận gió hòa, hiệp tác mới hóa sinh muôn loài vạn vật. Ấy vậy ai mới bước vào đường đạo đức thì phải trì kinh Địa Mẫu này trước hơn hết mới nhằm đạo hạnh. Trên thì cầu xin với Hoàng Thiên hoan lạc hỉ xả tội lỗi cho tất cả chúng sinh. Còn dưới thì khấn nguyện cùng Địa Hậu vui lòng bảo hộ muôn dân cho đặng an nhàn trường cửu.

Kể từ đấy Đất – Trời đã phân biệt rồi, chẳng còn mù mịt mờ ám như khi trước nữa. Đất là Âm, Trời là Dương. Âm Dương mới khắng khít cùng nhau chẳng hề rời rã. Thông đồng khắp cả cùng Trời Đất thấu đáo Nhật – Nguyệt – Tinh là ba ánh sáng và bao trùm tất cả Càn Khôn Vũ Trụ chẳng sót hướng nào; Bắc, Nam, Đông, Tây là bốn góc chính trụ. Hiệp với Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam là tám hướng bao vòng quanh nơi ngoài gọi là Trời đó. Còn Mẫu đây, Mẫu cố thủ trung ương ( trung tâm ) Mồ Kỷ ( Mậu – Kỷ ) gọi rằng đất. Bởi vậy cho nên Mẫu bao đường cho muôn loài từ hồi đời Tiên Thiên nhất khí, còn gọi là đời thượng cổ dĩ chí đời hậu thiên gọi là đời hậu lai ác thế cầu trọng. Còn phu quân Mẫu vốn thật là một vì Đồng Tử trường sinh bất lão, huyền diệu cao minh vô cùng. Ngài thì điếc, còn Mẫu đây thì câm đôi ta kết bạn cùng nhau rất nên hòa nhã, sách có chữ rằng: Thiên lung Địa á. Thần cũng là Dương, Khí cũng là Âm, lúc ban sơ Dương thịnh Âm suy phối hiệp mới sinh ra Trời Đất.

Đến chừng tạo Thiên lập Địa rồi thì Dương khứ Âm lai, Khí Thần giao cảm mới hóa sinh ra loài người hiền lành chân chính. Chân Khí là Mẫu đây. Mẫu mới thật là Âm Khí. Còn Chân Thần thì biến trở lại làm chúng sinh của Mẫu. Chân Thần là nhất điểm linh quang ấy là Dương Khí đó. Âm Dương hội hiệp gọi rằng Đấng Tạo Hóa. Tạo Hóa ra Thiên Địa trước hết, rồi sau mới hóa sinh ra Chúa – Thánh – Tôi – Hiền. Tuy là chẳng thấy Âm Dương giao cấu như phàm phu tục thế nhưng mà có thật vì Thiên Can với Địa chi thường thường luân chuyển sinh sinh hóa hóa ra hoài chẳng dứt. Tám sưu là mười hai, ấy là Thập Nhị Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Còn nhị bát là mười, ấy là Thập Thiên Can: Giáp, At, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Can – Chi là Âm – Dương đó. Tử với Mẫu chẳng rời nhau thì thọ thai liền. Thai nghén cưu mang như vậy cho đến 10 năm chẵn. Mười năm chẵn thét mới đúng quẻ hào đã định, vì trong Bát Quái có phân chia 8 hướng, mỗi một hướng chia ra là 8 quẻ, mỗi quẻ ra là 6 hào, cộng chung lại là 64 quẻ, tẻ ra làm 384 hào. Đúng giờ mãn nguyện trúc cơ, thì trong thân của Mẫu xuất hiện ra 6 vị Thánh Đế Minh Quân kể ra dưới đây: Một là Vua Thiên Hoàng, hai là Vua Địa Hoàng, ba là Vua Nhân Hoàng, bốn là Vua Phục Hy, năm là Vua Thần Nông, sáu là Vua Hiên Viên. Qua đến đời Vua Phục Hy thì Ngài đã hiểu rõ máy biến hóa ra Trời Đất. Ngài bèn phân định 2 khí Âm Dương và họa ra một cái Bát Quái Tiên Thiên rõ 8 hướng trong Càn Khôn Vũ Trụ. Đến đời Vua Thần Nông thì Ngài tiên đắc tìm kiếm ra được 5 giống lúa và 6 thứ gạo. Đến đời Vua Hiên Viên thì Ngài kiếm ra đủ cách để chế tạo ra y phục và các đồ vật dụng cho người đời cần dùng, chẳng sót món nào.

Con người mà đặng ăn no mặc lành kẻ từ 2 đời Vương đó. Rồi lưu truyền kiểu mẫu lại cho hợp thời tiết và hợp phong thổ.

Phật Địa Mẫu phát lạc rằng: 3 kiếp Phật xuất thế, kiếp nào cũng trong thân Mẫu mà ra. Chư vị Bồ Tát cũng vậy. Chẳng có vị nào lìa xa khỏi thân Mẫu này được nữa. Nếu họ ra khỏi thân Mẫu rồi họ nương tựa ở xứ nào cho được bao giờ. Vì bởi khắp cùng Đông, Tây, Nam, Bắc thì đã có 4 Bộ châu bao chùm tất cả các xứ rồi. Cùng là Xuân, Hạ, Thu, Đông; 4 mùa, 8 tiết trở xoay cũng do Mẫu tạo thành. Nào sông rạch, hồ, biển đâu đâu cũng chẳng rời khỏi thân Mẫu. Cùng muôn nước 9 Châu cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Trải qua các đời Vương Đế đại danh chưa có ai ra khỏi thân Mẫu. Cùng cả thảy lớn bé trong Cung Điện cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Khắp trong thiên hạ có Mẫu Nhạc là 5 danh sơn thắng cảnh hơn hết. Cùng là núi cao rừng thẳm cổ thụ ngàn năm, cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Các sắc nhân dân trăm họ đâu có ai lìa ra khỏi thân Mẫu được. Cùng 5 giống lúa 6 thứ gạo cũng do nơi Mẫu vun dưỡng tốt tươi. 72 cảnh thanh lương địa kia chẳng phải ở ngoài thân Mẫu này được. Cùng muôn loài cầm thú cây cỏ cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Con người trần thế mà sống đặng đây thì cũng nhờ ăn uống vật thực của Mẫu mới sống. Đến chừng chết rồi cũng phải chôn thây cất xác trở vào mình Mẫu. Sách có chũ rằng: sinh tại thế, tử hườn tại thổ. Tất cả Châu, Quận, Phủ, Huyện cũng chẳng rời khỏi thân Mẫu được. Nào am tĩnh, quán xá, thư viện, lâu đài cũng nhờ lấy tài liệu và vật chất trong thân thể của Mẫu mới làm ra được vững bền tốt đẹp.

