Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Huyền bí tạo lập vũ trụ

Tóm tắt Thiên Cơ huyền bí theo Giáo Lý các Tôn Giáo
(Hà Phước Thảo)







Thiên cơ huyền bí Tạo lập Vũ Trụ là những nguyên lý đầu tiên trong Trời Đất và con người bình thường bị giới hạn trong việc giải thích rõ ràng nên cũng là đề tài cho triết lý của nhân loại để đưa những ý niệm mơ hồ bị sự bất khả tri che lấp mất những ý niệm về Huyền môn học và người ta cứ hỏi ai sanh những ngươì đời trước, ai sanh ra ông Phật? Ai sanh ra Chúa Giê-su? Ai sanh ra Đức Chúa Trời? Ngoài bầu Trời va cứ đi ma mãi còn gì nữa? Khi Đức Thượng Đé nói rằng khí Hư Vô sanh ra Ngài , vậy ai sanh ra khí Hư Vô? vân vân và vân vân ...
Triết lý các Tôn Giáo giải thích những câu hỏi trên, nhưng không làm thoả mãn các nhà khoa học vô thần. Chúng ta thử rút từ giáo lý các Tôn Giáo để so sánh và phân tích, hầu đua ra một câu giải đáp hợp lý chung cho tất cả mọi người ở mọi Tôn giáo, nhất là trong giai đoạn hiện tại sắp qua kỷ nguyên thứ 21, một thời điểm mà các dân tộc đều mang một hy vọng hay một chờ đợi một sự kinh khủng nào đó sẽ xảy ra như Kinh Thánh và Sấm Giảng có nói đến.

Đạo phật

Đức Phật Thích Ca dạy : Vũ Trụ từ không mà có, từ có rồi không. Chu kỳ Thành, Trụ, Hoại, Diệt liên tục giáp mối nhau nên hằng hữu (sắc tức thị không, không tức thị sắc, Pháp giới duyên khởi).

Đạo lão

Đức Lão Tử dạy : Trong Vũ Trụ có sẵn Khí Hư Vô và nguyên lý Âm Dương. Lý và Khí là huyền năng vô biên, không có danh từ nào để gọi, nên Đức Lão Tử mượn tạm chữ Đạo (TAO) mà gọi. Chữ Đạo gồm hai nét Âm, Dương, ranh Thiên và Địa, Nguyệt hay Địa và Thủy. Đạo hay Hư Vô chi Khí. Luật Âm Dương tác động vào Khí Hư Vô nổ tung ra hay Thái Cực mà người ta gọi là Thái Cực Thánh Hoàng hay Thượng Đế, rồi Thái Cực phân TAO ra hai nguyên tố là Âm và Dương. Âm Dương phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng phân ra Bát Quái, Bát Quái phân ra 16 Quái, rồi 32, 64... và vạn vật.

Đạo thiên chúa

Đức Chúa Trời có ba Ngôi, Ngài dạy nhân loại về Vũ Trụ qua Sáng Thế Ký do Tiên Tri Mô-se viết: Ý Chúa nghĩ gì thì có nấy vì Ngài Toàn Năng Toàn Thiện. Ngài tạo lập Vũ Trụ trong 6 ngày. Khi xong, ngày thứ bảy là ngày để con cái Ngài tưởng đến Ngài. Bảy ngày là thời gian để tính tuần lễ, theo Huyền môn học là thời gian tạo lập 7 cõi trong Càn Khôn Thế Giới. Ngài hà hơi vào mũi thì đứa con đầu tiên của Ngài là Adam mang xác thân vật chất hay Tứ Đại gồm Đất, Nước, Gió, Lửa có sự sống : Atem hay hơi thở của Thiên Chúa là Khí Hư Vô theo Đức Lão Tử. Khí Hư hay Vô Cực sanh ra Thái Cực. Vô Cực tượng trưng là vòng tròn hay Đức Mẹ Diêu Trì. Adam tượng trưng cho Dương. Có Dương mà không có Âm thì không sanh hoá được. Eva là Âm. Dương và Âm tương hợp sanh ra mãi mà sanh con đẻ cái cho đầy quả đất nầy mà phục vụ Đức Chúa Trời. Tuy Đức Mô-se diễn tả bằng huyền thoại, nhưng cùng ý nghĩa như Đức Lão Tử dạy.

Đạo khổng và kinh dịch cuả chư tam hoàng ngũ đế

Đức Khổng Tử soạn và giải thích Quyển Kinh Dịch do Vua Phục Hi và Vua Văn Vương tìm thấy trên lưng hai con vật linh. Chư vị nào vẽ Bát Quái Đồ (Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái) không ai biết được. Nhưng khi diễn dịch ra thì Bát Quái Đồ là bản đồ Tạo lập Càn Khôn Thế giới và cả huyền cơ trong sự sống ở mọi ngành: Vũ Trụ học, Vũ Trụ tuyến và ảnh hưởng sự sống qua cái nghiệp (Karma) của cá nhân mà tính ra vận mạng (Horoskop), biến dịch về chính trị (Cửu trù).... và các biến dịch khác như bói toán, bấn độn, phép tính để biết trước thời gian ngắn suy kết quả chắc chắn như Phép Độn Khổng Minh Thần Toán, áp dụng vào y khoa như suy đoán bịnh, tìm bịnh, phòng ngừa, trị liệu, về quân sự như hành quân biết trưpc thắng hay bại mà tiến hay thối, biết chỗ đóng quân an toàn, các thế trận, về đạo đức, giáo dục, gia đình, xã hội, gaio tế, bang giao quốc tế, thương mãi, vật lý, địa chất, võ thuật vv.

Đức Khổng Tử học về khoa học từ đứa bé Hạng Thác qua những câu hỏi hóc búa (Thiên văn học , quang hoc: mặt trời to, nhỏ tùy buổi sáng hay trưa..khi hạng Thác hỏi Ngài tại sao mặt trời biổi sáng to mà trưa lại nhỏ. sau nầy khoa học mới thí nghiệm trong quang học để chứng minh)

Ấn Độ Giáo
Theo Kinh Vệ Đà và Ba-da-ga-vi-ta thì Đấng Sáng Tạo có ba ngôi là Bhrama, Shiva và Vishnou giống như giáo lý Thiên Chúa Giáo đã diễn tả . Đấng Bhrama hay Ngôi Thứ Nhứt Thượng Đế là Tình Bác Ái, Sanh hoá, giáo dục, Ngôi Thứ hai Tiếp tục biến hóa sanh hoá và giáo dục, Ngôi thứ Ba vận chuyển hay phá hoại để hoàn tất chu kỳ sanh hoá, hiện hữu, và tiêu diệt để giáp mối chu kỳ tức là hằng hữu vì vô thỉ vô chung.

Các Tôn Giáo tuy khác biệt về phần ngoại dung, nhưng phần triết lý cốt tủy thì giống nhau, nên Vạn Giáo Nhất Lý và vào thời hiện đại bắt đầu vào năm 1926 Đức Thượng Đế không gởi Chơn Linh Ngài xuống thế mượn xác phàm làm chư Giáo Tổ như hai thời kỳ trước nữa mà chính Ngài dùng linh điển giáng cơ dạy Đạo và mượn chư Tiền Khai khai Đạo về phần hữu hình. Giáo lý của Đạo cao Đài là nền tảng của các ngành khoa học trong tương lai, nên liên hệ với các ngành Khoa học thuộc lãnh vực nguyên tử, điện tử, vi tính...

Đạo Cao Đài và sự liên hệ với thuyết nguyên tử trong việc giải thích cuộc Sáng Tạo trong Trời Đất

Theo triết lý Đạo Cao Đài thì đầu tiên trong Vũ Trụ chỉ có Khí Hư Vô. Không ai biết được Khí Hư Vô từ đâu mà có và chính Đúc Thượng Đế cũng nói rằng không có Khí Hư Vô thì không có Ngài và không có Ngài thì không có Phật, Tiên, Thánh, Thần và vạn vật trong Càn Khôn Thế Giới. Khí Hư Vô theo Đức Lão Tử là Khí có sẵn trong Trời Đất cùng với Lý là huyền năng vô biên nên không có danh từ nào để gọi cho đúng và Ngài tạm dùng chữ TAO (Đạo) để đặt tên. Theo Bà Blavatsky, nhà huyền môn người Nga và là Hội trưởng Hội Thông Thiên Học Thế Giới tại Adyar, Madras, Ấn Độ, gọi Khí Hư Vô là Nguyên tử đầu tiên trong Càn Khôn Thế Giới. 

