Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồng Quân Lão Tổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồng Quân Lão Tổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2023

Đức Hồng Quân Lão Tổ






Đức Hồng Quân Lão Tổ

ĐỨC HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ theo quan niệm của ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ




Để tìm hiểu Đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ có tự bao giờ, Ngài là ai, và có sứ nhiệm gì với Mối Đạo Trời, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu qua Kinh sách, Thánh giáo, Điển tích, Đạo ngôn truyền khẩu, v.v… , mà các Tài liệu Đạo sử đó cũng chính là vị Chơn sư dẫn dắt, giáo dục mọi tín hữu đạo Cao-Đài chúng ta trên bước đường hành đạo tìm về cội nguồn vũ trụ, tìm về đấng Tạo-Hóa Hư-Linh tịnh diệu.

Muốn tìm hiểu về Đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ, theo Nho-giáo, chúng ta hãy bắt đầu từ câu : ĐẠO là “VÔ-CỰC NHI THÁI-CỰC”. Vậy quá trình từ Vô-Cực đến Thái-Cực như thế nào ? Với tri thức còn kém cõi, kiến thức lại nhiều hạn chế, nhưng ngu đệ cố gắng viết theo sự hiểu biết non nớt của mình, kính xin các bậc cao minh, trưởng bối chỉ giáo cho ngu đệ ngày càng tiến bộ hơn. Đó thật là một điều hồng phúc vậy.

Trước khi có Trời Đất, thì trong khoảng không gian vô cùng to lớn, không có gì to lớn cho bằng, và cũng không biết có từ lúc nào, có lẽ hằng triệu tỷ năm. Khoảng không gian vĩ đại ấy không thể đo đạc được và khoảng thời gian bao lâu ấy cũng không thể đo lường được, bên trong đã sẵn có một chất khí Hồng-Mông hỗn độn, mờ mịt ảm đạm, lặng lẽ im lìm, thanh trược hổn hợp, ở giữa là một chất khí Huyền-Thạch; đặc biệt bao quanh vòng chu vi không mối ấy là một đường viền Kim-Quang Hư-Linh-Khí, nên gọi là VÔ-CỰC (O) hay VÔ-CỰC-ĐỒ, còn có tên gọi khác là : HƯ-VÔ CHI KHÍ, … mà chúng ta không thể nào thấy biết được.

Như vậy, chúng ta hãy cùng nhau tâm nguyện để có được linh cảm mà tạm phân HƯ-VÔ CHI KHÍ hay VÔ-CỰC đó tàng chứa các loại khí, như sau :

- KIM-QUANG HƯ-LINH KHÍ : tức là KHÍ THÁI-HƯ, hay khí Thái-Diệt là cái hơi rất thay đổi.

- HỒNG-MÔNG CHI KHÍ: là KHÍ HẠO-NHIÊN, khí Hồn-Lộn, hay khí Thái-Sơ là cái hơi rất mới sơ khởi ban đầu.

- HUYỀN-THẠCH CHI KHÍ: tức là KHÍ TIÊN-THIÊN, hay khí Thái-Thỉ là cái hơi bóng rất mới có đầu tiên hết.

Và sau đó tiến trình ấy vẫn tiếp tục thay đổi, khí Thái-Thỉ này bắt đầu có được khí chất và tánh chất (có mùi và có màu) thì gọi là khí Thái-Tố (nghĩa là cái hơi rất trắng), còn gọi là khí HOÀNG-CỰC.

VÔ-CỰC hay HƯ-VÔ CHI KHÍ đã trải qua bốn lớp thay đổi : từ THÁI-DIỆT (Kim-Quang Hư-Linh khí), THÁI-SƠ (Hồng-Mông chi khí), THÁI-THỈ (Huyền-Thạch chi khí) đến THÁI-TỐ (Hoàng-Cực chi khí) thì đã đủ LÝ (Nguyên-lý Thiên-Nhiên chính là Vô-Cực), KHÍ (Nguyên khí Tự-Nhiên là 3 loại khí ban đầu = hồng, huyền, kim (thái) sẵn có trong Vô-Cực) và HÌNH (có : thể và chất nhưng còn hỗn độn chưa xác định loại hình cụ thể, tức Hoàng-Cực chi khí vậy).

Nhờ hội đủ ba chất Khí : Kim-Quang, Hồng-Mông, Huyền-Thạch và cũng đã đến lúc VÔ-CỰC ĐỊNH PHÂN. Chừng đúng ngày giờ, Khối ấy có sức phản động liên tiếp đun đẩy mảnh liệt do bởi khí Dương (khí Huyền) ẩn trú trong VÔ-CỰC quá nóng nên tương khắc với khí Âm (khí Hồng) lại quá lạnh nên nổ tung ra một tiếng vang dữ dội (big-pang) tạo thành một khối tổng hợp quang minh lăn lộn quay quần giữa không trung, bắn tủa hào quang chiếu diệu sáng ngời trùng trùng điệp điệp, rực rỡ chói lòa khắp mọi nơi. Khi hết khắc xuất thì phải đến lúc sinh nhập, nhanh chóng ổn định và tạo nên : “THIÊN-ĐỊA ĐỊNH VỊ”, tức là lúc bấy giờ lằn Kim-Quang Hư-Linh khí (hay LÃO-MẪU xuất Kim-Quang-Điển, hay Khối Điện Nguyên Sinh) đã xẹt băng qua Vòng VÔ-CỰC hình giống như chữ S hay “Con rắn điển” chun vào giữa chánh trung phân Âm Dương riêng biệt ngay từ thuở ban đầu. Khí Huyền thăng lên trên, khí Hồng trầm xuống dưới, và lằn khí Kim trung dung (Kim-Quang Hư-Iinh khí) hườn lại thành một khối ĐẠI-LINH-QUANG tự trấn giữa là ngôi THÁI-CỰC, và đã phân đôi Vòng VÔ-CỰC ( O ), hai mà là ba ngôi :

1. Khí thanh của Ngôi trên là TRỜI, động, sắc đen, bay bổng lên làm ngôi CÀN, Càn vi THIÊN (khí khinh thanh thượng phù giả vi Thiên), tức là NHỨT DƯƠNG CHI KHÍ, chính là : đức “HUYỀN-THIÊN THƯỢNG-ĐẾ”.