Thánh Thần Tiên Hiền lớn nhỏ cũng nhờ Mẫu phong thưởng bày đặt lớp lang. Còn các chư Phật mà đặng kim thân bất hoại thì cũng nhờ Mẫu chứng nhận công quả cho mới đắc thành chánh giác. Huỳnh kim là vàng ròng của Mẫu ban bố hun đúc ra vóc ngọc mình vàng của các chư Phật kia. Thật là quý báu hơn tất cả chân châu bửu ngọc trong bốn phương trời. Thiếu chi người ham muốn vọng tưởng đến chừng kết cuộc rồi có mấy ai được đắc thành nguyện. Còn nào là những vàng thoi bạc nén, cùng các loại kim khí khác cũng do nơi Mẫu sản xuất mới có.Vậy chúng con xét lại đó mà coi có còn sót món nào ở ngoài thân Mẫu này đặng chăng? Các nhà Vương hầu tiểu nhược quốc nhờ Mẫu phong tặng tôn kính. Còn trải qua các nhà Đế Vương đại cường quốc thì cũng nhờ Mẫu sùng tôn cho mới được an hưởng thạnh trị lâu dài. Nước nào mà bị giặc giã cưỡng bức lấn lướt cũng do nơi Mẫu vận chuyển phạt hành mới có cảnh quan đấu khởi. Vậy mà chẳng thấy nước nào biết trọng kính đến thân danh của Lão Mẫu ráo trọi.

Lãnh, nhiễu, the, lụa, gai thô, … thứ nào cũng do Mẫu sản xuất. Cùng là bông, hoa, cây, trái, rau cải đủ thứ cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Các loại chua, ngọt, cay, đắng, do nơi Mẫu sản xuất. Cùng thuốc uống, lúa ăn trong 4 mùa cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Hành, hẹ, tỏi, nén kiệu do nơi Mẫu sản xuất. Cùng là gừng, đường, tiêu, ớt cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành.

Khắp trong thiên hạ, đàn ông chí những đàn bà, con nít đều sinh ra nhiều chứng bệnh. Bởi vậy cho nên Mẫu tạo ra sẵn sàng cả muôn thứ thuốc đề phòng điều trị. Lại cũng có hiếm hạng người nam nữ chẳng ưa dùng tửu nhục mỹ vị. Vì vậy cho nên Mẫu đã tạo sẵn nào là dầu, muối, tương, giấm đặng cho chúng nó dùng cho vừa miệng. Món nào món ấy cũng do nơi Mẫu sản xuất. Trăm ban, vạn sự cũng do nơi mẫu vun dưỡng trưởng thành tất cả. Phật Địa Mẫu than rằng: Mẫu đã lao tâm tổn huyết với chúng con đã tận tuyệt rồi. Công lao tiêu trừ ấy biết lấy bút mực nào mà tả cho hết được. Vì tình Mẹ thương con nam nữ, dầu khổ lao thế mấy Mẫu cũng chẳng sờn. Sách còn có chữ: Phụ Mẫu ái tử chi tâm, vô sơ bất chí, vậy mà chúng con nỡ lòng nào quên dứt ơn sâu nghĩa cả của Mẹ cho đành. Vật ăn phẩm uống trang sức cân đai gì Mẫu cũng tạo hóa. Hễ Mẫu tạo hóa ra món nào, Mẫu hết lòng vun dưỡng trưởng thành món nấy, còn hoài cho đến ngày chung cuộc mà thôi. Mẫu cũng có thể chế biến ra tiền bạc đủ thứ và đủ kiểu cho chúng con mua bán chi dụng hằng ngày. Vậy mà chẳng thấy ai để lòng tưởng niệm đến Mẫu một tiếng coi thử. Trên đời chẳng còn sót món nào ở ngoài thân Mẫu. Ấy vậy mà loài vạn vật cũng hườn lại một tay Mẫu tạo hóa sinh thành tất cả không? Nam mô nhất tâm thành kính. Nam mô A Di Đà Phật, thật y như lời của Mẫu truyền bảo chẳng sai. Trước khi Mẫu hóa sinh ra có một vật thô sản mà thôi. Gọi rằng quả Địa cầu. Rồi nơi quả địa cầu ấy Mẫu tích trữ chẳng biết bao nhiêu tài liệu và phẩm thực, dành để cho sáu ngả luân hồi cần dùng chẳng hay gì hết được.

Trên đời này chỉ có mình Trời là lớn hơn hết mà thôi chứ có ai nào biết đến Mẫu. Chớ như Địa Mẫu này sánh cùng Hoàng Thiên kia cũng đồng một bực đó mà. Khi nào trên trời mưa xuống một giọt nước cam lồ Thủy, thì dưới đất bèn hóa sinh ra các loại ngũ cốc đầy đồng lấp ruộng. Tuy là hạt mưa ngọt ngào trong sạch kia rớt xuống đất đượm nhuần mát mẻ, vậy mà ai có biết đặng gốc hạt mưa ấy bởi nơi đâu mà ra chăng? Cũng bởi hút nước ở trong cốt tủy tinh vị của Mẫu đem lên không trung làm mây, rồi mây ấy bèn đông đặc lại thành giá, giá ấy gặp một luồng điển quang chiếu diệu vào, liền tan ra rơi xuống đất, thành ra mưa đó. Rồng, Cù tàng hình ẩn dạng dưới ngàn sông, muôn suối cũng chưa ra khỏi thân Mẫu được. Bởi vậy cho nên bão tố gió mây gì cũng do nơi Mẫu vận chuyển thực hành tất cả. Nếu Mẫu chẳng điều khiển rồng làm gió làm mây, thì bao giờ ai có thấy Rồng tự chuyên làm mưa xuống xứ nào đặng. Xứ nào mà chẳng có Rồng, Cù tàng hình ẩn dạng ở dưới, hễ nghe lệnh Mẫu hô phong hoán vũ thích lịch lôi đình nơi nào, thì Rồng nơi đó hiện ra làm gió làm mưa liền.