Theo sự giải thích của chư Tam Hoàng Ngũ Đế, cuả Đức Lão Tử và Đức Khổng Tử thì Khí Hư Vô tưọng trưng là vòng tròn, giống như tượng trưng của cái trứng, ở Tây phương gọi là cáo ao ( mare) nên sau có sự trùng hợp trong tên Maria, bên Đông Phương thì gọi là Đấng Vô Cực, trong Đạo Cao Đài gọi là Phật Mẫu hay Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu ( mare=ao ; Maria=Đức Mẹ Maria ; Trì = cái ao) hay Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn, dù chỉ là tượng trưng, nhưng có sự trùng hợp giữa Đông và Tây phương nên chứng minh được cái trứng phải có trưóc con gà, Đấng Vô Cực phải có trước và Ngôi Thái Cực hay Đức Thượng Đế từ Khí Hư Vô hay từ Vô Cực mà có. Tuy nói rằng trước và sau, nhưng giữa vòng tròn lại có một điểm ở giữa tức là Thái Cực. Thái Cực là Một, nhưng lại chia Vô Cực hay vòng tròn ra hai phần là Thái Dương và Thái Âm. Tất cả mọi vật trong Trời Đất đều từ Âm và Dương mà được sanh hóa ra. Nguyên tử thứ nhứt trong cõi Tiên Thiên nhẹ và thanh vô cùng, nhưng so với nguyên tử của nước (Hydro=H) thì có một hạt nhân ở giữa và một điện tử quay chung quanh. Muốn hoá sanh các nguyên tử khác thì phải có sự va chạm cũng như dây điện Dương mà không chạm với dây điện Âm thì không là xẹt lửa hay nổ hay chạm điện. Sự nổ đầu tiên trong Vũ Trụ là sự phân Thái Cực ra Thái Dương và Thái Âm. 
Theo khoa học, gọi vụ nổ đầu tiên trong Vũ Trụ như trái bôm nguyên tử nổ dây chuyền và Đấng Thái Cục từ vầng lửa vĩ đại xẹt ra, nhân loại gọi Ngài là Đấng Sáng Tạo hay Đức Chí Tôn hay Đức Thượng Đế. Ngài phân Ngài ra Lưỡng Nghi và từ Lưỡng Nghi sanh ra Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh ra Bát Quái, 16,32,64 ... Quái và vạn vật trong Càn Khôn Thế giới. 
Khí Hư Vô và Nguyên Lý trong Vũ Trụ biến hóa ra mãi thành ra Vũ Trụ hay Tiên Thiên do Khí hoá sanh. 
Khí Hư Vô màu Đen huyền hay Huyền Khí. 
Sau vụ nổ huyền khí phân tích ra thành nhiều nguyên tử khác và có ngũ khí với 5 màu : đen ở giữa. 
Khí nặngcủa Huyền Khí lắng xuống thành Thái Âm có màu đỏ hay là Lửa ở phương Nam hay Ngôi Khôn. 
Huyền Khí nhẹ hơn bay lên trên hoá thành Huỳnh Khí màu vàng hay Ngôi Càn là Nước. 
Tác dụng của Hồng Khí và huyền Khí bay qua hướng Tây hay Cung Đoài có màu Trắng là Kim khí. Tác dụng của Huỳnh Khí hay Thủy từ phương Bắc tức Ngôi Càn bay qua hướng Đông là Thanh Khí hay Mộc. Từ Thủy và Mộc và sanh hoá ra chúng sanh (Mộc Thủy khởi nguyên).

Sự biến hóa hay Dịch theo con số 1 là Dương và số 2 là Âm. 
Theo khoa Vi tính thì trong điện tử cũng có sự thông minh tương tự khi biến hóa mà nhà vi tính học có thể tạo ra vô số chương trình, từ đơn giản đến phức tạp và sau cùng người ta viết được chương trình cho Internet. 
Từ 5 màu chánh: đen, vàng, đỏ, trắng, xanh mà biến hóa ra 1.500.00 màu khác nhau trên màn ảnh Monitor. Vạn vật cũng vậy : một loại hoa hồng người ta có thể cho phấn hoa màu nầy với phấn hoa màu khác trộn lộn với nhau mà thành rất nhièu loại hồng khác nhau. Các loài vật cũng như thế.
Những gì biến dịch trong giai đoạn đầu tiên gọi là Tiên Thiên, được diễn tả vẽ ra trong Tiên Thiên Bát Quái: Các Tinh thể như Nhựt, Nguyệt, Tinh trong Càn Khôn Thế Giới. Những gì được Mộc và Thủy hoá sanh và có sự sống thuợc Hậu Thiên được diễn tả trong Hậu Thiên Bát Quái.
Các định luật phối hợp các nguyên tử của Ngũ Khí tạo thành 7 cõi nặng, nhẹ khác nhau : Cõi Tối Đại Niết Bàn hay cõi Thái Cực (cõi trên là nơi Đức Thượng Đế ngự), cõi Đại Niết Bàn, cõi Niết Bàn(hai cõi nằy là nơi chư Phật, Tiên ngự hay cõi Lưỡng Nghi ) , cõi Bồ Đề (là Tiên Thiên Di ảnh hay cuốn phim Vũ Trụ có tên A-ka-sha, chụp tự động tất cả việc làm, lời nói, hành động của con người và các loài khác theo luật công bằng của Vũ Trụ là Luật Nhân quả và Luân hồi mà vận chuyển linh hồn tiếp tục học hỏi và thăng hoa để phản bổn hoàn nguyên , nhưng nếu chư ah hoàn nguyên được thì tạm ở tại cõi mà theo Đức Cao Đài Thượng Đế gọi là cõi Tứ Tượng mà Ngài giáng cơ dạy trong Quyển Đại Thừa Chơn Giáo), cõi Thượng giới (là cõi chót khi linh hồn bình thường lên đó rồi trở xuống đầu thai lại. 

Cõi nầy là các hình tư tưởng hay siêu sắc giới), cõi Trung giới (là cõi của những người mới chết là cõi sắc giới: 
Tình cảm con người tạo ra các màu sắc khác nhau tương ứng vời 7 giọng trầm bổng của âm thanh hay 7 âm giai : sol, la si, do,re, mi,fa 
và tương ứng với 7 màu : đỏ,cam, vàng,lục,xanh,chàm,tím như ánh sáng chiếu qua lăng kính hay móng cầu trên Trời) 
và cõi phàm trần vật chất mà các lòai đang sống phải chịu định luật thành, trụ, hoại, diệt hay sanh, lão, bịnh,tử hay cây cối phải chịu ảnh hưởng do 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông và trong ngày có tứ thời Tí, Ngọ, Mẹ, Dậu là bốn giờ linh để người tu hành thiền định cho có kết quả theo chu kỳ biến dịch trong cơ thể.Đại Thiên Địa và Tiểu Thiên Địa biến dịch theo luật đồng thanh tương ứng đồng khí tưưng cầu hay luật Cảm Ứng.

Theo luỹ thừa 7 tạo mỗi cõi thành 7 cảnh nặng, nhẹ khác nhau. Thời gian từ vụ nổ Big Bang đến khi tạo xong một cõi và 7 cảnh theo Kinh Thánh là một ngày và khi xong 7 cõi với 7 cảnh là 7 ngày hay bảy thời kỳ. Ngày nay nhân loại dùng 7 thời kỳ mà gọi 7 ngày trong tuần. 

Tại Triều Tiên gọi 7 ngày trong tuần theo Âm Dương và ngũ Hành : Ngày thứ hai là Dương hay mặt Trời(Nhựt), ngày thứ ba là Âm hay mặt Trăng (Nguyệt). Ngày thứ tư là Thủy, ngày thứ năm là Hoả, ngày thứ sáu là Mộc (nước và hơi ấm là môi trường của sự sanh ra cỏ cây), ngày thứ bảy là Thổ(cây cháy thành than, đất), ngày thứ bảy là Kim (Thổ sanh Kim, trong đất có kim loại).