2. Khí trược của Ngôi dưới là ĐẤT, tịnh, sắc đỏ, nặng nề lắng xuống làm ngôi KHÔN, Khôn vi ĐỊA (khí trọng trược ngưng giáng giả vi Địa), tức là NHỨT ÂM CHI KHÍ chính là : đức “HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ”

3. Còn lằn Kim-Quang Hư-Linh khí ở trung gian bị hai khí sắc của đen và đỏ lam qua biến thành sắc vàng (Thái) thống hợp Cơ Động-Tịnh chuyển hóa ra ánh sáng đại quang minh, gọi là : “THÁI-CỰC THÁNH-HOÀNG” hay HOÀNG-CỰC CHỦ-NHƠN-ÔNG đứng ra làm Chủ Tể Càn-Khôn Thế Giới, còn gọi là đấng SÁNG-LẬP TẠO-HÓA, là ĐẠI-LINH-QUANG hay ĐẠI-HỒN của Vũ-Trụ, chính là đức NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ, mà trong ĐẠO xưng tụng là THÁI-NHỨT ĐẠI-THIÊN-TÔN.

* Như vậy, THÁI-CỰC-ĐỒ (Khai-Thiên Tịch-Địa Đồ) gồm có ba đấng : HUYỀN-THIÊN THƯỢNG-ĐẾ, HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ và THÁI-CỰC THÁNH-HOÀNG : chính là THƯỢNG-ĐẾ BA NGÔI. Ba mà lại là một. Sách có câu : “ Hồng-Quân đào vạn loại, Địa khối bẩm quần sanh”, nghĩa là Trời nhào nặn ra muôn vật, Đất nuôi sống chúng sanh. Thật vậy, ĐỨC HỒNG-QUÂN THƯỢNG-TỔ cũng là ĐẤNG HUYỀN-THIÊN THƯỢNG-ĐẾ, mà cũng chính là ĐẤNG THÁI-CỰC THÁNH-HOÀNG, là NGÔI TUYỆT-ĐỐI.

Xin trích một đoạn Thánh giáo chứng minh đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ có trước khi khai Thiên lập Địa, và quản quyền trên cả TAM GIÁO TỔ SƯ, TAM-TRẤN OAI NGHIÊM được thể hiện, như sau:

Thi
“THẦN TIÊN hội lại, luận chương trình (thăng),
VIỄN-TRẤN THẦN-OAI đến chứng minh (thăng),
NAM-HẢI QUAN-ÂM tùng thính lịnh (thăng);
GIÁO-TÔNG THÁI-BẠCH, ngã KIM TINH.
TAM TRẤN mừng chung Thiên mạng, khá thành tâm cung nghinh TAM GIÁO lâm cơ chứng đàn. (thăng) !
Thi
THÍCH-CA PHẬT-TỔ giáng trần gian (thăng),
THÁI-THƯỢNG LÃO QUÂN đến chứng đàn (thăng),
KHỔNG-THÁNH NHO TÔNG ra chuyển thế (thăng);
Ban ân đồ đệ tiếp THIÊN-HOÀNG (thăng).
Thi
HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ hóa phân Trời (thăng),
KIM-MẪU DIÊU-TRÌ chứng kiến nơi (thăng),
CHA CẢ linh hồn, Thầy NGỌC ĐẾ;
Ban ân lớn, nhỏ khá nghe lời. v.v… (thăng).
* * * Để hiểu biết ĐẠO là gì, và do ai làm chủ ? Chúng ta hãy nghe lời dạy của đức NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ, như sau :

ĐẠO là gì ? ĐẠO LÀ HƯ-VÔ CHI KHÍ, Đạo rất nhiệm mầu sâu kín cao siêu. Trước khi có Trời Đất đã có Đạo. Vậy Đạo đã tạo dựng nên Càn Khôn Võ Trụ, hóa sanh vạn vật muôn loài. Muôn loài vạn vật phải thọ bẩm khí Hư-Vô mà sanh hóa mãi mãi.

Đạo ấy do ai làm chủ ? HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ làm chủ nó, vì đã chuyển pháp luân mà sản tạo muôn loài. Đạo sanh Trời Đất, Trời Đất cũng phải dưới quyền lẽ Đạo. Đạo bền vững hoài, không bao giờ hư hoại được. Các con không nên giờ khắc nào xa nó; còn nó thì sống, xa nó thì chết. Các con nghe : …

Kinh Dịch có câu : “Âm-Dương diệt vận giả, Khí dả. Kỳ Lý tắc sở vị Đạo”. Nghĩa là : Âm-Dương luân chuyển với nhau thì gọi là KHÍ. Còn LÝ hay NGUYÊN NHÂN của nó thì gọi là ĐẠO.

Như vậy, quá trình từ THÁI-CỰC trở về trước thì gọi là LÝ; còn Khí Thái-Cực khởi động tịnh sanh Âm-Dương về sau thì gọi là KHÍ. Cho nên người xưa gọi LÝ Thái-Cực là chỉ thời trước; còn KHÍ Thái-Cực thì chỉ thời sau.

Đến lúc có KHÍ rồi, LÝ Thái-Cực vẫn ở trong KHÍ mà không biến đổi, tức là LÝ * KHÍ hỗn hiệp cùng nhau. Từ đó mà LÝ luôn ở trong KHÍ, còn KHÍ không bao giờ rời xa LÝ.

ĐẠO ở trong chỗ không không (VÔ-CỰC), mà phát sanh ra một khí (THÁI-CỰC), tức là Khí sanh ra Âm Dương; Âm Dương hiệp lại nhau thành một thể thứ ba cũng từ một Khí; rồi cái thể thứ ba này cứ sanh hiệp như vậy mãi mà thành ra muôn vật. Trong Đạo-Đức kinh có câu : “Đạo sanh nhứt, nhứt sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật”.

Và Nho-giáo cũng dạy : Đạo là chơn không mà diệu hữu, có nghĩa là Đạo ở chỗ không không (Vô-Cực) mà phát sanh chỗ có (Thái-Cực). Một khí sanh ra Âm Dương, Âm dương hiệp lại cùng nhau thành một cái thể thứ ba cũng từ một KHÍ. Rồi cái thể thứ ba này cứ sanh hiệp như vậy mãi, mà hóa thành muôn loài vạn vật, có bài thơ rằng :

“ĐẠO tự HƯ-VÔ sanh NHỨT KHÍ,
Tiện tùng Nhứt Khí sản Âm Dương,
Âm Dương tái hiệp thành Tam Thể;
Tam Thể trùng sanh, vạn vật trương.”
Tóm lại, “ĐẠO là cơ chuyển động đầu tiên trong khoảng thời gian từ VÔ-CỰC đến THÁI-CỰC, mà ĐẠO ấy do chính đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ làm chủ”.