Nhắc tới nhắc lui mà nghe, chớ việc nào cũng do Mẫu vận trù quyết sách cả thay. Vậy mà người đời có mấy ai để tâm xét đến. Mẫu rất đau lòng xót dạ. Nhọc nhằn cay đắng bao nhiêu thì để Mẫu chịu. Còn mặc tốt ăn ngon thì chúng con toại hưởng vui cười. Phật Mẫu phát lạc rằng: từ xưa tới nay, Mẫu chẳng hề nhắm mắt. Hễ Mẫu nhắm mắt lại rồi, ắt có tai to nạn lớn sắp xảy đến cho tất cả chúng sinh liền, chẳng đợi tới giờ nhắm mắt làm cho. Nếu Mẫu xoay lưng sấp mặt trong chừng một giờ, thì con cá Ngao to lớn trở mình lăn qua một cái nó sẽ xủ tiêu sạch bách. Trời thì tan Đất thì rã. Trời Đất đâu có thấy nữa. Trên đời này sẽ thành ra một tràng không thì trống trơn trống lỏng rồi đó. Chừng đó các chư Phật Như Lai cũng phải tàng ẩn ngoài Càn Khôn. Còn chư vị Bồ Tát thì sẽ đào tẩu biệt hình dạng. Nào Vua, Chúa, Quan, Dân đằng sẽ bị diệt tiêu tan rụi hết. Trời Đất Thánh Thần sẽ bị tiêu tan rã rọt, cũng như bị thiêu trong lò bát quái kia vậy. Sẽ chẳng còn biết đâu là Đông, Tây, Nam, Bắc chẳng nhận ra hướng nào cho đặng. Đến chừng đó, muôn loài vật sẽ tan nát biến ra như tro bụi kia vậy.

Phật Địa Mẫu ngự trên cõi thượng tầng tối cao huyền hóa và bảo dưỡng nhân sinh, trải hết lòng lành rất quảng đại như vậy đó.

ĐỨC HỘ PHÁP THUYẾT VỀ PHẬT MẪU NHƯ SAU
Quyền làm MẸ Vạn linh:

Đức Phật Mẫu là bà MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh, mà Vạn linh thì gồm đủ Bát Hồn (tức là 8 phẩm Chơn linh) gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Nhưng tại sao quyền hành của Đức Phật Mẫu lại nhỏ hơn quyền hành của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật hay Đức Di-Lạc Vương Phật?

Đức Hộ Pháp thuyết đạo Con đường TLHS giải như sau:

"Bần đạo đi ngang Cung Hỗn Nguơn Thượng Thiên , là nơi Đức Di-Lạc đã thâu pháp, đã định vị nơi ấy. Bần đạo có tả mà trong tâm còn mờ hồ, không biết tại sao, vì lẽ gì, Đức Phật Mẫu là MẸ mà phải chịu dưới quyền con là Đức Di-Lạc, trong bụng coi hơi bất mãn.

Liền khi ấy, Bần đạo ngó thấy cái tướng hình của Đức Phật Mẫu đứng đằng trước, còn Đức Di-Lạc ở đằng sau lưng, quì xuống, đưa hai bàn tay lên, đặng tỏ cho Bần đạo hiểu, dầu cho người con ấy mạnh mẽ, quyền hành thế nào, mà quyền MẸ vẫn là quyền MẸ, không thế gì qua được. Ngài chỉ tuân theo mạng lịnh của Đức Phật Mẫu đặng trị thế mà thôi."

Cũng trong Con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo, thuật lại lúc Ngài vào Diêu Trì Cung bái kiến Đức Phật Mẫu, thấy cái huyền năng vô biên của Đức Phật Mẫu:

Bần đạo cùng các bạn kỳ trước đã ghé nơi Tạo Hóa Thiên, tức Tòa Thiên Cung Phật Mẫu là Diêu Trì Cung.

Bần đạo có nói một điều làm cho chúng ta nên suy nghĩ nhiều là: Huyền bí vô biên của Phật Mẫu.

"Bần đạo nói sơ lược huyền năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Đức Phật Mẫu, ta ngó trên mặt Ngài, ta thấy mặt bà mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về. Bần đạo tưởng ngó thấy bà mẹ sanh Bần đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy người mẹ của họ vậy.

Nếu lấy theo cái trí học tưởng tượng không biết con mắt thiêng liêng có chiếu hình mẹ ta chiếu diệu ra không? hay là Huyền diệu vô biên của Phật Mẫu cho chúng ta thấy như vậy.

Bà mẹ hình hài chúng ta đây là nhơn viên của Đức Phật Mẫu bên phái nữ đó....

Có điều trọng hệ là dầu nam nữ cũng vậy, ráng giữ một điều nầy: Coi chừng đừng thất hiếu với cha mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh Đức Phật Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền hậu vô cùng, hạnh phúc mình được hưởng đó, còn trái ngược lụng lại, nếu ta thất hiếu, ta dòm vào hình ảnh của Phật Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó."

Việc thờ phượng Đức Phật Mẫu hiện nay tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh. Trong Báo Ân Từ, Đức Phạm Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu theo sự tích Hớn rước Diêu Trì, tức là vua Hớn Võ Đế cầu Đức Phật Mẫu giáng xuống Hoa Điện:

Sự tích: Hớn rước Diêu Trì:
Vua Hớn Võ Đế hay Hán Vũ Đế (141-87 trước Tây lịch) là vị vua thứ 5 của nhà Hớn (Hán) bên Tàu, có hùng tài đại lược, nhưng cũng rất tín ngưỡng Trời Phật.

Khi Hớn Võ Đế mới lên ngôi, Ngài có phát nguyện lập một cảnh chùa thật tráng lệ gọi là HOA ĐIỆN để sùng bái Trời Phật. Gọi là Hoa Điện, vì chùa nầy được chạm khắc hình các thứ hoa trên các vật liệu xây dựng, nên mới trông vào thấy như là một Cung Điện toàn bằng hoa.

Ngôi chùa lớn lao cực kỳ xinh đẹp như thế, nhưng nhà vua chưa quyết định thờ Đấng nào, chỉ để trống, chủ tâm là chờ đợi đến chừng nào nhà vua thấy được sự huyền diệu hiện tượng ra thì nhà vua mới sùng bái.

Đến năm Hớn Võ Đế được 61 tuổi, nhà vua tổ chức một Lễ Khánh thọ Đáo tuế long trọng, Ngài có sở vọng cầu khẩn thế nào cho có Đức Phật Mẫu giáng xuống chứng lễ, nên nhà vua lập bàn hương án trước sân chùa cầu khẩn ngày đêm, mà không biết Đức Phật Mẫu ngự ở nơi nào và có thấu biết chăng?