Sơ-đồ Tạo-lập Vũ-Trụ

do một hoặc hai vị Tiên đã vẽ trên lưng hai con vật linh là Rùa và Long Mã
đã được hai vị Vua Trung Hoa thời Thượng cổ là Vua Phục Hi và Văn Vương tìm ra. 

Đây là ý người Hán, sự thực KINH DỊCH là do nhị vị Quốc Tổ là Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ học trực tiếp với Đức Thượng Đế để tu luyện thành Tiên (Mẹ Âu Cơ lên núi) 50 người con, còn Lạc Long Quân tu Thánh Đạo phải xuống vùng đồng bằng lo cuộc sống của con cái ngài (50 người con)
Der Plan der Schöpfung im Universum, den von einem
unbekannten Unsterblichen im Altertum auf dem Rücken von den
zwei heilige Tiere gezeichnet und von der Königen Âu Cơ
in den Bergen als Unsterblicher, in den Delta von zwei Flüßen Hồng Hà+Thái Bình in Nordvietnam.

Đại Thiên Địa :

Sự giải thích của các khoa học gia về sự Sáng tạo Vũ Trụ trùng hợp với hai sơ đồ Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái của hai vị Vua Trung Hoa và lại còn trùng hợp với Thánh giáo của Ưức Thượng Ưế Cao Ưài đã giáng cơ trong các Ưàn Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi.


Lưỡng Nghi

Sự tác dụng của Ngũ Khí (ngũ sắc) trong giai đọan đầu tiên trong Nguyên lý hay Luật Âm Dương (Khí và Lý) để biến dịch nguyên tử thứ nhứt hay Hư Vô chi Khí hay TAO để tạo thành các nguyên tử khác:

Ngũ Khí :

                                 Huỳnh Khí hay Thủy


Bạch Khí hay KIM                                      
Thanh Khí hay Mộc
                                
                              Huyền Khí hay Hư Vô chi Khí      


                                   Hồng Khí hay Hỏa



Tiểu Thiên Địa :


Ngũ Hành và Ngũ Tạng :



                                  Phế (Kim)

Can (Mộc)                                                    Tâm (Hỏa)    
                                   Tỳ (Thổ) 
                       (Trung Cung, Trung Ương)

               
                                 Thận (Thủy)


Ngũ Châu trên Quả Cầu thứ 68 và 5 màu da của nhân loại :

Châu Âu (da trắng thuộc Kim, tiến hóa về cơ khí, lý trí, khoa học thực dụng)


Châu Á (da vàng thuộc Thổ, tiến hóa về tâm linh, đạo đức, tình cảm)


Châu Mỹ (da đỏ/Hỏa/thiên nhiên, trực giác) giai đoạn đầu chuyên về nông nghiệp, sau phối hợp về sau có di dân mà hợp chủng với Tây Kim thành Kỹ nghệ tiến hoá mọi ngành nhờ tổng hợp các màu


Úc Châu (dân địa phương thuộc Mộc, da nâu sậm hay Mộc màu như vỏ cây khô như chất xám, đa văn...


Châu Phi da đen, thuộc Thủy, sống trong thiên nhiên, nông nghiệp, nhưng nhiều lúc bị hạn hán và nhiều lúc những hồ tràn do nước mưa quá nhiều ngập lụt cả nước.



Sự trùng hợp về Bản đồ nước Việt Nam với Thái Cực Đồ :

Nước Việt Nam hình cong chữ S giống như đường chia ranh giới giữa Âm và Dương trong Thái Cực Đồ
Nếu lấy compas đặt tại miền Trung nước Việt quay tròn thì có hình giống như Thái Cực đồ bên cạnh
màu trắng hay Thái Dương hay đất liền. Màu đen hay biển hay Thái Âm. Đảo Hải Nam trong Vịnh Bắc Việt thuộc nước Trung Hoa là Thiếu Dương.
Biển hồ Ton-lé-sáp của Cao Miên là Thiếu Âm . Ưây là phát hiện của Ưạo Huynh Dũng, Chưởng giáo tại CMGT thuộc Quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long
được thâu trong Video "Phương pháp phát triển sức khoẻ và Tinh Thần" phổ biến trong chư hành giả hành thiền tại Việt nam.


Con người trong Trời Đất

Con người là loài tiến hóa nhất trong các loài ở cõi trần. Chúng sanh gồm có 8 loài hay có 8 loại hồn : Kim Thạch, Thảo mộc, Thú cầm, Con Người, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Bát hồn là chiết thân của Đấng Sáng Tạo hay Đức Thượng Đế hay Đức Chúa Trời hay Thiên Chúa hay Allah hay Gie-hô-va và hiện nay Ngài không mượn danh từ của loài người mà Ngài tạm mưọn Thánh tước của Tam Giáo là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
(công bình ) ( Bác ái ) (Từ Bi )
vì Ngài là Đấng Vô Hình.





Chúng sanh là Tiểu linh quang của Đức Thượng Đế (hay Đại Linh Quang) giống nhu vừng lửa to mồi ra những cây đuốc nhỏ. Nhũng cây đuốc nhỏ muốn cháy thành vừng lửa to như lúc ban đầu thì những ngọn đưốc phải được gom góp nhiều củi, cây khô, chất cháy... để đốt thêm cháy cho lớn ra. Đây là thí dụ cụ thể cho dễ hiểu là các Tiểu Linh Hồn chiết ra từ Đại Hồn của Đúc Thượng Đế giáng xuống trần gian vật chất nặng nề nầy để góp nhặt những bài học kinh nghiệm từ trược đến thanh, từ khổ đến sung sướng, từ vô minh tội lỗi hay từ nơi tối tăm đến nơi sáng suốt hay đến minh triết thiêng liêng.
Chúng sanh là loài Kim Thạch tiến hóa (nhờ lửa cháy trong lòng đất, nhờ luyện kim, pha kim loại, cây rừng chôn hằng triệu năm biến thành than đá hay kim cương), Kim thạch qua các Thiên tai, biến hoá tang thương mà thành đất thêm nước và hơi ấm mà biến hóa ra các loài rong, rêu,cỏ, cây nhỏ, cây to...Thảo mộc tiến hóa thành loài động vật: có những cây ăn thịt, có những cây biết cử động như cây mắc cở...Loài thú tiến hóa hằng triệu năm thành loài thú khôn hơn như con khỉ, con chó, con mèo.... sẽ thoát ra khỏi Hồn Khóm hay Hồn Nhóm Thú mà có cá tánh riêng để thành người dã man trong rừng sâu. Những người dã man thời Tiền sử học hỏi với thiên nhiên theo lịch trình từ thấp đến cao là Cách Vật Trí Tri ( môn Cách Trí hay Khoa Học Thường Thức ở bậc Tiểu Học). Nhờ khoa học mà con người tiến hóa nhanh hơn về Kỹ Thuật , ngôn ngữ, khoa học, Thần học, Tôn giáo học...và sau cùng, loài người sẽ biết về Huyền Bí Học (Ésotérique, Esoterik, esoterism) như hiện nay để biết tu thân, hành Đạo mà tiến hoá lên hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật trên con đường phản bổn hoàn nguyên hay từ cây đuốc nhỏ trở thành vừng lửa to hay vân tinh hay ngôi sao hay mặt Trời như thí dụ trên.
Con đường tiến hoá của linh hồn hay Tiểu Linh Quang theo những kiếp sống trên những quả cầu trong Càn Khôn Thế Giới mang những con số từ số 72 rồi lên quả cầu 71, 70, 69 ... và hiện nay chúng sanh đang sống trên quả cầu số 68 là Địa cầu nầy con người phải biết giác ngộ là biết mình từ đâu đến đây, sống ở cõi trần nầy để làm gì và khi chết rồi sẽ đi đâu? Biết được như thế thì con người mới biết làm lành, lánh dữ, tu sửa tánh tình cho hoàn hảo, vong kỷ, vị tha, bác ái... và học phương pháp phát triển tâm linh là tịnh tâm hướng nội, tập trung tư tưởng và thiền định, tập tánh không không...để nên người hiền đức hay Thần, Thánh, Tiên, Phật... (Đức Cao Đài có nói :


Đạo THẦY có một chữ Không,

Chữ Không làm được lục thông đắc thành.