Như vậy, chúng ta cùng tìm hiểu sứ nhiệm của đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ của ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ như thế nào ?

Theo Kinh sử, khi Trời Đất đã khai lập xong, tức là vào thời đại Thượng cổ (Nhứt Kỳ Phổ-Độ) có ba đấng TAM-GIÁO ĐẠO-TỔ giáng trần là : đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ khai Tiên-giáo, đức NHIÊN-ĐĂNG CỔ PHẬT khai Phật-giáo và đức VĂN-TUYÊN ĐẾ-QUÂN khai Nho-giáo.

Và theo truyện Phong-Thần, đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ là do trong khí Hồng-Mông sinh ra, từ thuở có trước Trời Đất, Ngài có ba vị học trò Tiên lớn nhứt là :

* THÁI-THƯỢNG ĐẠO-QUÂN (Quảng-Thành-Tử, … Lão-Tử của Nhị-kỳ Phổ Độ),

* NGƯƠN-THỦY THIÊN-TÔN (Thanh-Vi Ngươn-Thỉ Vạn Pháp Thiên-Tôn),

* và THÔNG-THIÊN GIÁO CHỦ (Hồng-Mông Giáo Chủ, Linh-Bửu Thiên-Tôn).

THÁI-THƯỢNG ĐẠO-TỔ là Tôn sư của CHƠN-GIÁO (Doctrine Mediume), và NGƯƠN-THỦY THIÊN-TÔN là Tôn sư của XIỂN-GIÁO (Doctrine Radical).

Chơn-giáo và Xiển-giáo là đạo Nhơn-Tiên và đạo Thiên-Tiên, Đạo chánh gốc, dạy con người trước phải giữ gìn luân thường đạo lý, sau là tu hành đạt đến quả vị Phật-Tiên.

Còn THÔNG-THIÊN GIÁO CHỦ là Tổ sư TRIỆT-GIÁO (Doctrine Secondaire), cũng là Đạo chánh, nhưng dạy loài thú cầm tu cho đến khi hóa ra người, rồi mới hóa Phật-Tiên nên Triệt-giáo gọi là đạo Địa-Tiên. Mặc dù một vài loài thú cầm thành Tiên, nhưng còn sót giữ lục căn lục trần nên hay sanh lòng tà, tự cao ngã mạn.

Vì vậy mà Triệt-giáo ít nhiều bị mang tiếng là Bàn-Môn Tả-Đạo, thật là rất oan ưng. Riêng trong đạo Cao-Đài, có một lần khi lập đàn cơ, Pháp đàn Hiệp-Thiên-Đài họa Phù Tam-Thiên, thay vì họa trấn Ngũ phương nhưng chỉ có Tứ phương, lợi dụng sự thiếu sót ấy, đệ tử Triệt giáo đã nhập cơ về cho biết :

“Cửu phẩm Thần Tiên nễ mặt ta,
Thích-Ca dù trọng chẳng giao hòa,
Cửa cung Bạch-Ngọc thường lui tới;
Biết đặng minh ra lẽ chánh tà”.
Thông-Thiên Giáo Chủ vì bị học trò khiêu khích, đâm ra bực tức muốn bênh vực học trò của mình, nên mới ra giúp Trụ đánh Châu, tức là sai lỗi với cơ Trời.

Nói về KHƯƠNG-THƯỢNG TỬ-NHA, học trò của NGƯƠN-THỦY THIÊN-TÔN, mong phò Châu diệt Trụ, ấy là ứng với Thiên cơ chuyển hóa. Ngài phá trận Tru-Tiên không nỗi, vì Thông-Thiên có vô số Địa-Tiên, phép tắc mầu nhiệm vô cùng. Khương-Thượng mới cất đàn, thắp hương thỉnh Thái-Thượng Đạo-Tổ xuống phá trận ấy, trước cứu Khương-Thượng, sau cứu vạn linh.

Thái-Thượng đằng vân xuống phía Tây. Đơn kinh gọi là :

TÂY-PHƯƠNG BẠCH-ĐẾ TRIỀU NGƯƠN xuất Tam-hoa trên đầu, lại còn hóa Linh-lung-tháp, hào quang tỏa ra muôn trượng, đánh vô số Địa-Tiên bên Triệt-Giáo. Thấy thế trận chưa thể thắng nhanh được, đức Thái-Thượng dùng Ngươn khí huyền diệu của mình hóa ra TAM-THANH, tức là biến thành 3 người nữa để xông vào đánh 3 cửa trận (Nam, Bắc, Đông) còn lại.

Thông-Thiên đang cơn kinh hãi, xảy nghe phía Nam :

NAM-PHƯƠNG XÍCH-ĐẾ TRIỀU-NGƯƠN tức là có một vị Tiên đội mão Đạo, mặc áo hồng bào, xưng là NGỌC-THANH ĐẠO-NHƠN, vừa đánh vừa đọc bài kệ :

“Trời Đất sanh thành đã có Ta,
Theo Thầy học Đạo kể hằng hà,
Thấy điều nghịch lý ra tay giúp;
Cho rõ hai bên lẽ Chánh Tà”.
Bỗng nghe thấy bên phía Đông có một vị Tiên:

ĐÔNG-PHƯƠNG THANH-ĐẾ TRIỀU-NGƯƠN đội mão vàng, mặc áo có hình Bát-Quái, xưng là THƯỢNG-THANH ĐẠO-NHƠN, ngâm bài thơ sau:

“Hồng-Quân Lão-Tổ dạy vuông tròn,
Bố hóa Côn Lôn rõ mực son,
Trời Đất tuy già, Ta chẳng thác;
Nước non dầu đổi, tánh hằng còn”.
Thông-Thiên Giáo Chủ đang cơn bối rối, xảy thấy từ hướng phía Bắc một vị Tiên:

BẮC-PHƯƠNG HẮC-ĐẾ TRIỀU-NGƯƠN xông đến, xưng THÁI-THANH ĐẠO-NHƠN miệng ca vang :

“Từ thuở sanh Ta lúc Hổn mang,
Tính năm kể tháng biết muôn ngàn,
Một bầu Tạo-Hóa dầu ngang dọc;
Những kẻ Bàn-Môn khó tỏ tàng”.
Như thế, đức Thái-Thượng Đạo-Tổ dùng huyền diệu ngươn khí của mình mà biến hóa ra ba vị Đại-Tiên gọi là TAM-THANH (Ngọc-Thanh, Thượng-Thanh, Thái-Thanh nằm trong Ngũ-Khí hiệp thành, Tam-Thanh qui Nhứt. Đó là ĐẠO) và với Ngài là bốn, cùng xông vào phá trận Tru-Tiên, vây quanh đánh Thông-Thiên Giáo Chủ. Thông-Thiên và các Địa-Tiên đánh không lại, chỉ lo gỡ gạt mà thôi. Thừa thế thắng trận và phép Tiên cũng gần mãn, nên Ngài vui say ngâm bài kệ sau:

“HỒNG-QUÂN truyền phép, Đạo đa thành,
Làm chủ Thần-Tiên độ chúng sanh,
Biến thử ba hình ai dễ biết ?;
Cho hay Ngươn khí hóa Tam Thanh”.
Thái-Thượng ngâm vừa dứt lời, bỗng nghe tiếng chuông vang inh ỏi, ba vị Tam-Thanh biến mất, chỉ còn một mình Thái-Thượng. Thông-Thiên Giáo Chủ sửng sốt nhìn Thái-Thượng Đạo Quân mà khiếp sợ, bị Thái-Thượng đập cho ba gậy hào quang hoảng hồn đằng vân bay lên thì … bổng từ hướng Nam có một vừng mây ngũ sắc hiện ra, hào quang chiếu diệu, gió quyện mùi hương thơm nực, rồi có một Ông Lão đi đến ngêu ngao bài thơ sau:

“Từ đời BÀN-CỔ ẩn trong rừng (a),
Dạy được ba trò (b), dạ rất ưng,
Xiển-giáo chia ra cùng Triệt-giáo;
Cho hay cũng một gốc HỒNG-QUÂN”.
Thông-Thiên Giáo Chủ giựt mình, biết Thầy mình là HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ đến, liền quì mọp xuống đất nghinh đón và thưa rằng : “Đệ tử không hay Sư phụ đến nên nghinh tiếp trễ. Xin Sư phụ tha tội”.

Đức Hồng-Quân Lão-Tổ nói : “Sao ngươi dám lập trận Tru-Tiên hại Môn đồ ngươi nhiều như vậy?”

Thông-Thiên thưa : “Bởi hai vị Sư huynh (Thái-Thượng và Ngươn Thủy) khi dể Triệt-giáo để học trò mắng nhiếc đệ tử quá lời, chẳng nghĩ tình Thầy, khinh khi bạn hữu”.

Đức Hồng-Quân Lão-Tổ nói : “Sao ngươi không tự trách mình, mà tìm lời trách bạn ? Ngươi không nhớ lời giao ước khi Lập Bảng Phong-Thần sao ? Việc danh lợi là chí của kẻ phàm, nếu không dằn tánh ấy, sao gọi là Tiên ? Vả lại, ba anh em ngươi tu luyện từ thuở Hỗn-độn đến nay, không phải một kiếp, chẳng lẽ vì việc nhỏ nhen mà dứt nghĩa đồng song ? Ta biết Thái-Thượng, Ngươn-Thủy cũng có ít nhiều trái lẽ, làm môn đồ Triệt-giáo ngậm hờn, song hai người thuận theo mà khuấy động theo lý của đạo Trời. Đã biết mỗi phái hệ có một đường tu, song đường tu nào kết cuộc cũng phải về lẽ chánh. Nếu như ngươi hiềm thù mãi, cố lập trận Địa-Thủy-Hỏa-Phong, làm khó dễ cho hai Sư huynh ngươi thì phần ngươi cũng không yên được. Ta lấy tình Thầy trò xuống đây giải hòa, Đạo nào lo Đạo nấy.

Đức Hồng-Quân Lão-Tổ dắt Thông-Thiên đến lư bồng. Na-Tra đứng ngoài đang bàn luận với các vị Tiên gia, chợt thấy Thông-Thiên với một Ông Lão chống gậy cùng đi tới, hào quang chói mắt vội chạy vào nói lớn:

“Có Thông-Thiên và một Ông Lão đến đây”.

Thái-Thượng và Ngươn-Thủy biết Sư phụ mình đến, liền xuống lư bồng, quì mọp nghinh tiếp. Các đệ tử Tiên gia thấy vậy thất kinh, ai nấy đều quì xuống thành một hàng dài sau lưng hai vị Tôn sư của mình. Thái-Thượng và Ngươn-Thủy đồng thưa rằng:

“Chúng con không hay Sư phụ đến nên nghinh tiếp trễ, cúi xin Sư phụ từ bi hỷ xả”.

Đức Hồng-Quân Lão-Tổ nói :

“Bởi các ngươi dạy đệ tử không nghiêm, nên sinh ra sát kiếp. Xiển giáo và Triệt giáo tranh nhau. Nay Ta xuống đây để giải quyết cho đặng thuận hòa. Tai Ta không muốn nghe cãi lý, mắt Ta không muốn thấy tranh nhau. Hai bên đều có lỗi, từ nay phải ăn năn chừa lỗi”.

Nói rồi bảo ba đệ tử quì xuống trước mặt, Đức Hồng-Quân Lão-Tổ phán :

“Bởi khí số nhà Thương đã dứt, nhà Châu ra đời, nên hội chư Tiên phải thuận theo luật Trời mà vạch Bảng Phong-Thần. Trên bước đường hành đạo, vì giáo lý của hai bên khiếm khuyết nên mới có cuộc xung đột tranh hơn thua, nhưng cũng do mệnh Trời đã định, gấp rút cho đủ số Phong Thần. Song về lỗi lầm thì Ta xét Thông-Thiên lỗi nhiều hơn, không phải ta thiên vị. Tuy vậy ta đến đây không phải để luận phân phải quấy, mà chỉ muốn giảng hòa, vì xét phải quấy cái đã qua không ích gì, chỉ có thuận hòa mới quí. Mỗi bên nhịn nhau một ít, bỏ những khí tánh tư kỷ của mình, trở về núi tu hành, đừng sanh sự lôi thôi nữa”.

Ba đệ tử (Thái-Thượng, Ngươn-Thủy, Thông-Thiên) cúi đầu vâng lịnh. Đức Hồng-Quân Lão-Tổ lấy bầu thuốc linh đơn, trút ra lấy ba viên chia cho ba đệ tử và nói:

“Chúng bây mỗi đứa uống một viên, rồi Ta nói cho nghe”.