Lúc bấy giờ có Ông Đông Phương Sóc, tu đắc đạo thành Tiên, mà trước kia Ông có làm quan trong triều đình của Hớn Võ Đế, sau về núi tu luyện, đang ngồi tịnh, chợt động tâm, liền đoán biết hiểu rõ mọi việc của Võ Đế nơi triều đình. Ông liền xuống núi, đi đến kinh đô, vào triều đình yết kiến Võ Đế.

Vua Hớn Võ Đế gặp Đông Phương Sóc thì rất mừng rỡ, thuật hết mọi việc cho Đông Phương Sóc nghe và nói rõ ước vọng của nhà vua nhân cuộc Lễ Khánh thọ Đáo tuế là sở cầu Đức Phật Mẫu đến chứng lễ, mà không biết Đức Phật Mẫu ở nơi nào, và nhờ ai đi thỉnh, may mắn có Đông Phương Sóc tới, vậy nhờ khanh giúp trẫm đi thỉnh Đức Phật Mẫu được chăng?

Ông Đông Phương Sóc tâu rằng:

- Bệ Hạ đã định thì hạ thần phục mạng, dầu khổ nhọc thế nào, hạ thần cũng đến Diêu Trì Cung thỉnh Đức Phật Mẫu, nhưng kết quả được cùng chăng là do lòng thành cầu nguyện của Bệ Hạ. Vậy xin Bệ Hạ ban chiếu cho Thần đi thỉnh.

Đoạn Đông Phương Sóc lãnh chiếu chỉ ra đi.

Ông dùng huyền diệu Tiên gia, chỉ trong chốc lát, Đông Phương Sóc đã đến được Diêu Trì Cung nơi cõi Tạo Hóa Thiên.

Đông Phương Sóc xin vào yết kiến Đức Phật Mẫu và tâu bày hết các việc của vua Hớn Võ Đế khẩn cầu.

Đức Phật Mẫu cảm động và phán:

- Phật Mẫu sẽ giáng phàm vào đêm Trung Thu chứng lễ Khánh thọ của Hớn Võ Đế theo sự khẩn cầu, sẽ đem theo 4 Tiên đồng nữ nhạc đờn ngâm bài chúc thọ, và tặng 4 quả Đào Tiên . Khi Phật Mẫu đến có Thanh loan báo tin trước.

Phương Sóc rất vui mừng, bái tạ Đức Phật Mẫu, rồi cấp tốc trở lại trần gian, tâu bày các việc cho vua Võ Đế biết.

Nhà vua rất vui mừng và hỏi: - Thanh loan là gì?

Đông Phương Sóc đáp: - Thanh loan là con chim loan màu xanh, đó là con chim lịnh của Đức Phật Mẫu, dùng để chở Đức Phật Mẫu du hành khắp nơi.

Xin Bệ Hạ chỉnh trang cho long trọng, trang nghiêm, tinh khiết để nghinh tiếp Đức Phật Mẫu, phải lập bàn hương án bên trong và bên ngoài, xông hương khử trược.

Đêm rằm Trung Thu năm đó, trăng sáng vằng vặc, đầu giờ Tý, Hớn Võ Đế quì trước Hoa Điện, thành tâm cầu khẩn.

Xảy thấy một con chim Thanh loan đáp xuống sân Hoa Điện. Liền khi đó, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và bốn Tiên đồng nữ nhạc giáng lâm trước Hoa Điện.

Hớn Võ Đế cung nghinh Đức Phật Mẫu vào ngự nơi Chánh điện của Hoa Điện.

Đức Phật Mẫu dạy bốn Tiên đồng nữ nhạc trao tặng cho Hớn Võ Đế 4 quả Đào Tiên và ca ngâm bài chúc thọ. Ông Đông Phương Sóc quì, hai tay nâng cái dĩa lên để rước lộc (rước 4 quả Đào Tiên).

Bốn vị Tiên đồng nữ nhạc ấy có tên là: Hứa Phi Yến, An Phát Trinh, Đổng Song Thành và Vương Tử Phá.

Sau khi chứng lễ Đáo tuế của Vua Hớn Võ Đế xong, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và 4 Tiên đồng nữ nhạc cỡi chim Thanh loan trở về DTC nơi cõi Thiêng liêng.

Vua Hớn Võ Đế ghi nhớ hình ảnh của Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên, cho thợ khéo, tạc hình Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên nơi Hoa Điện để ghi nhớ sự tích và phụng thờ Đức Phật Mẫu.

Sự tích nầy được truyền tụng đến ngày nay.

Do đó, nơi thờ Đức Phật Mẫu được gọi là ĐIỆN chớ không gọi là ĐỀN.

Do theo sự tích nầy, Đức Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương nơi Báo Ân Từ như sau:

" 1. Trên hết là chơn dung Đức Phật Mẫu (ĐPM) cỡi thanh loan, tức là con chim loan màu xanh.

2. Kế đắp 9 pho tượng của Cửu vị Tiên Nương.

3. Đắp thêm 4 pho tượng của 4 Nữ nhạc theo hầu ĐPM.

4. Pho tượng ông Đông Phương Sóc quì bưng bằng hai tay một cái dĩa nâng lên khỏi đầu, trên dĩa có 4 quả đào Tiên do ĐPM ban tặng. Ông Đông Phương Sóc quì bên hữu ĐPM.

5. Pho tượng Đức Cao Thượng Phẩm quì trước sân Hoa Điện.

Trong khuôn tượng, đắp lên một cảnh chùa cổ tự, kiểu xưa gọi là Hoa Điện.

Đáng lẽ tạo hình Hớn Võ Đế, nhưng vì đời Hớn Võ Đế đến nay quá xa thẳm, lại nữa, nguyên căn của Hớn Võ Đế là chơn linh Hớn Chung Ly trong Bát Tiên giáng phàm. Nay là thời Hạ nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng nguơn Tứ Chuyển, Bát Tiên lãnh lịnh giáng phàm làm tướng soái cho Đức Chí Tôn mở Đạo, Đức Cao Thượng Phẩm chính là chơn linh Hớn Chung Ly giáng phàm kỳ nầy, nên tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm thay vào chỗ Hớn Võ Đế thì thuận hơn."

DIÊU TRÌ CUNG CỦA PHẬT MẪU

Diêu Trì Cung:
Diêu: Ngọc Diêu hay ngọc Dao, là loại ngọc rất quí ở cõi thiêng liêng. Trì: cái ao. Cung: cung điện.

Diêu trì hay Dao trì là cái ao làm bằng ngọc diêu nơi cõi thiêng liêng, ở từng Trời thứ 9 Tạo Hóa Thiên.

Diêu Trì Cung là cung điện bên cạnh ao Diêu Trì, là nơi thường ngự của Đức Phật Mẫu.