Sự tiến hóa hay thăng hoa là phần thưởng vô giá, vì một người dân thường trên quả cầu số 67 mà sống sung sướng hơn cả bực đế vương ở quả cầu 68 như quả đất nầy.
Hiện nay quả cầu 68 nầy ở vào thòi kỳ ân xá thứ ba nên kỳ thi ân khoa nầy người tu không còn phải tiến hóa lên từ từ quá chậm chạp qua hằng triệu năm lên quả cầu 67, 66, 65.... rồi phải mất biết bao nhiêu triệu năm mới lên Đệ Nhất Cầu. Hết Đệ Nhất Càu còn phải lên Tam Thập Lục Thiên, rồi Tam Thiên Thế Giới, hết Tam Thiên Thế Giới còn phải lên Tứ Đại Bộ Châu, hết Tứ Đại Bộ Châu mới lên đến Bạch Ngọc Kinh hay Niết Bàn được.


Những Đại Căn từ cõi Niết bàn với tổng số 96 ức nguyên nhân (9.600.00 linh hồn) được Đức Chí Tôn Thượng Đế cho xuống thế mang sứ mạng giúp nhân loại trên con đưòng tiến hoá thuộc hàng Tiên, Phật hay chư Giáo Chủ hay chư Thánh sửa đổi vận mạng chính trị thế giới thí dụ như Gorbartchov chẳng hạn. 
Nhưng khi xuống trần bị tiền tài, danh vọng,sắc đẹp làm mê hoặc nên quên đường về. Nếu chư vị nầy biết thức tâm lo tu theo Thiên Tiên là lo luyện Đạo thì khi qui liễu sẽ trực tiếp về cõi Niết Bàn hay Bạch Ngọc Kinh chớ không phải qua đoạn đường quá dài nữa.

96 ức nguyên nhân xuống thế biết tu hành và trở về được 4 ức nguyên nhân, còn lại 92 ức nguyên nhân còn kẹt lại. 
Tam Kỳ Phổ Độ nầy là Kỳ Ân Xá Thứ Ba nên Thầy Thượng Đế mượn xác phàm của Đức Ngô Minh Chiêu tức Ngôi Hai Giáo Chủ ( Nhị Thiên Giáo Chủ) để chứng minh việc đắc quả Đại Tiên (Phật) tại tiền và truyền bửu pháp cho chư vị khác để ngài rút về 92 ức nguyên nhân nầy về cùng Ngài.

Mục đích của đời sống trên các quả cầu trong 72 quả cầu trong Càn Khôn Thế Giới

Cõi trần là một trường Thi Công Quả và là Trường Tiến Hóa. Vì là thuộc vật chất vật lý hữu hình nên linh hồn phải mang xác thân tứ đại và phải chịu ảnh hưởng của sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ và tử khổ. 
Các giác quan như những bộ máy huyền bí, tác dụng hổ tương giữa Tinh, Khí, Thần mà có sự sống giống như cái máy xe hơi khi đổ xăng (Tinh) nhờ dưỡng khí (bộ gió= l'air hay Luftfilter để hút dưỡng khí) và Thần là điện hay bougie nẹt lửa thì máy mới nổ xe mới chạy. 
Khi ngưng nổ thì máy tắt hay người chết. Khi sống thì mắt mới có thần lực tức mắt sáng rực lên hoặc Thần lực mạnh thì có hào quang tỏa ra trên đầu. Linh hồn nhờ xác thân làm phương tiện để tiếp xúc với ngoại vật, như cái áo mặc che thân, như cái nhà để con người hay linh hồn ở. 
Nhờ tai, mắt, mũi,thân và ý nên linh hồn mới biết nghe, thấy, hiểu,nhận và nhớ giống nhu cái Hard dish. Kinh nghiệm học hỏi ghi vào óc như ghi vào dĩa cứng đó là a-lại-da-thức. 
Tất cả những bài học ghi vào Datenbank làm bộ nhớ cho kiếp sau, nhưng có điều trở ngại là những cuốn băng Video của kiếp trước khi bỏ vào máy Video recorder hay thân xác đứa bé của kiếp sau không tương ứng nhau vì tần số khác nhau thí dụ như CTNT, PAL SECAM... nên những archiv không hiện ra hết được, đôi khi chỉ mọt phần thôi và trường hợp nầy gọi là Thần Đồng, tuy nhiên rất hiếm, cũng có một số ít người nhớ lại kiếp trước vì máy Video recorder (thân xác mới) hợp với tần số của băng Video (ba hột nguyên tử trường tồn của cái vía, cái trí và xác thân kiếp trước). Dù kiếp trước là bác sĩ y khoa. nhưng kiếp nầy muốn thành bác sĩ cũng phải học lại, tuy nhiên học nhanh hơn người kiếp trước chưa học. 
Đó là sự thông minh vậy.




Cẩm nang thơ của Đức Diêu Trì Kim Mẫu

CẨM NANG THƠ
CỦA ÐỨC DIÊU-TRÌ KIM-MẪU

(Mồng 5 Tháng 8 Năm 1988, Bần Sĩ Thiện Duyên) 





Cơ Thiên-Lý Ngọc-Hoàng định luật, 
Ðiển huyền-vi Vô-Cực chuyển khai,

Sắc ban Phật Mẫu tỏ bày,
Lịnh truyền nam nữ, gái trai hản tường. 4

Diêu Cung Ðiện là nguồn gốc cội, 

Trì Lục Kinh thoát khỏi sông mê,

Kim Ngôn tình MẸ chân khai,
Mẫu chờ con dại, tái-tê lòng già. 8

Ban ấn lịnh Kỳ Ba chuyến chót, 
Truyền Tâm Kinh cứu vớt tử-linh.

Khai truyền Thiên lộ lược-trình,
Thông tri Lý Ðạo rõ tình thâm-ân. 12

Linh chơn xưa tiền căn Mẫu tạo,
Tánh siêu-phàm thông Ðạo Thiên Tiên.

Gốc căn chiếu rọi diệu-huyền,
Cội nguồn ân-đức MẸ hiền rải ban. 16

Căn tánh Ðạo hoàn toàn thanh-khiết, 

Xưa Cung Vi chẳng biết mùi đời,

Linh hồn sáng rọi vị ngôi,
Căn tiền Bích-Ngọc là nơi Cửu-Trùng. 20

Khá tỉnh-ngộ, đại hùng minh-mẫn, 

Tri phụng hành bổn phận cho tròn,

Tiếp lời Mẫu dạy sắt son,
Lịnh Trời tuân mạng, bảo toàn nguyên nhân. 24

Thức tâm nội mê trần mộng-ảo, 

Tỉnh trí lo tầm Ðạo Vô-Vi,

Tu thân, dưỡng tánh kiên-trì,
Hành Cơ Thiên Luật, Mẫu thì ban ơn. 28 


Ðắc bửu-pháp tiền căn nên Thánh,
Thành thật tu mới rảnh nghiệp duyên,

Ðạo Chơn chẳng mến bạc tiền,
Quả lành gặt hái, qui-nguyên phản hồi. 32

Dự Kim-Khuyết Hội Trời Tam Giáo, 
Hội Tam Thanh điểm đạo linh căn, 

Long-Ðình Bửu-Ngọc Tứ Ân,
Hoa sen đua nở, mừng căn thiện lành. 36 

Kỳ tuyển lựa thực-hành mới quý,
Ba lần khai mở Hội Tam-Thiên,

Con ơi! nghe MẸ chỉ truyền,
Rán lo tu niệm, khỏi phiền về sau. 40

Lòng tự-đắc, tự-cao dẹp bỏ, 
Ðường công danh hiệp đó rồi tan,

Tồn chi mà vội mơ màng,
Cơ Trời báo ứng, hành tàng kiết hung. 44

Con của MẸ thủy chung Ðạo lý, 
Thì sau này cao quý chi bằng,

Ngọc ngà, châu báu hưởng thân,
Cũng không so sánh cho bằng Ðạo Tâm. 48

Cơ Bá Ðạo, dễ lầm tà mị,
Nếu không tri Ðạo Lý chánh-truyền.

Trau dồi tánh mạng căn-nguyên,
Vội nghe chẳng xét Ðạo truyền lầm mê. 52

Khó đạt Ðạo trở về với MẪU, 
Màn vô minh hữu-lậu phủ dầy,

Muôn màu sắc tướng nhiễm say,
Dựng hình Tiên Phật, đổi thay khó lường. 56

Cần thấu-triệt con đường Thiên-lý,
Chữ KHÔNG KHÔNG ngự trị tâm hồn,

Phép tài ảo-thuật bàng môn,
Thần thông biến-hóa mê hồn đắm say. 60

Nó cũng giỏi biện tài đạo lý, 
Nhưng sự hành ý-chí khác xa.