Ba đệ tử đồng nuốt mỗi người một viên. Đức Hồng-Quân Lão-Tổ nói tiếp : “Thuốc này không phải là thuốc bổ, mà là thuốc bịnh, bịnh ấy là bịnh nóng giận”. Hãy nghe bài kệ này :

“Bởi vì ba gã khiến đua tranh,
Lỗi đạo làm em, lỗi phận anh,
Từ ấy mà lòng còn cự địch;
Thuốc linh khắc phạt, mạng tan tành”.
Ba vị đại đệ tử đồng tạ ơn Thầy. Đức Hồng-Quân Lão-Tổ dẫn Thông-Thiên Giáo Chủ về cung Tử-Tiêu, từ đó không cho Thông-Thiên dạy học trò nữa.

Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau trở lại vấn đề đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ có sứ nhiệm với Mối Đạo Trời như thế nào ?

Như phần trên đã nêu, đức Hồng-Quân Lão-Tổ có trước khi khai Thiên lập Địa, vào thời đại Thượng cổ hay Nhất Kỳ Phổ-Độ Ngài đã xuống trần khai sáng Tiên-giáo, được chứng minh qua câu (a) = Từ đời Bàn-Cổ ẩn trong rừng, và là một vị Đại-Tôn-Sư đã dạy Đạo cho Tam-giáo (Xiển giáo, Triệt giáo và Chơn giáo) là ba vị : Thái-Thượng Lão-Quân, Ngươn-Thủy Thiên-Tôn, Thông-Thiên Giáo Chủ) thể hiện qua câu : (b) = Dạy được ba trò dạ rất ưng.

Theo lời truyền khẩu của đức LINH-CHÂU-TỬ (thế danh Trần-Công-Sanh, tức Na-Tra thời Phong-Thần) lúc còn sanh tiền : “Đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ chuyên về việc dạy Đạo (Nội giáo tâm truyền Vô-vi Bí pháp); đức NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ Chưởng quản Quần Phật-Tiên-Thánh-Thần-Hội, tức cai trị và điều hành Vũ-Trụ gồm có : Tam thập lục Thiên, Thất thập nhị Địa, Tam thiên Đại Thiên thế giới, với Thiên đình và Thiên luật; còn đức DIÊU-TRÌ KIM-MẪU thường hằng khuyên nhủ, chia sẻ, an ủi, đùm bọc và chan rưới Tình mẫu tử Thiêng-liêng cho tất cả chư Phật-Tiên-Thánh-Thần và Vạn linh sanh chúng hầu không vi phạm luật Trời, để được quay trở về quê xưa vị cũ, hầu cạnh mẹ hiền, vui chốn non bồng nước nhược”.

Để kết luận bài viết (nói chuyện) này, chúng ta hãy cùng chứng minh việc đức Hồng-Quân Lão-Tổ chuyên trách về giáo dục và phê duyệt Pháp môn tu học của các đấng Tam-Giáo, Tam-Trấn và chư Phật-Thánh-Tiên, chúng ta hãy xem một số Kinh điển được ấn chứng như: Đại-Thừa Chơn Giáo, Huyền-Pháp Bảo-Ngươn Kinh, Tam-Hoàng-Thiên Kinh, Ngọc-Kinh Huỳnh-Đạo, Tối Thượng Châu Quang, v.v …

Và sau mỗi buổi đọc kinh cúng Tứ thời hàng tháng, vào ngày Sóc Vọng hoặc vào những ngày lễ, mọi tín hữu đạo Cao-Đài chúng ta đều được nghe (hoặc) đọc Sớ văn dâng lên Chí-Tôn * Phật-Mẫu cùng chư Thiên, trong đó có câu niệm:

- NAM MÔ HUYỀN-KHUNG-CAO THƯỢNG-ĐẾ NGỌC-HOÀNG TỨ PHƯỚC HỰU TỘI ĐẠI-THIÊN-TÔN.

- NAM MÔ DIÊU-TRÌ KIM-MẪU VÔ-CỰC ĐẠI-TỪ-TÔN.

- NAMMÔ HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ CHƯỞNG GIÁO TAM NGƯƠN ĐẠI-TÔN-SƯ.

Rồi mới niệm tiếp TAM-GIÁO, TAM-TRẤN và các đấng THIÊNG-LIÊNG đã chứng minh rằng : “Đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ là một trong ba ngôi Thượng-Đế sáng lập Càn-Khôn Vũ-trụ, và Ngài luôn là vị chuyên trách về giáo dục (Chưởng giáo), là một Ông Thầy Lớn của Ngũ-Chi đẳng cấp Thiêng-Liêng (Phật-Tiên-Thánh-Thần-Nhân) và cả Vạn linh sanh chúng đều luôn tôn kính (vị Đại-Tôn-Sư), và đặc biệt là ngươn hội nào (thời : Nhất, Nhị-Kỳ) Ngài đều giáng trần để dạy Đạo cho các Đại-Đệ-Tử (Thái-Thượng, Ngươn-Thủy, Thông-Thiên) từ thời Bàn-Cổ và Phong-Thần) và đến Tam-Kỳ Phổ-Độ (đủ cả Tam Ngươn) là thời kỳ Hạ ngươn mạt pháp hay lần ba đại-ân-xá, vì thương Vạn linh sanh chúng nên Ngài dùng Siêu-điển-quang đêm hôm giáng trần để giảng dạy Bí-Pháp Tam-Thiên cho hàng Nguyên-căn Linh-vị trong VÔ-VI ĐẠI-ĐẠO tức THIÊN KHAI HUỲNH-ĐẠO, và chấp thuận cho đức NGÔ-MINH-CHIÊU (PHÁP-BỬU ĐẠI-TIÊN) bổ sung vào Bí-pháp Tam-Thanh những điều mà khi sanh tiền đức Ngô chưa kịp giảng dạy. Nghĩa là đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ đã cho mở rộng và tuyển độ những nguyên nhân có sứ mạng tối trọng với ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ, để dọn mình trong sạch trở thành người dân mới có đầy đủ trí thông minh và lòng đạo đức (Minh-Đức Tân-Dân), bên cạnh việc luyện pháp cao nhiên để đón mừng thời kỳ Thượng-Ngươn Thánh-Đức, tức là thời thái bình an cư lạc nghiệp, đại đồng thế giới trên khắp cả Năm châu Bốn bễ, trong đó về hữu hình sắc tướng cùng nhìn nhận CHA TRỜI là Cha chung của nhân loại toàn cầu, chính là đức CHÍ-TÔN THƯỢNG-ĐẾ vậy”./.