Bát Nương giáng cơ đêm 10-1-Nhâm Thìn (1952) giảng về Diêu Trì Cung như sau:

"Chị chào mấy em. Đêm nay Chị đến đặng chỉ cho mấy em rõ Diêu Trì Cung là nơi nào?

Nơi ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang, đài ấy thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên chơn thần cho vạn linh trong CKVT.

Phật Mẫu là Đấng nắm Cơ Sanh hóa, thay quyền Chí Tôn, đứng ra thâu cả Thập Thiên can đem hiệp với Thập nhị Địa chi mà tạo nên vạn vật. Nơi Cung Diêu Trì là nơi tạo nên chơn thần và thể xác đó vậy.

Diêu Trì Cung là cung điện bằng ngọc diêu ở bên Ao Thất bửu, chớ chẳng chi lạ. Ngọc tượng trưng cho sự quí giá, còn Diêu là chất hơi kết tụ mà thành.

Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ Giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ Phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu.

Quan Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam Hải, ở An Nhàn động, còn Diêu Trì Cung thì ở tại Tạo Hóa Thiên.

Nơi Cung Diêu Trì còn có một cõi Âm Quang riêng biệt gọi là Phong Đô đặng giáo hóa các chơn hồn đã bị lạc nẻo trên đường trần.

Vậy, vắn tắt hơn, Diêu Trì Cung là Cơ Sanh hóa vạn linh và vạn vật đó."







Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Chùa Pháp Vương



Chùa Pháp Vương - Hưng Long - Bình Chánh

Địa chỉ: C23/27 ấp 3, Hương Lộ 11 (Đường Đoàn Nguyễn Tuân), Xã Hưng Long , Huyện Bình Chánh, TP.HCM

Năm thành lập: 1936


Người sáng lập: HT Thích Tắc Vương

Hệ phái: BẮC TÔNG

Năm trùng tu: 1990 -2012 ( Xây dựng Đại Hùng Bửu Điện Chùa Pháp Vương, Tôn Tượng Đức Phật,...)




Ban Trị Sự Chùa Pháp Vương :
Phan văn Trí

Điện thoại : 0909858964

Tên tài khoản: Phan văn Trí

Số tài khoản: 144337339

Tại: Ngân hàng Á Châu, chi nhánh Bình Chánh.


Cổng Thông tin Mạng Xã Hội :

https://www.facebook.com/chuaphapvuonghunglong/

http://chua-phap-vuong.business.site



























Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Ý Trinh lạy Địa Tạng Vương Bồ Tát







Tưởng niệm ngày Vía đức Đại nguyên Địa Tạng Bồ tát

(PGVN)
Theo tục lệ hằng năm vào ngày 30 tháng 7 Âm lịch, các chùa Bắc tông đều cúng Vía đức Địa Tạng Vương Bồ tát. Tại sao chọn ngày 30 tháng 7 Âm lịch để cúng Vía đức Địa Tạng Vương Bồ tát?

- “Vào triều đại nhà Đường, năm Vỉnh Huy thứ tư. Về phương Đông (Trung Quốc) có nước Tân La (Silla) (nay là Hàn Quốc hoặc Triều Tiên) Hoàng tử Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak), sau khi tỏ ngộ Phật pháp nhiệm mầu, Ngài liền từ bỏ lầu son gác tía vinh hoa phú quý, xuất gia đầu Phật, sau đó Ngài đáp thuyền sang Trung Quốc, lên núi Cửu Hoa, tỉnh An Huy. Ngài tham thiền nhập đại định trong núi bảy mươi lăm năm, Thành đạo vào ngày 30 tháng 7, triều Đường Huyền Tôn khai nguyên năm thứ 16.

Về sau Ngài lại nhập đại định hai mươi năm nữa. Trong thời gian nhập đại định, tương truyền ngài hiện thân vào những cảnh khổ của Địa ngục để cứu chúng sinh thoát khỏi u đồ. Đến đời vua Đường Chánh Đức năm thứ hai, ngày 30 tháng 7 Âm lịch, Ngài hiển thánh (nhập diệt) khởi tháp. Do đó Bồ tát Địa Tạng thành đạo và hiển thánh đều chung một ngày”.

Theo lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thì Ngài Địa Tạng Bồ Tát (Ksitigarbha), tục danh Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak) một Hoàng tử của Tân La (Silla), Ngài đã thành Đạo và viên nhập Niết Bàn tại Cửu Hoa Sơn, Trung Quốc.

Hội thảo khoa học lịch sử Phật giáo tại Hàn Quốc, học tập theo gương hạnh Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát và một bên là nhà xuất bản, là một trong những sự kiện đã được tổ chức theo chủ đề: " Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak) Địa Tạng Bồ tát (Ksitigarbha), và Phật giáo của Đông Á". Theo một bài phát biểu của Thượng tọa (Sunim)Young, Chủ tịch Hội Giao lưu Văn hóa Phật Giáo Hàn-Trung, đã đưa ra một bài thuyết trình về "Địa Tạng Bồ tát (Ksitigarbha) & trao đổi Phật giáo của Đông Á" và như vậy đã làm Jang-Chong (một nhà nghiên cứu Tôn giáo thế giới tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc), In-Hwang Sunim (một Thượng tọa cựu giáo sư của DU), và Ikay Choryu (một giáo sư của trường đại học Kyoto Phật giáo về mối quan hệ phát triển của một tu sĩ Phật giáo Hàn Quốc tục danh Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak) tức Ngài Địa Tạng Bồ tát (Ksitigarbha).

Một bên công bố tổ chức với sự tham dự của các nhà nghiên cứu Jang-Chong là nhà văn, và Kim Jin-mu, giáo sư của Viện Nghiên cứu Văn hóa Phật giáo, một dịch giả của cuốn sách Địa Tạng Bồ tát. Cuốn sách này là một Thánh thư, hồ sơ tài liệu, và nghệ thuật Phật giáo qua danh hiệu Ngài Địa Tạng Bồ tát (Ksitigarbha) của Trung Quốc tục danh Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak) của Tân La (Silla). Và cũng đã có một buổi lễ ký kết hiến tặng do một nhà văn của cuốn sách khác: "Hãy là một vị Thánh Phật giáo với một tách trà trong cuộc sống (bằng văn bản của một tiểu thuyết Kim, Ji-jang)", để tôn vinh Ngài Địa Tạng Bồ Tát (Ksitigarbha), tục danh Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak).