Con cần thấu-triệt chánh tà,
Trong thân ngũ tạng, ngũ ma lâu đời. 64

Muốn tu tỉnh, chịu nhồi, chịu khảo, 
Tư-tưởng lành, giữ Ðạo nhứt Tâm,

Rõ thông ma-nghiệp khỏi lầm,
Trong thân bửu-pháp kiếm tầm đâu xa. 68

Lìa SắcTướng, thân ta đừng nhiễm, 
Dù mọi điều thúc liễm muốn ăn,

Tạm dùng chẳng nghĩ xác trần,
Tùy duyên hóa độ, nuôi thân tu hành. 72

Nghĩ sự Ðạo đạt thành trước nhứt, 
Làm việc gì mẫu mực xét phân,

Chớ nên tin bướng làm càng,
Ðọa thân uổng kiếp, nghiệp mang linh hồn. 76

Tình Mẫu-Tử thương con MẸ dạy, 
Chớ MÊ, Hồn tiêu hoại mai sau,

Xử phân định luật Thiên-Tào,
Mẹ mong Nam Nữ bước vào đường TU. 80

Chớ để cho mây mù nghiệp chướng, 
Làm mê hồn mang vướng trả vay,

Luật hình thưởng phạt chẳng sai,
Ðau lòng tình MẸ, gái trai hản tường. 84

Con nào biết lo đường đạo-đức, 
Mẹ vui mừng túc-trực bên con.

Siêng năng lập đức bảo tồn,
Cứu nguy nhân-loại mê hồn trầm-luân. 88

Biết phận sự, con đừng than thở,
Ðạo muôn đời nhắc nhở danh thơm. 

Nhục vinh chẳng nghĩ mất còn,
Chỉ cần sứ-mạng lo tròn MẸ ban. 92 

Dầu Ðạo Pháp gian nan khổ cực,
Hay đắng cay nghiệp-lực khảo nhồi,

Một lời thệ nguyện con ơi,
Thần minh chứng-giám, Ðất Trời rõ thông. 96

Chớ chán nản, thay lòng đổi dạ,
Muốn đắc thành Ðạo quả, phải HÀNH,

Truân chuyên thử thách tồn sanh,
Là đường tiến-hóa, luật hành người tu. 100

Chớ nghĩ tới Giận, Thù, Oán ghét, 
Chí Ðại-Hùng, học phép Từ-Bi,

Ðức ân vạn sự khó bì,
Dầu cho lao khổ, sá gì bản thân. 104

Thương nhớ MẸ, phải cần lo Ðạo, 
Mới xứng danh con thảo Rồng Tiên,

Ðáp đền Thất Tổ, Cửu Huyền,
Sanh thành Phụ-Mẫu tại miền trần gian. 108

Dù khanh tướng giàu sang khó sánh, 
Phật Thánh Tiên dụng tánh thảo hiền,

Nghiệp đời dù lắm oan khiên,
Thành lòng tu niệm, MẸ hiền giải oan. 112

Cơ Tái-Tạo sảy sàng cận gấp, 
Chớ chần chờ để lấp tánh linh,

Trận đồ Bát Quái luật hình,
Ngũ Hành vận-chuyển, nhân-sinh điêu tàn. 116

Lòng MẸ đã rải ban chỉ dạy, 
Nếu con nào còn cãi Luật Trời,

Chẳng lo tu-niệm chiều mơi,
Thì đừng trách MẸ vậy thời chẳng thương. 120

Màn Ma Quỉ còn đương trà trộn, 
Phật Thánh Tiên lẫn lộn hồng-trần,

Ðể tùy duyên kiếp độ nhơn,
Dễ gì gặp Ðạo Chánh Chơn kỳ này. 124

Luật Kinh Phật tỏ bày nơi trước, 
Ðời lộn kiếp, mực thước khó dò,

Tử sanh thập loại nhỏ to,
Ðầu thai báo quả khó đo được lòng. 128

Bất kể sự Tổ Tông đạo-đức,
Mang lớp người ngũ trược Tâm Ma, 
Ham làm những sự gian tà,

Ðâu còn kể đến Ông Bà Tổ Tiên. 132 

Cứ chỉ biết bạc tiền, danh lợi,
Rồi tung-hoành gây tội chẳng cần,

Giết người, cướp của muôn dân,
Bạo tàn độc ác, khó phân chơn tà. 136

Bởi Sắc Lệnh Thiên-Hoàng ân xá, 
Cũng là kỳ trả quả nghiệp căn,

Chuyển xoay định luật Công Bằng,
Khảo nhồi, thưởng phạt kiếp căn đời cùng. 140

Sự chọn lựa Hiếu Trung kỳ chót, 
Con khá lo bòn mót Ðức Ân,

Chớ ham mê sự hồng trần,
Buộc ràng nghiệp quả, kiếp căn đọa đày. 144

Rồi gặp cảnh họa tai khó cứu, 
Cần định tâm hấp-thụ điển-quang,

Nghiệm-suy thấu-triệt trần-hoàn,
Trong cơ sàng sảy lớp màn đau thương. 148

Các con nghĩ cho tường cặn kẻ, 
Nếu không thì tình MẸ xa con,

Ðau lòng của MẸ tạo hồn,
Dưỡng nuôi ấp ủ bảo tồn linh-quang. 152 

Khi con xuống trần gian lập hạnh,
Bị ngũ ma dụ tánh mê trần,

Ðâu còn nhớ kiếp tiền căn,
Tuổi tên Mẹ tạo thượng tầng Hư-Vô. 156

Mãi gây tạo cuộc đời nghiệp quả, 
Chịu luân-hồi vay trả không ngừng,

Con ơi! Lòng MẸ buâng-khuâng,
Nhớ con, trông đợi, tìm phương cứu nàn. 160

Sợ đến ngày chiếu màn Ðại-Hội, 
Rồi các con chịu tội trước Tòa,

Công Ðồng Tam-Giáo chẳng tha,
Luật hình sửa trị khó mà an thân. 164

Bị sa đọa, trầm-luân địa-ngục, 
Bảy ức niên mới được đầu thai.

Lâm trần nghiệp quả trả vay,
Cũng như mạt kiếp đời nay tận cùng. 168

Vì chỗ đó nên rồi tình MẸ, 
Chẳng để cho con trẻ lạc lầm,

Chuyển Cơ điển-pháp huyền-thâm,
Chỉ nguồn gốc cội để tầm căn xưa. 172

Màn Tam-Giáo lọc lừa đạo quả, 
Trên Tam Thiên Lục Bá xuống trần,

Bàng môn tả đạo dụ căn,
Hại con của Mẫu mê trần còn đâu. 176

Nhắc đến đây MẸ sầu linh-tử, 
Mãi theo đời quên sự thâm-ân,

Linh-quang gốc cội tiền căn,
Ngôi xưa phế bỏ, nghiệp trần đeo mang. 180

Sự vay trả trần gian chồng vợ, 
Tình thâm ân con nỡ phụ vong,

Chiếu theo Luật Ðạo Cộng Ðồng,
Thì con bất hiếu, khó mong bảo tồn. 184

Quên mất TÁNH, chơn hồn giá-trị, 
Cứ mê lầm ma quỉ, lợi danh,

Sanh, Già, Bịnh, Tử hiểu rành,
Mà sao con mãi đua tranh theo đời? 188

Phế bỏ Ðạo, quên lời MẸ dạy, 
Còn dọc ngang tranh cãi, bất tin,

Nghe theo tà mị phàm tình,
Tấm thân tiêu hoại, hồn linh ngục tù. 192

Hễ vào cảnh âm u đen tối,
Biết bao giờ thoát khỏi Sông Mê,

Sanh Tâm ngu muội nặng nề,
Biết đâu Chánh-Pháp trở về Thiên Cung. 196

Cơ Ân-Xá tận cùng màn chót, 
Phật Thánh Tiên cứu vớt linh-hồn.

Ráng nghe lời MẸ, bớ Con!
Ðức tin vững chắc bảo toàn hậu lai. 200

Xét cho kỹ lời ngay lẽ thật,
Dầu khảo nhồi, Tâm Phật đừng lơi.