Kính bạch đức Đại-Tôn-Sư,

Đệ tử phàm phu tục tử, nhưng với tâm thành con xin cảm ơn đức CHÍ-TÔN * PHẬT-MẪU và các đấng Thiêng-Liêng đã ban bố cho con có đầy đủ sức khỏe để viết xong đề tài về đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ, và kính mong các vị Trưởng bối cao niên, các bậc Thiện trí thức dành chút thời gian chấm bài, và xin quý Huynh-Tỷ-Đệ-Muội cùng chư Đạo tâm thương tình hướng dẫn cho ngu đệ trên bước đường tu học và hành đạo.

Kính cẩn,

Nhân kỷ niệm ngày vía đức HỒNG-QUÂN LÃO-TỔ

Mùng 7 tháng 7 Quý-Mùi, nhằm ngày 4 tháng 8-2003

NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ





Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2023

HỒNG QUÂN LÃO TỔ


Đức Hồng Quân Lão Tổ – Thái Thượng Lão Quân

* Nguồn gốc

– Khởi nguyên vũ trụ từ Khí Hư Vô phát xuất một khối ánh sáng vĩ đại mang năng lượng vô cùng vô tận gọi là Đại Linh Quang hay Thái Cực Quang hay tạm gọi là Cội Đạo. Lúc bấy giờ, khối ánh sáng ấy phân tánh hóa sinh, biến hiện nên thân ảnh ba vị tận thiện tận mỹ đầu tiên là Đức Hồng Quân Lão Tổ, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Dao Trì Kim Mẫu.

– Đức Hồng Quân Lão Tổ xuất hiện chính là việc Đạo quang đại phát, chiếu diệu mạnh mẽ, lưu truyền từ cội Đạo vi diệu đến những nơi vô minh tối tăm, chưa có ánh sáng trong vũ trụ bao la vô cùng tận.

…………….
* Các tôn danh của Ngài– Đức Hồng Quân Lão Tổ Cửu Thiên Cảm Ứng Từ Tôn.

– Đức Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
– Đức Thái Thượng Nguyên Thủy Tam Bảo Hư Hoàng Đạo Quân.
– Đức Thái Thượng Đại Đạo Tam Bảo Hư Hoàng Đạo Quân.
– Đức Thái Thượng Đạo Quân.
– Đức Thái Thượng Lão Quân.
– Đức Hồng Quân Từ Tôn.
– Đức Hồng Quân Lão Tổ.
– Đức Hư Hoàng Đạo Quân.
– Đức Hư Hoàng Đạo Nhân.
– Đức Thái Cực Chân Nhân.
– Đức Hoàng Cực Lão Nhân.
– Đức Hoàng Cực Chân Nhân.
– Đức Lão Tổ.
– Đức Từ Tôn.

…………..
* Hình dáng tôn nghiêm và các tính chất đặc trưng của Ngài

– Đức Lão Tổ thường thị hiện thân ảnh lão nhân râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào tươi sáng, ánh mắt từ bi hiền hòa, luôn nhẹ nhàng mỉm cười với muôn sinh.

– Toàn thân Ngài khoác Đạo bào bạch y tỏa ánh bạch quang tinh khôi thuần khiết. Vầng minh khí ấy vừa dịu mát thân thiện lại làm ấm áp lòng người với những ai hữu duyên được biết đến Ngài, được nhìn thấy ánh sáng từ bi ấy. Ở giữa vầng hào quang ấy luôn biến hiện muôn đóa hoa sen ngũ sắc chớm nở từ hư vô, nhanh chóng đại phát mãn khai, rồi lại tiêu biến trong vầng sáng ấy để những nụ hoa mới lại xuất hiện, sinh động vô cùng.

– Ngài thường mang theo bên mình một chiếc gậy gỗ mộc mạc đơn sơ và một bầu hồ lô chứa linh đơn bên trong.




– Đức Lão Tổ khi xuất hiện trong vũ trụ truyền Đạo, để thuận duyên hóa độ muôn sinh khắp Tam Giới nên tự mình phân tánh hóa sinh, biến hiện nên Tam Thanh. Ba vị Tam Thanh này gọi bổn tôn của mình là Tôn Sư.— Đức Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn
— Đức Thượng Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn
— Đức Ngọc Thanh Linh Bảo Thiên Tôn
* Đức Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn

– Ngài được biết đến với tôn danh là Đức Lão Tử khi có một kiếp giáng trần nơi cõi Hạ Giới này để truyền Đạo Đức Kinh.

– Đạo Đức Kinh dạy người tu tâm dưỡng tánh, sống hòa mình vào thiên nhiên, hòa mình với Đạo tự nhiên của Thiên Địa.

– Toàn thân Ngài tỏa ánh Đạo quang là màu vàng rực rỡ. Kim quang ấy là biểu hiện của các yếu tố— Tinh trong Tam Bảo của Thiên.Tinh tú soi sáng khắp cả vũ trụ.
— Phong trong Tam Bảo của Địa.Gió hay không khí chính là nguồn sống của muôn loài, nếu không có không khí thì sự sống không tồn tại được vậy.
— Thần trong Tam Bảo của Nhân.Thần này là linh hồn, lương tâm, là đức từ bi yêu thương, hòa nhã và trường tồn vĩnh cửu.
— Phật trong Tam Bảo của Đạo Pháp.Phật là sự giác ngộ viên mãn, đoạn trừ mọi phiền não, dứt sạch vô minh, tự tại vô nhiễm.

…………..
* Đức Thượng Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn

– Ngài được biết đến là Giáo Chủ của Xiển Giáo từ thuở hỗn độn sơ khai.

– Xiển Giáo truyền bá cho loài người phương thức tu tâm dưỡng tánh, rèn luyện thân thể dưỡng sinh hòa vào thiên nhiên, trở thành Thần Tiên, Tiên Nhân thoát tục, cứu khổ muôn sinh.

– Toàn thân Ngài tỏa ánh Đạo quang màu xanh da trời dịu mát. Thanh quang ấy là biểu hiện tượng trưng cho các yếu tố— Nhật trong tam Bảo của Thiên.Là mặt trời rạng rỡ ấm áp giúp muôn loài sinh trưởng.
— Thủy trong Tam Bảo của Địa.Là nước nguồn tươi mát giúp nuôi dưỡng, duy trì sự sống
— Khí trong Tam Bảo của Nhân.Là trí tuệ minh triết, tư niệm, lòng vị tha, tính cần mẫn và an lạc hỉ xả. Khí cũng là năng lượng gìn giữ thân mạng của chúng sinh hữu hình.
— Pháp trong Tam Bảo của Đạo Pháp.Pháp này là sự vận hành của lý sự trong Tam Giới, giới luật, phương pháp tu luyện để một cá thể trở nên hoàn thiện mình, Chân Thiện Mỹ.