Đặc biệt nó được thiết kế để lại trong khuôn viên trường đại học Đông Quốc (Dongguk) 'Myungjin-Gwan Hall' ở Seoul, Hàn Quốc như là một động cơ hiện đại để đại diện chung có giá trị ảnh hưởng đạo đức văn hóa tâm linh rất lớn.

Hoàng tử Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak) Ngài đã xuất gia, đi qua Trung Quốc thực hành khổ hạnh tại Cửu Hoa sơn (Kuhasan) 75 năm, và nhập Niết bàn ở tuổi 99. Có tài liệu nói rằng mặc dù Kim thân của Ngài được Tôn trí trong một hộp bằng đá được 3 năm, nó duy trì con số sống của mình Trong AD 813, như một bức tượng và gìn giữ ở một ngôi chùa bằng đá. Cuộc đời và sự nghiệp tu hành, giác ngộ của Ngài giống như Địa Tạng Bồ Tát Ksitigarbha). Vì vậy, bây giờ người Trung Quốc tôn vinh Hoàng tử Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak Ngài là Địa Tạng Bồ tát (Ksitigarbha).

Những sử tích Ngài Địa Tạng Bồ tát :

Trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện, đức Phật nói về bốn tiền thân, với bốn đại nguyện của ngài Địa Tạng:

1. Trong vô lượng kiếp về trước, ngài Địa Tạng là một vị Trưởng giả, nhờ phước duyên được chiêm ngưỡng, đảnh lễ và được sự chỉ dạy của đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, vị Trưởng giả này đã phát đại nguyện: “Từ nay đến tận đời vị lai, tôi vì những chúng sinh tội khổ trong lục đạo (sáu đường) mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật quả.”

2. Vào thời quá khứ vô số kiếp trước, thuở đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tiền thân của Ngài là một người nữ dòng dõi Bà-la-môn có nhiều phước đức và oai lực; nhưng mẹ của cô không tin vào nhân quả tội phước, tạo rất nhiều ác nghiệp, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Là người con chí hiếu, cô rất thương nhớ mẹ, và đã làm vô lượng điều lành, đem công đức ấy hồi hướng cho mẹ, và cầu nguyện đức Phật cứu giúp. Nhờ các công đức chí thành ấy, đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại đã cho cô biết là mẹ của Cô đã được thoát khỏi cảnh địa ngục và vãng sinh về cõi trời. Vô cùng hoan hỉ trước tin ấy, cô đã đối trước đức Phật Giác Hoa phát nguyện: “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sinh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát.”

3. Trong hằng hà sa số kiếp về trước, thuở đức Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ngài Địa Tạng là một vị vua rất Từ bi, thương dân như con … nhưng chúng sinh lúc ấy tạo rất nhiều ác nghiệp, vị vua hiền đức này đã phát nguyện: “Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Ðề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật.”

4. Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thời đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, Ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục có nhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người rất ác, tạo vô số ác nghiệp. Khi mạng chung, bà bị đọa vào địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng cho mẹ, và nhờ phước duyên cúng dường một vị A-la-hán, vị Thánh này đã cho biết rằng, mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sinh vào cõi người, nhưng vẫn còn chịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hạ tiện, lại bị chết yểu… vì lòng thương mẹ và chúng sinh, Quang Mục đã đối trước đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phát nguyện: “Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sinh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng sinh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sinh và ngạ quỉ, v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác.”

Ngoài những sự tích trong kinh nêu trên lại còn một sự tích Lịch sử Phật giáo Hàn Quốc ghi rằng :

Ngài Địa Tạng Bồ tát tục danh Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak), sinh vào thế kỷ thứ VII, năm 696 TL, tại nước Tân La (Silla), hiện nay là Hán Thành, thuộc Nam Hàn. Ngài vốn là một Hoàng tử, sống trong lầu son nhung lụa, ở cung vàng điện ngọc, thế nhưng tính Ngài lại thích đạm bạc, không bị ảnh hưởng bởi nếp sống vương giả phong lưu đài các, mà chỉ chăm lo học hỏi và ham đọc Thánh hiền. Đức tướng trang nghiêm, lòng Từ bi thuần hậu của Ngài thì khó có ai sánh kịp.


Vào năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, sau khi tham khảo hết Tam giáo, Cửu lưu và Bách gia chư tử thì Ngài bèn buông lời cảm thán: “So với Lục kinh của Nho gia, Đạo thuật của Tiên gia, thì lý Đệ nhất Nghĩa đế của nhà Phật là thù thắng hơn hết, rất hợp với chí nguyện của ta”. Sau đó lập chí xuất gia vào năm 24 tuổi.


Sau khi xuất gia, Ngài thường đến chỗ vắng vẻ tu tập Tham thiền nhập định, nhân đây bèn nghĩ đến việc hành cước, tìm một nơi thanh vắng để tĩnh tu. Ngài chuẩn bị thuyền bè, đem theo một ít hành trang và lương thực, đồng thời dắt theo con Bạch khuyển (chó trắng) tên Thiện Thính, đã theo Ngài từ lúc xuất gia. Ngài một mình tự lái thuyền rời bến Nhân Xuyên (Incheon), trương buồm ra khơi, tùy theo hướng gió mà đi, sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, đến cửa sông Dương Tử (Trung Hoa). Thuyền bị mắc cạn trên bãi cát, Ngài bèn bỏ thuyền đi bộ lên bờ, tiếp tục cuộc hành trình. Sau nhiều ngày lang thang, ngài đến chân núi Cửu Tử (núi Cửu Hoa) ở huyện Thanh Dương, tỉnh An Huy. Thấy phong cảnh nơi đây hùng vĩ, sơn xuyên tú lệ, Ngài bèn quyết định ở lại. Ngài đi dọc theo triền núi lên phía trên cao để khảo sát, phát giác khoảng giữa các ngọn núi là một vùng đất bằng phẳng, cảnh trí nên thơ vô cùng tịch mịch, bèn trèo lên mỏm đá bên cạnh một khe nước suối trong và thong dong tự tại với năm tháng mà ngồi tĩnh tọa.

Một hôm, đang lúc tĩnh tọa, bổng có một con rắn độc nhỏ đến cắn vào đùi, nhưng ngài vẫn an nhiên bất động. Giây lát sau, một người đàn bà tuyệt đẹp từ trên vách núi bay xuống, đến bên cúi lạy, đưa thuốc cho ngài và nói:“Đứa bé trong nhà rắn mắt, xúc phạm tôn nhan. Thiếp xin tạo một con suối mới để đền đáp lỗi lầm của cháu nhỏ.”