Yêu Ma dù có lắm lời,
Ngọt ngon dụ-dỗ theo Ðời thì không. 204

Thề nhứt quyết một lòng vì Ðạo, 
Hưởng muôn đời sáng tạo Linh-Quang.

Ngọc châu bửu-pháp Ðạo Vàng,
Trong thân sẵn có, bảo toàn chơn linh. 208

Dù tài phép yêu tinh có giỏi, 
Lòng Ðức Tin cứng cỏi cố gìn,

Ðạo là Chơn-Lý cao-minh,
Ðạo không Sắc Tướng hữu-hình ngoài thân. 212

Ðời mạt-kiếp dương-trần hỗn loạn,
Chúng mưu mô đủ hạng lắm con, 

Tạo hình, dựng cốt, mê hồn,
Vẽ tranh Tiên Phật để con lạc lầm. 216 

Khá biết chỗ Ðạo Tâm quan-trọng,
Pháp Vô-Vi mở rộng Thần Quang,

Chiếu soi Nhật Nguyệt hành-tàng,
Ðắc thông ngũ-tạng bảo-toàn tánh linh. 220

Chuyển nội thân, Tâm mình định trí, 
Ngồi quán-thông Pháp-Lý Chơn Không,

Hoặc là đi, đứng, nằm lòng,
Cũng luôn chuyển pháp mới thông nhiệm-mầu. 224

Ngoài Sắc Tướng có đâu là Ðạo, 
Con cần nên kiểm-thảo cho tường, 

Kẻo lầm Ma Ðạo phô-trương,
Mượn KINH, bày LÝ, gạt lường nhân-sinh, 228 

Chúng quỉ kế, giả hình Tiên Phật,
Xưng vị ngôi làm trật Ðạo nhân,

Bùa linh, thuốc lú mê hồn,
Ðể cho chúng khiến các con theo Tà. 232

Nếu chẳng nghe những lời thêu dệt, 
Chúng đủ tài làm chết chẳng chơi,

Không Tu tin-tưởng Phật Trời,
Ðể hành-thiện Ðức khó thời vượt qua. 236

Màn lừa lọc Sư Tà, Ngoại đạo, 
Ra tranh tài Tam Giáo Phật Tiên,

Giả hình, giả tướng tưởng hiền,
Mà lòng thâm độc chẳng hiền nghe con! 240

Ví như Mẫu chúng còn bôi bác, 
Cho Mẫu đây vào hạng đạo tà,

Con ơi! Lòng MẸ thiết-tha,
Ai sanh, ai tạo vậy mà vật chi? 244

Ðủ vật-chất để thì nuôi-dưỡng, 
Cho ấm thân có được tu hành,

Sanh tâm lòng dạ bất lành,
Chê bai Phật-Mẫu, phải đành đọa thân. 248

Dù mang kiếp làm Tăng cũng thế, 
Vô lễ còn khi dễ, kiêu căng,

Phật nào dạy thói ngang tàng?
Bất tri Chơn-Lý, đọa mang ngục hình. 252

Cơ Ân-Xá mặc tình thế sự,
Muốn nói chi ngôn-ngữ chẳng kiêng,

Sau nầy đừng có trách phiền,
Thần quan tả hửu ghi liền chẳng sai, 256

Tâu Thượng-Ðế, các Ngài Tam-Giáo, 
Chiếu Luật Hình xử Ðạo kỳ này,

Long Hoa Ðại-Hội hoằng-khai,
Ðạo nào Chánh-pháp Như-Lai chơn-truyền. 260

Con của MẸ ráng hiền, nhẫn-nhục, 
Rèn đức-ân phủ phục Bệ Rồng,

Tu là Tu Tánh, Tu Lòng,
Chớ đừng Tu Tướng mà hòng đắc chi. 264

Cơ Ðại-Hội kỳ thi đã tới,
Lập đức ân thân mới vững còn,

Một lòng vì MẸ sắt son,
Ráng lo hành Ðạo bảo-toàn kiếp căn. 268

Ðừng sa ngã cõi trần con nhỉ, 
Ðể ma vương, lũ quĩ dắt hồn,

Sa vào trận địa bàng môn,
Háo danh trục lợi chẳng còn mạng thân. 272

MẸ thương con vì căn MẸ tạo
Nên khai truyền Lý Ðạo chơn minh

Ðó là cốt-nhục thâm-tình
Ðể lầm mối Ðạo, chơn linh mịt mờ. 276 

Dầu Bá Ðạo, TÂM thời duy nhất
Các con cần rõ Luật hành-trì

Mặc đời thế sự thị phi
Tu hành chớ nệ những gì khó khăn. 282

MẸ nhìn thấy dương trần nam nữ 
Mãi chứa lòng hung dữ, ngang tàng

Quên căn MẪU tạo Tiên Ban
Xuống trần dục lợi, nghiệp mang chất chồng. 286

Nỡ phụ bạc quên lòng Từ Mẫu 
Từ ngàn xưa MẸ tạo chơn linh

Nắn con nên vóc nên hình
Linh quang bát bửu trong mình vạn năng. 290

Ðủ phép báu phi đằng huyền diệu 
Ðể các con tự liệu xuống trần

Lập công bồi đức tiền căn
Giúp đời hậu thế, lập thân đạo hiền. 294

Ði ngang qua động tiền Giáo chủ 
Tây Bá Hầu chẳng hỏi, bái chào

Ỷ mình con Mẹ thiên cao
Chê Ngài giả tướng, chẳng vào lễ nghi. 298

Tội vô lễ, Ngài thì oán giận 
Trốn Mẹ hiền xuống tận cõi đời

Lũ ma hoá phép vậy thời
Nhập Tâm con trẻ, mê đời tạo gây. 302

Cho linh tử đắm say mùi tục 
Ðể thỏa lòng giận tức Bá-Hầu

Cũng là phạm luật Thiên cao
Cho nên ở mãi trần lao hại đời. 306

Chiếu Kỳ Ba, Luật Trời mở Hội 
Lập Ðạo mầu cứu rỗi linh căn.