……………
* Đức Ngọc Thanh Linh Bảo Thiên Tôn

– Ngài được biết đến với tôn danh là Thông Thiên Giáo Chủ của Triệt Giáo từ thuở hỗn độn sơ khai.

– Triệt Giáo truyền bá phương thức tu luyện thân tâm, hấp thụ tinh hoa Thiên Địa cho muôn loài bao gồm cỏ cây, sắt đá, cầm thú và con người. Hành giả đạt được trường sinh, hiển hóa thần thông trở thành Thần Tiên cứu độ muôn sinh.

– Toàn thân Ngài tỏa ánh Đạo quang màu đỏ hồng rực rỡ. Xích quang ấy tượng trưng cho các yếu tố— Nguyệt trong Tam Bảo của Thiên.Là mặt trăng tĩnh lặng, phản chiếu ánh sáng từ mặt trời và muôn sao lấp lánh soi sáng giữa màn đêm vô tận.
— Hỏa trong Tam Bảo của Địa.Là lửa ấm áp, hơi nóng sưởi ấm cho muôn loài, giúp thanh tẩy ám khí, tà khí, khử trược.
— Tinh trong Tam Bảo của Nhân.Tinh này là phần thân xác hữu hình hữu hoại, được nuôi dưỡng bằng vật thực với tình thương. Người nhờ có thân làm phương tiện để thực hành Pháp tu tập trở nên trọn lành, trợ duyên cho muôn sinh được thuận lợi.
— Tăng trong Tam Bảo của Đạo Pháp.Tăng là cá thể thực hành Pháp với lòng dũng cảm, sự nghiêm minh gìn giữ giới luật để đạt sự giác ngộ dứt tuyệt vô minh, đoạn trừ phiền não, vô nhiễm. Tăng này hiểu rõ ràng đầy đủ chính là mọi sự tồn tại có ý hướng tu tập để dứt sạch phiền não, vô minh chứ không chỉ riêng hành giả là con người.

Đối với Tam Thể Xác Thân của Người thì ba vị ấy tượng trưng:* Đức Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn – Tượng trưng cho Thần – tức linh hồn trọn lành, Tánh thiên lương, do ánh sáng Thái Cực chiết linh ra, Tâm
* Đức Thượng Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn – Tượng trưng cho Khí – tức trí não tinh thần, trí tuệ, lý trí, do 2 khí Âm Dương trong Thiên Địa hợp thành, Tư Niệm.
* Đức Ngọc Thanh Linh Bảo Thiên Tôn – Tượng trưng cho Tinh – tức thân xác tứ đại, ngũ khí và ngũ hành hợp thành, Cảm Xúc Giác Quan.



Nhiều nơi ghi chú Đức Ngọc Thanh là Nguyên Thủy Thiên Tôn và Đức Thượng Thanh là Linh Bảo Thiên Tôn.
Thực ra 3 chữ Thái-Thượng-Ngọc đã có thể diễn giải được danh từ tôn danh chư vị đi chung.Thái: rất to lớn vĩ đại, chỉ ngôi Thái Cực, Hồn, tâm con người.
Thượng: là bay lên, hướng lên của Khí, ý chỉ sự tinh tấn, học hỏi của Trí. Và Khí năng lượng thì hiển nhiên có trước khi xuất hiện vật chất hữu hình.
Ngọc: quý báu, trân quý, ý chỉ sự sâu lắng, lắng đọng của Khí hiện nên Hình, vật chất hữu hình. Thân người là châu ngọc quý báu vì nhờ có nó mà chúng ta mới có cơ hội học hỏi, trải nghiệm và tinh tấn qua tương tác cụ thể với các lý sự vận hành trong Thiên Địa, nên Ngọc chỉ về Thân..

…………..

* Vạn Giáo Đồng Nguyên

Khắp các cõi giới trong Tam Giới có môn nhân của Xiển Giáo và Triệt Giáo hàng hà sa số. Hành giả, tín giả ngưỡng vọng tâm đức, học hỏi noi theo thiện hành của bậc tôn sư cao trọng đáng kính là ba vị Tam Thanh.

Ba vị Tam Thanh lại có các đại đệ tử ưu tú, là bậc Thượng Tiên, Thiên Tiên đạt thành chánh quả viên mãn cũng không ít, các vị ấy lại mở nên các giáo phái, pháp môn tu tập với phương thức và thiện hành theo con đường thệ nguyện của họ.

Thế nên mới nói, chúng sinh tuy có nhiều tín ngưỡng tôn giáo, pháp môn tu tập nhưng rốt cuộc chung quy lại vẫn là người một nhà, được học Đạo từ Đức Lão Tổ Từ Tôn với một phương thức cốt lõi là tu tâm dưỡng tánh, sống hòa đồng nhân ái với muôn vạn loại sinh linh trong khắp Tam Giới.

……………
* Đức Hồng Quân Lão Tổ, vị thầy từ ái nơi Cửu Thiên

Cửu Thiên Môn là một dòng pháp tu luyện xuất hiện từ khởi nguyên Tam Giới, được Đức Lão Tổ truyền Đạo thiết lập cho muôn vạn loại sinh linh khắp Tam Giới tu tâm dưỡng tánh để về với cội Đạo, nguồn gốc phát sinh nên Tam Giới.

Cửu Thiên Môn lấy sự vận hành của Bát Quái Cửu Cung tương quan với nhau hóa sinh nên vạn loại làm nền tảng thiết lập Cửu Thiên Cung.

Cửu Thiên Cung tọa lạc ở Phi Tưởng Diệu Thiên, liên kết cảm ứng với các Cung, các Động và cõi giới khác chặt chẽ để trợ duyên, độ dẫn muôn sinh linh hữu tình hữu duyên tu tâm dưỡng tánh hồi hướng về cội Đạo.

Chư tín giả, hành giả của Cửu Thiên Môn đều lấy tôn chỉ hòa đồng nhân ái, phụng sự muôn sinh linh làm đề mục trong quá trình tu tâm dưỡng tánh trở nên Chân Thiện Mỹ.

………….
* Câu tâm chú của Đức Lão Tổ


Nam mô Hồng Quân Lão Tổ Cửu Thiên Cảm Ứng Từ Tôn.

Người tín giả, hành giả nào hữu duyên, có tín tâm với việc tu tập khi trì niệm câu này đều sẽ có thể mở lòng mình tăng thêm hòa ái, từ bi, trí tuệ để đối nhân xử thế sao cho hợp lẽ Đạo.