Nói xong biến mất. Chưa đầy một sát na, trong vách núi phụt ra một dòng suối cuồn cuộn chảy xuống. Từ đó, ngài không còn phải lao nhọc đi xa gánh nước về. (Đây là dòng suối Long Nữ Tuyền nổi danh ở núi Cửu Hoa).

Tương truyền, dưới chân núi có vị Trưởng giả tên Mẫn Công (Văn Các lão nhân), là người thích bố thí cúng dường chư tăng. Ông thường tổ chức cúng dường trai tăng hàng trăm vị. Thế nhưng, mỗi lần như thế, đều thiếu một vị Tăng. Vì vậy, mỗi lần tổ chức ông đều tự thân lên núi thỉnh Ngài. Nếu không, công đức cúng dường không được viên thành.


Không bao lâu sau, vì muốn mở rộng đạo tràng để quảng độ chúng sanh, ngài Địa Tạng bèn đến xin Mẫn Công (Văn Các lão nhân) cúng dường một mảnh đất. Mẫn Công nói: “Tùy Ngài muốn bao nhiêu con xin cúng bấy nhiêu.”


Ngài Địa Tạng nghe thế, tung tấm Cà sa lên không. Tấm Cà sa tỏa rộng bao trùm toàn núi Cửu Hoa. Mẫn Công (Văn Các lão nhân) thấy thế bèn vô cùng hoan hỷ, đem toàn bộ núi Cửu Hoa cúng dường. Mẫn Công (Văn Các lão nhân) có một người con trai, ngưỡng mộ đức hạnh của Ngài, bèn đến xuất gia, hiệu là Đạo Minh. Sau đó, Mẫn Công (Văn Các lão nhân), vì muốn thuận tiện trong việc nghe pháp, bèn lễ bái Đạo Minh làm thầy. Việc này trở thành một giai thoại nổi tiếng trong chốn Thiền môn.

Hiện nay, trong các chùa ở Hàn Quốc thờ tượng đức Điạ Tạng, phần lớn đều có tượng của cha con (Văn Các lão nhân), Mẫn Công (một nhà sư trẻ và một ông lão) đứng hầu hai bên.


Ngài Địa Tạng thường tham thiền nhập định. Ngoài việc giảng kinh thuyết pháp, ngài thường mướn người sao chép bốn bộ kinh lớn của Đại thừa Liễu nghĩa, đem đi bố thí khắp nơi.

Năm Chí Đức thứ nhất (TL.765), có danh sĩ Gia Cát Tiết, ngụ tại một làng dưới chân núi, hương dẫn các kỳ lão trong làng, lên núi thưởng ngoạn. Đến vùng đất bằng trên núi, thấy những áng mây trôi lững lờ trên bầu trời xanh với ánh nắng chan hòa ấm áp, tiếng suối reo từ khe núi chảy ra nghe róc rách, tiếng chim hót líu lo khiến cho mọi người bị phong cảnh tú lệ làm mê hoặc, đi dần vào rừng sâu, chợt thấy có một vị Thiền sư Tọa thiền trên mõm đá bên cạnh dòng suối, đang nhắm mắt nhập định. Bên cạnh là một cái đảnh cổ gảy một chân, trong đó có một ít gạo trộn lẫn đất trắng. Một lát sau, vị Thiền sư xuất định, lấy gạo đất nấu chín rồi ăn. Ăn xong, ngài lại tiếp tục tĩnh tọa Tham thiền. Những người trong nhóm thấy thế, vô cùng cảm động bèn đến thưa với ngài: “Thưa! Ngài tu khổ hạnh như vầy, đây là lỗi của dân làng chúng con!”

Chẳng bao lâu, mọi người trong làng cùng nhau xây cất một ngôi Thiền đường rộng lớn hơn nữa, quanh năm đều cúng dường thực phẩm không hề gián đoạn.

Năm Kiến Trung thứ nhất (TL.780), vị Quận thú Trương Nghiêm, nhân vì kính ngưỡng đạo hạnh cao quý sùng kính công nghiệp hoằng pháp của Ngài, bèn tâu lên Đức Tông Hoàng Đế, ban sắc dụ chính thức kiến tạo Tự viện. Bấy giờ Đạo tràng của Ngài Địa Tạng mới thực sự hùng vĩ trang nghiêm.


Lúc ấy, các vị tăng nước Tân La (Silla) nghe danh, có đến vài trăm người tìm đến thân cận tu học với Ngài. Dần dần, số người càng lúc càng đông, thực phẩm trở nên thiếu thốn. Một hôm, Ngài ra phía ngoài chùa, cho đào rất nhiều đất trắng nhuyễn như bột, dự định bổ túc vào phần ăn. Mọi người trong chùa, cảm mến bởi đức hạnh của Ngài, đều cùng nhau lên tiếng: “Nguyện dùng pháphỷ thực và Thiền duyệt thực nuôi sống tuệ mạng, không dùng vật thực nuôi sống thân mạng”. Điều này chứng tỏ mọi người trong chùa không lấy thân mạng làm trọng. Thời đó, mọi giới trong Phật giáo đều tỏ lời khen ngợi, ca tụng họ là “Nam mô Các Vị Tăng Gầy Ốm phương Nam”.


Một hôm vào mùa hạ, năm Trinh Nguyên thứ mười (TL.795), Ngài triệu tập Tăng chúng vào Chánh điện để từ giả. Mọi người cảm thấy hoang mang không rõ lý do gì. Lúc ấy, các ngọn núi phát ra tiếng khóc gào thét thảm thiết của muôn thú, những tảng đá lớn ầm ầm rơi xuống vực sâu, khắp rừng cây cỏ đều ngẩn ngơ sầu, mây che phủ kín trời đất đều rung chuyển và mây che phủ kín, mùi hương tỏa khắp núi rừng. Ngài an tọa kiết già Thị tịch. Hưởng thọ 99 Xuân.

Sau khi Viên tịch, nhục thân của ngài được đặt trong một động đá. Ba năm sau, Tăng chúng mở động ra, thấy nhục thân vẫn còn nguyên vẹn, tướng mạo giống hệt như lúc sinh tiền. Đại chúng đem nhục thân đến Bảo tháp trên ngọn Thần Quang Lãnh. Dọc đường, nghe văng vẳng như có tiếng tích trượng vàng khua động theo nhịp chân của mọi người. Kinh dạy: “Bồ tát bị nạn, hình hài vang động ”. Đây là một dữ kiện chân chánh, không chút hoài nghi, chứng minh sự ứng hóa của ngài Bồ Tát Địa Tạng. Hơn nữa, nếu như cung kính lễ bái nhục thân của ngài Kim Địa Tạng, thì sẽ được lợi ích giống như Kinh Địa Tạng đã nói.