Thoát nơi nghiệp quả hồng trần
Ðược về bốn ức nguyên nhân phục chầu. 310

Nay đến Hội hoàn-cầu xoay chuyển 
Ðại Phong Thần lựa tuyển linh căn

Chọn con hiền-đức nghĩa nhân
Rõ tri ngũ dục trong thân diệt trừ. 314

Mới thoát khỏi cuộc đời mê muội 
Lo tu hành chuộc tội căn xưa

Long Hoa Tam Giáo lọc lừa
Chuyển Cơ Thánh-Ðức Ðại-Thừa qui căn. 318

Các con khá tinh-thần giác-ngộ 
Luyện tâm-hồn tự độ mê si

Vâng lời của MẸ TỪ-BI
Giữ Tâm Trung Hiếu Lễ nghi cho tròn. 322

Lập công quả mót bòn đức hạnh 
Dụng công phu sửa tánh dịu hiền

Công trình gắng chí cần chuyên
TAM CÔNG trọn vẹn thành TIÊN tại trần 326

Đạo chơn lý Quân Thần trọng đại 
Khá phục hồi hoán cải tâm linh

Ơn Cha nghĩa Mẹ thâm tình
Ơn Thầy nghĩa Chúa hy sinh cho tròn 330

Cố thực-hiện bảo-toàn Chơn-Lý
Biết, không Hành, cũng chỉ hoài công

Giang-sơn gấm vóc non sông
Phải đâu riêng hưởng, để mong lợi quyền. 334

Phật đâu để người hiền mắc đọa 
Kẻ ác hung vướng họa chẳng sai

Dù cho mưu-kế sắp bày
Cũng không qua khỏi được ngay Luật Trời. 338

Nếu không sớm kịp giờ tỉnh ngộ
Ðể đến ngày thiên số định kỳ 

Xác trần bỏ lại còn chi
Hồn linh ngơ ngẩn, sầu bi đọa đày. 342 

MẸ nói trước con nay liệu lấy
Rồi sau này khỏi phải trách phiền

Cuộc trần lắm nỗi đảo điên
Không nghe lời MẸ, chỉ phiền đọa sa. 346

Cơ thưởng phạt Kỳ Ba đã rõ 
Luật Thiên điều chẳng có vị tư

Dù con lãnh sứ-mạng Trời
Mà làm sái luật cũng thời bị răn. 350

Hoặc các bực Ni, Tăng học Ðạo 
Gây uy-quyền hay tạo tội trần

Cũng đều bị Luật trị răn
Tùy theo nghiệp tội, xử phân công bình. 354

Luật Tiến-Hoá vô hình đào-thải 
Chớ mê đời ngu dại hững hờ

Bây giờ chưa thấy làm ngơ
Chừng khi họa tới, khó thời cứu nguy. 358

Ðời ngu muội biết gì còn mất
Sự trăm năm chưa chắc trường tồn 

Biết tri thời-vận mới khôn
Ðừng như để chết, chưa chôn chờ giờ. 362 

MẸ tỏ hết bao lời châu ngọc
Các con cần tu học nghiệm suy

Dù bao cay đắng sá chi
Sợ lòng chẳng trọn những gì ân sâu. 366

Khắp thế-giới hoàn-cầu vận-chuyển 
Máy Càn Khôn linh-hiển Cơ-quan

Thất Sơn bảo ngọc lầu vàng
Là Cơ lập Hội Minh Hoàng xử phân. 370

Ðến ngày đó linh căn tề tựu
Nghe phán truyền đầy đủ chẳng sai

Bao nhiêu nhân sĩ nước ngoài
Thảy đều chầu chực trước Ngai Bệ Rồng. 374

Có Tam Giáo Cộng Ðồng phân xử 
Công quả tròn được dự KIM GIAI 

Bằng gây tội lỗi đọa đày
Vào nơi ngục thất, khổ thay xác hồn. 378 

Con ơi! Sự mất còn, thành bại
Cũng do lòng khôn dại mà ra 

Căn Tiên đừng để làm Ma
Uổng công MẸ tạo sanh ra Chơn thần. 382

Máy Âm Dương xoay vần chuyển hóa 
Lừa lọc căn nghiệp quả tinh vi

Ai thương bằng MẸ DIÊU-TRÌ
Lo con mọi sự, kể gì khổ lao. 386

Từ Tạo-Hóa thiên cao Trời Ðất 
Sanh muôn loài vạn-vật hữu hình

Cơ nay PHẬT MẪU truyền kinh
Cho con cõi thế giữ gìn Ðạo Nhân. 390

Trao Bát Bửu kinh luân tám báu 
Túi vạn năng chơn đạo linh hồn

Cho con giữ lấy bảo tồn
Từ đời Thượng Cổ vuông tròn đức ân. 400

Nay đến lượt xoay dần mạt kiếp 
Ðời Hạ-Ngươn tạo nghiệp dẫy đầy

Là kỳ tiến-hóa đổi thay
Lập đời Thánh-Ðức Thượng Ngươn thanh-bình. 404

Nên lắm cuộc chiến-chinh khói lửa 
Để sảy sàng, gội rửa, tẩy trần

Tam Kỳ mở Hội Long Vân
Chọn con TRUNG, HIẾU, NGHĨA, NHÂN phục 
hồi. 408 

Sự báo ứng Cơ Trời đã lộ
Các con cần giác-ngộ rõ thông

Để khi lập Hội Cộng Ðồng
Tội tình gây tạo, khó mong sống còn. 412

Dầu sống thác cho tròn nhân nghĩa 
Chớ đem lòng mai mỉa phụ vong

Tình thương PHẬT MẪU đại đồng
Hoá sanh vạn ức trần hồng linh căn. 416

Chuyển khắp cả hồng-trần thế-giới 
Ngày định-kỳ sắp tới con ơi

Ráng tu cho kịp ngày giờ
Rèn lòng sửa tánh, nhớ lời MẪU khuyên. 420

Ðừng ngu dại mê tiền ma quỉ 
Rồi sau này loạn trí điên cuồng

Quỉ Ma nào biết xót thương
Mưu mô đủ kế, gạt lường chúng sanh. 424

Nơi Sơn Thất sẵn dành châu ngọc 
Chờ các con tu học sửa lòng

Thanh bần đừng tủi, gắng công
Ngày sau trọn đạo, phỉ lòng hưởng thân. 428

Nếu chẳng nghĩ xét phân cùng tột 
Làm tay sai cho bọn quỉ ma

Tạo gây ác nghiệp gian tà
Uổng cho một kiếp sanh ra làm người. 432

Lòng dạ thú đổi dời tâm tánh
Bất tin, khi Phật Thánh Thần Tiên

Tội mang kiếp đọa Huỳnh-Tuyền
Muôn đời giam hãm, xích xiềng trói thân. 436

Con của MẸ tiền căn giác-ngộ 
Thì phải cần hiểu rõ đọa siêu

Ðừng nên loạn trí làm liều
Ðời này ma quỉ rất nhiều lắm con. 440

Chúng ẩn hiện tâm hồn giục mãi 
Xúi làm điều khờ dại ngu si

Chẳng cần tội lỗi vậy thì
Con không định tánh khó trì NGŨ MA 444

Nó nhập phá làm xa căn kiếp
Ðể linh hồn mang nghiệp muôn đời

Khó về gặp MẸ con ơi
Muôn đời sa đọa, khó thời tỉnh tâm 448

Kỳ Mạt Kiếp, MẪU tầm linh tử 
Trao Cẩm Nang con giữ phụng-hành

Ðừng vì quyền lợi đấu tranh
Để làm mất tánh hạnh lành cao thâm. 452

Giữ đức-độ đạo tâm vững chắc 
Chớ để cho chúng dắt theo đời

Lạc lầm khổ lắm con ơi
Chịu nhiều quả báo, Luật Trời hành thân. 456

Lập ý-chí tinh-thần dũng mãnh
Ðạo không phân chấp cảnh ngoại biên

Tùy thân hành sự trần miền
Nơi nào cũng có Phật Tiên hộ-trì. 460

Ơn Thầy Tổ con ghi tấc dạ 
Sự mặn chay tùy quả kiếp căn

Cần hành chơn đạo tinh-thần
Mới là báu quý muôn phần ngày sau. 464

Phá chấp NGÃ, muôn màu sắc tướng 
Chọn tấm lòng định hướng chơn thanh

Hành trong tư-tưởng thiện-lành
Cạo đầu, để tóc chẳng thành sự chi. 468

Khá thấu-triệt VÔ-VI nguồn cội
Phá chấp KHÔNG, chấp CÓ nơi lòng 
Một bầu VÔ-CỰC HƯ-KHÔNG
Âm Dương phối-hợp thần-thông diệu-huyền. 472 

Ðắc bảo-pháp chơn-truyền Phật Mẫu
Chiếu linh quang soi thấu kiếp căn

Ðoạn trừ nghiệp-chướng hồng-trần
Siêu Phàm nhập Thánh, phi thăng chơn hồn. 476

Các con khá bảo tồn căn vị 
Màn kỳ thi Ðạo Lý khảo nhồi
Phật Tiên đâu rảnh con ơi 
Còn lo độ thế khắp nơi khổ sầu.
Con nào rõ nhiệm-mầu tiến-hóa 480 

Cần chung lo Ðạo Cả Mẫu hiền
Ðấp xây, phổ-hóa, khai-truyền
Nên công quả vị, MẸ hiền thưởng ban. 484