………………….
* Đức Lão Tổ Tán Ca – Cửu Thiên Tâm Kinh

Cao thượng Cửu Trùng Thiên
Bồ đoàn liễu Đạo chân
Thiên Địa huyền hoàng ngoại
Lão đương chưởng giáo tôn
Hư Vô sinh Thái Cực
Lưỡng Nghi Tứ Tượng tuần
Nhất Đạo truyền Tam Hữu
Nhị Giáo Xiển Triệt Phân
Huyền môn đô lãnh tụ
Nhất Khí hóa Hồng Quân.

………………….
* Kinh văn do Đức Lão Tổ truyền dạy:

Hào quang chiếu chín từng mây bạc
Thần, Thánh, Tiên thừa hạc cỡi rồng
Phép linh thiệt rất chí công
Hóa sanh muôn vật, ngưỡng trông phước Trời.

Trên Điện Ngọc Vua Trời ngự giáng
Trước Đền Vàng phán đoán phân minh
Cõi trần, Trung Giới thinh thinh
Phàm gian lao khổ đao binh tai nạn.

Lòng Trời cảm cứu an lê thứ
Độ chúng sanh muôn xứ gội ân
Đạo Nho truyền dạy Nghĩa Nhân
Văn Tuyên Khổng Thánh khuyến dân răn đời.

Ghi các sách ngàn lời để lại
Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra
Tây Phương cõi Phật chói lòa
Từ bi Phật Tổ hải hà độ dân.

Lòng cảm xót dương trần lận đận
Ra oai linh tiếp dẫn nhân cầm
Phổ Đà có Phật Quan Âm
Ra công cứu thế, ân thâm đức dày.

Nhiều kiếp đã đầu thai biết mấy
Xuống hồng trần khuyến dạy thương sanh
Lão Quân ứng hóa Tam Thanh
Khuyến răn nhân vật lòng lành chớ xao.

Cơ huyền diệu Đạo Cao minh chánh
Hiển phép mầu ma lánh quỷ kiêng
Trừ yêu có Thánh, Thần, Tiên
Độ duyên sanh chúng về miền Tây Phương.

Oai bốn hướng Thần nhường quỷ sợ
Đức ba giềng tế trợ thương sanh
Hán triều Quan Thánh bia danh
Trung can, nghĩa khí, hiếu sanh giúp đời.

Tuần ba cửa, cõi Trời đều dụng
Xét bốn phương, dân chúng dữ lành
Linh Tiêu Thái Bạch Trường Canh
Vận hành Thiên Luật, dữ lành nhân gian.

Chí từ huệ giúp an lê thứ
Thông rõ đời nhân sự kiết hung
Đại Tiên ở chốn Thiên Cung
Lòng lành thi phú thung dung độ đời.

Ánh xá lợi sáng ngời Cực Lạc
Hiển Kim Thân Bồ Tát hóa duyên
Thiên Cung: Tinh Tú, Thánh, Tiên
Địa Kỳ: Thần Tướng đàn tiền giáng lâm.

Lòng sở vọng lâm râm tụng niệm
Xin giải nạn Nam Thiệm Bộ Châu
Chúng sanh cảm đức cao sâu
Rèn lòng, sửa nết, lo âu làm lành.

Nam mô Hồng Quân Lão Tổ Cửu Thiên Cảm Ứng Từ Tôn (Mật niệm 12 lần).
Nguồn gốc

Phật Tiên Thánh Thần Tán Ca do Đức Thái Thượng Lão Quân giáng cơ vào đầu năm Ất Sửu, 1925, tại đàn cơ Minh Lý Đạo (Tam Tông Miếu). Sau đó Đức Nhiên Đăng Cổ Phật tiếp ban cho tám câu cuối của bài kinh. Như vậy, bốn mươi câu đầu do Đức Thái Thượng giáng cơ, tám câu cuối cùng do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật tiếp ban cho trọn bài. Khi xưa bên Tam Tông Miếu gọi là bài Xưng Tụng Công Đức.

Đến khi mới khai sáng nền Cao Đài Đại Đạo, Đức Chí Tôn dạy Hội Thánh cử một phái đoàn gồm bốn người:

Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Giáo Sư phái Thượng Vương Quang Kỳ, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư đến chi Minh Lý để thỉnh sáu bài kinh, trong đó có bài kinh này về làm kinh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Sáu bài kinh đó là:– Niệm Hương.
– Khai Kinh.
– Kinh Sám Hối.
– Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối.
– Kinh Cầu Siêu.
– Phật Tiên Thánh Thần Tán Ca.

Ý nghĩa như tựa bài kinh, mục đích để chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ tụng niệm hầu xưng tụng công đức Chí Tôn và các Đấng Phật Tiên Thánh Thần.Chỉnh biên: Tuyết Liên Tử
Sưu tầm phần nguồn gốc: Thiên Vân – Hiền tài Quách Văn Hòa

Ngoài ra, Bản Cảm Ứng Thiên do Đức Thái Cực Chân Nhân truyền dạy, hay còn gọi là Kinh Nhân Quả cũng được nhiều nơi trì tụng thường xuyên.

……………………………………….

* Đôi điều nhầm lẫn

– Truyền thuyết và tài liệu thường nhầm lẫn Đức Hồng Quân Lão Tổ và Đức Lão Tử là một vị. Do hình ảnh và tôn danh của cả hai vị đều thị hiện là Lão Nhân râu tóc bạc phơ, mang bên mình gậy và hồ lô, khoác đạo bào trắng, là vị truyền Đạo với Pháp khuyên muôn sinh hòa thuận giữa đời, với Thiên Địa. Một vị được gọi là Đức Lão Tử, một vị được gọi là Đức Lão Tổ, thế nên chúng sinh rất dễ nhầm lẫn. Mối quan hệ của hai vị vừa là chiết linh hóa thân, lại mang danh sư đồ.

– Nhân gian thường chỉ biết Đức Lão Tổ có ba vị đệ tử duy nhất là Đức Lão Tử, Đức Nguyên Thủy và Đức Thông Thiên. Hành giả Đạo Gia đều gọi ba vị ấy là tôn sư, lão sư và gọi đức Lão Tổ là tổ sư.
* Ngày lễ vía kỷ niệm Đức Từ Tôn

Ngày mùng 9 tháng 9 Nguyệt Lịch được chọn làm ngày vía kỷ niệm sự truyền bá Đạo Pháp của Đức Từ Tôn trong Tam Giới.