Từ đó đến nay trãi qua hàng thiên niên kỷ, Phật tử và mọi người khắp nơi trên thế giới đều không ngại gian lao, đều phát tâm đến Thánh tích Cửu Hoa Sơn, Trung Quốc để cùng chiêm bái nhục thân của ngài Địa Tạng Bồ Tát. Đặc biệt, mỗi năm vào ngày vía của Ngài vào ba mươi tháng bảy âm lịch, tại Thánh địa Cửu Hoa Sơn, trong vòng mấy mươi dặm, dầy đặc những Phật giáo đồ, nam nữ lão ấu, đến tham dự nhất bộ nhất chiêm (một bước một xá) hoặc nhất bộ nhất bái (một bước một lạy), đủ chứng tỏ Bồ tát đã kết duyên Bồ đề rộng rãi, sức Từ bi cảm hóa sâu dày !

Đến đầu thế kỷ thứ VIII, nhân gian truyền nhau rằng : "Bồ tát Địa Tạng thị hiện thành Thái tử Triều Tiên tục danh Kim Kiều Giác (Kim Kyo-gak), xuất gia tu Phật, rồi vân du sang Trung Quốc, tại núi Cửu Hoa, hóa hiện thần lực nhiếp độ quần sanh. Và từ đó về sau, Cửu Hoa Sơn trở thành đạo tràng của Bồ tát Địa Tạng. Từ khi Bồ tát Địa Tạng ứng hiện tại Cửu Hoa Sơn, niềm tin về sự cứu độ của Ngài trong lòng Phật tử ngày càng sâu rộng. Khách từ phương xa hành hương đến, chiêm bái và cầu nguyện tại Cửu Hoa Sơn ngày càng đông. Rồi theo thời gian, vì nhu cầu tu tập của Tăng Ni cũng như Phật tử, hàng trăm Tự viện được xây dựng trên dãy núi kỳ vĩ này. Cửu Hoa Sơn hưng thịnh nhất vào đầu và giữa triều đại nhà Thanh và suy giảm từ cuối nhà Thanh trở về sau... Ngày nay, dù không còn hưng thịnh như xưa, nhưng Cửu Hoa Sơn vẫn là một trong Tứ đại Danh Sơn linh thiêng bậc nhất của Phật Giáo Trung Hoa, và là điểm thu hút du khách cả nước và du khách Quốc tế.

Từ Trung Quốc, Phật giáo truyền đến Triều Tiên. Qua ngõ Triều Tiên, Phật giáo truyền vào Nhật Bản đầu thế kỷ thứ VI TL. Trước khi Phật giáo truyền đến Nhật Bản, người dân nơi đây phần lớn tin theo Thần đạo. Họ tôn thờ nhiều vị thần linh. Khi Phật giáo du nhập và phát triển, dân chúng Nhật Bản đã lưu truyền nhiều câu chuyện về Bồ tát Địa Tạng như là hiện thân của vị Bồ tát chăm lo và cứu giúp những người bất hạnh và khổ đau. Họ tin rằng, Ngài luôn bảo hộ những lữ khách đi đường, phụ nữ có thai, người lính cứu hỏa… đặc biệt trẻ em bất hạnh.


Ngài luôn hiện thân để bảo vệ trẻ em bị ngược đãi, bạo hành trong gia đình và xã hội. Với những trẻ thơ bất hạnh yểu mạng, Ngài thường đến bên bờ sông Nại Hà, dòng sông mà tín ngưỡng dân gian Á Đông tin là linh hồn phải đi qua trước khi vào điện Diêm La nghe Diêm vương phán xét tội hình, an ủi và che chở các em. Nhiều người tin rằng, những trẻ em yểu mạng, vì thương nhớ cha mẹ và người thân, linh hồn các em thường ở lại bên bờ Nại Hà nhặt những viên đá cuội xây lâu đài và thành quách để tưởng đến người thân. Các em rất khổ sở vì nhớ cha, nhớ mẹ và nhớ anh chị, Bồ tát Địa Tạng thường đến bên các em vỗ về, an ủi và cùng các em nhặt đá xây thành, giúp các em tích tạo công đức, và đưa các em qua sông Nại Hà. Nhiều người khác lại tin rằng, các em có tội bất hiếu vì khiến cha mẹ và người thân đau buồn, nên các em bị hình phạt bên bờ Nại Hà, bị qủy dữ hiếp đáp, và Bồ-tát Địa Tạng thường hiện thân cứu giúp các em, đưa các em qua dòng sông Nại Hà.


Vì tôn thờ Bồ tát Địa Tạng là vị Bồ tát bảo vệ trẻ em, nên phần lớn tranh tượng của Ngài thường biểu hiện giống và liên quan đến trẻ thơ. Có tranh tượng, khuôn mặt Ngài trông giống trẻ em, rất ngây thơ, hồn nhiên. Có tranh tượng, trên tay Ngài bồng một em bé, dưới chân lại có vài ba em bé khác đang níu kéo Tăng bào và thiền trượng của Ngài. Và tượng Ngài thường được tôn thờ bên những dòng sông, con suối. Hằng năm, người dân Nhật Bản thường tổ chức lễ tưởng nhớ công ơn của Ngài dành cho trẻ thơ vào ngày 24 tháng 7 AL. Ngày nay, tín ngưỡng Bồ-tát Địa Tạng đã trở thành tín ngưỡng chung của Phật giáo và dân gian. Và sau Lễ Vu Lan Rằm tháng 7 AL thì các Chùa thường khai kinh Địa Tạng tụng cho đến ngày cúng vía Ngài vào cuối tháng 7 tức ngày 30. Việt Nam ta chưa có lưu hành và thọ trì Địa Tạng Sám pháp kinh, trong khi Hàn Quốc thì Kinh này rất thông dụng cho các chùa thường tổ chức cho quý Phật tử thọ trì Địa Tạng Sám pháp kinh.


Mong rằng gương hạnh Đại Nguyện Vương Bồ tát mãi thắp sáng trong tâm thức của nhân thế trần gian và nhất là những người cầm cân nãy mực điều hành đất nước khắp nơi trên thế giới để cùng nhau một Đại nguyện góp phần khắc phục những xung đột chiến tranh, hậu quả thiên tai dịch họa, xứng với câu kinh Phật : "TÂM BÌNH, THẾ GIỚI BÌNH AN" nói chung và riêng thịnh trị thái bình của mỗi quốc độ. . .


Nam mô U Minh Giáo Chủ, Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, Đại bi Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát ma ha tát.