Dầu thử-thách gian nan chớ nệ 
Giữ một lòng chớ để lạt phai

Ðạo mầu phải gặp đắng cay
Mới là biết được lòng ai trung thành. 488

Cố lập chí thực-hành Tâm Ðạo
Thì rõ thông TAM GIÁO diệu-huyền

Ðừng nên mượn Ðạo Phật Tiên
Để lo danh lợi tư riêng cho mình. 492

Kỳ Mạt Kiếp, Thiên-Ðình ân-xá 
Là nhiệm kỳ đạo quả sắc ban

Chuyển Cơ phổ-độ trần-hoàn
Cũng là Ðịnh Luật sảy sàng Hạ-Ngươn. 496

Ðời với Ðạo MẸ còn xoay chuyển 
Nên con cần thể-hiện Ðạo Nhân

Cho tình Con MẸ vuông tròn
Lập Cơ Thánh-Ðức bảo toàn mạng căn. 500

Ngày Ðại Hội LONG VÂN có mặt 
Mới nhơn hiền sự thật căn Tiên

Ham chi vật chất bạc tiền
Của đời ma quỉ đảo điên tinh-thần. 504

Mất đức-hạnh tiền căn ngọc quí 
Chạy theo đời ma quỉ loạn cuồng

Ở ăn bất kể kỷ-cương
Gian tà xảo quyệt, lâm đường nạn tai. 508

Mang một kiếp trần ai đâu dễ 
Luật Thiên-Ðình đâu để lăng loàn

Trị phường hung bạo dọc ngang
Trước sau cũng rõ lớp màn nầy đây. 512

Dù ẩn ý tâm đầy thâm độc
Bị lợi quyền đâm thọc hại nhau

Có trên Bắc Ðẩu Nam Tào
Xét soi thấu-triệt trước sau lòng người. 516

Sẽ tùy nghiệp, Luật Trời báo ứng 
Kiến Nghiệt Ðài xây dựng trần gian

Rõ thông mọi sự hành tàng
Trong Tâm tội phước hai đàng phân minh. 520

Con sẽ thấy hữu hình trước mắt
Mới hản-tường Tiên Phật diệu-huyền

Khó mong thoát khỏi Luật Thiên
Con cần tin-tưởng lời truyền MẸ ban. 524

Rèn Trí Huệ, Ðạo Vàng tiến bước 
Ðừng để Ðời đến nước tới trôn

Co giò, hụt cẳng mất hồn
Xác thân theo biển sóng dồn ngoài khơi. 528

Khó cứu mạng cuộc đời căn kiếp 
Vì tạo gây tội nghiệp dẫy đầy

MẸ nào có bỏ gái trai
Tại con cải Luật, làm sai Chánh-Truyền. 532 

Cuộc biến-thiên trần miền náo-động
Máy Huyền-Vi mở rộng Năm Châu
Minh Vương ngự chốn Nam Lầu 536 

Xử người bội nghĩa gieo sầu tóc tang.
Cơ tuyển lựa hành-tàng nam nữ 
Rõ Thiên Ðiều, phận sự gắng lo

Qua sông nhờ có thuyền đò
Linh hồn nhờ Ðạo, thoát bờ sông Mê. 540

Chớ vội chấp, khinh chê, ngang bướng 
Phải xét suy tội phước trong lòng

Ðạo Mầu trí-huệ mở thông
Mới là hiểu được trong lòng Phật Ma . 544

Còn Mê, khó tầm ra Chơn Lý 
Phật nơi Tâm ngự trị chẳng xa

Quán thông thấu-triệt Chánh Tà
Sáu Căn mê muội gây ra nghiệp trần. 548

Làm điên đảo tinh-thần lý-trí 
Ðâu rỏ tường chơn lý đọa siêu

Hoặc là hiểu thấu rất nhiều
Vẫn còn bị nghiệp đủ điều vây quanh. 552

Khiến giục mãi lợi danh mộng-tưởng 
Cùng sắc màu mơ ước luôn luôn

Con ơi! Các sự tình trường
Ðều là mộng-ảo vô thường khổ đau. 556

Nó khiến sai đi vào tội lỗi
Cho linh hồn quên cội, quên nguồn

Khó về gặp MẸ Tòa Chương
Ngàn năm sa đọa vào đường si mê. 560

Nay có MẸ Ðạo Trời khai mở 
Cũng là kỳ xá tội tử linh

Các con mau kíp đăng-trình
Kịp màn Ðại Hội, Thiên Ðình thưởng ban. 564

Một kỳ chót Mẫu Hoàng chấn-chỉnh 
Con bất tuân mạng lịnh chớ phiền

Ðến ngày Tam Giáo qui nguyên
Cộng Ðồng phân xử, con hiền chớ than. 568

Bao nhiêu sự lời vàng tiếng ngọc 
Là tình thương bảo bọc linh-hồn

Hai đường siêu-đọa dại khôn
Con cần chọn lựa bảo tồn hậu lai. 572

Khá suy-nghiệm đường ngay nẻo chánh 
Kẻo mê lầm giả hạnh quỉ vương

Mượn màu sắc tướng phô trương
Mà lòng dạ chúng khôn lường hiểm sâu. 576

Dụng đủ kế ngõ hầu tranh Ðạo 
Của Phật Tiên khai Ðạo Vô-Vi

Chẳng lòng thiện niệm từ bi
Giả tâm đạo-đức thực thi bạo tàn. 580

Nhìn đất nước giang san con đó 
Để thức thời giác-ngộ công phu

Ham mê danh lợi võng dù
Rồi thân phải chịu ngục tù đọa mang. 584

Màn tuyển lựa sảy sàng đâu dễ 
Phật Tiên còn phổ-tế đâu yên

Huống chi linh tử trần miền
Mà đòi an phận bạc tiền hưởng thân. 588

Khá thực hiện TỨ ÂN trọng đại 
Để sau này trở lại ngôi xưa

Chớ tham danh vọng mắc lừa
Của loài ma quỉ lắm thừa kế mưu. 592

Thìn, Tị, Ngọ, tới Mùi con rõ
Sự mất còn sáng tỏ Phật Tiên

Kim ngôn lịnh MẸ chỉ truyền
Khai thông TAM GIÁO cơ truyền cho con. 596 

Rõ công tội, mót bòn công-đức
Ráng thi-hành Ðại-Lực Phật Tiên

Dù cho lắm sự não-phiền
Quỉ ma gây rối, Ðạo hiền chẳng lơi. 600

Sẽ có MẸ, PHẬT TRỜI tiếp độ 
Gương hi sinh Phật Tổ Ðại Hùng

Ma vương tài phép hành hung
Cũng không thắng đức Ðại Hùng thanh cao. 604

Ráng thức tỉnh dồi trau Tâm Tánh 
Thì nghiệp trần mới rảnh con ơi

Gian lao khổ cực khảo nhồi
Mà không nản chí mới người con Tiên. 608

Dẹp phàm tánh, tư riêng bản ngã 
Giữ tâm hồn cao cả mới ngoan

Ðời nầy lắm sự dọc ngang
Là đời ma quỉ khắp tràn hại nhân. 612

Các con ráng tinh-thần định-tỉnh 
Sớm tảo trừ ma bịnh mê si

Chạy theo thế-tục ích gì
Càng thêm gây tội, khổ nguy linh-hồn. 616

Ðời vay trả, chẳng tồn tánh mạng 
Thường xảy ra tai nạn kinh hoàng

Cũng vì quyền lợi giàu sang
Mà khi dễ Ðạo, họa mang bên mình. 620

Sự quả nghiệp hồn linh tùy kiếp
Của mỗi căn duyên nghiệp khác nhau

Chưa thông suốt lý Thiên-Tào
Thì đừng vội chấp lẫn nhau mỗi phần. 624

Con nào cũng nghiệp trần tội lỗi 
Từ lâu đời sao khỏi trái ngang

Ðến nay cộng nghiệp một màn
Ðặng mà trả quả trần hoàn cho xong. 628

Cho nên mới vợ chồng thay đổi 
Hoặc cha con chửi bới gia-đình 

Hoặc vì danh lợi mưu sinh
Anh em bạn hữu mất tình nghĩa nhân. 632 

Chẳng còn biết tiền căn ruột thịt
Cùng một MẸ, lãnh lịnh Cửu-Trùng

Xuống trần mê muội bất thông
Ngũ Ma nhập thể nên lòng đổi thay. 636

Gây chia rẽ, ỷ tài tranh chấp
Tạo hận thù khỏa lấp tình thương

Ðó là bị nghiệp Ma Vương
Nhiều đời, nhiều kiếp tạo đường trần duyên. 640

Nay MẪU chuyển căn nguyên hội hiệp 
Ban Ðạo Lành giải-nghiệp oan-khiên

Các con nhớ lại căn tiền
Cùng nhau trở lại mối giềng căn xưa. 644

Ðừng để căn mắc lừa ma quỉ
Nhập Tâm mê, chẳng nghĩ cội nguồn

Con nào cải lịnh, bất tuân
Thì sau đừng trách Cửu-Trùng xử phân. 648

MẸ phân cạn tiền căn cội rễ 
Cẩm nang thơ lưu để sau này

Mong ngày Ðại-Hội Rồng Mây
Các con đầy đủ về ngay phục chầu. 652

Thoát nghiệp-chướng mưu sâu đày đọa 
Lánh xa lìa tội quả trần duyên

Thưởng công đạo quả trần miền
Công Ðồng Tam Giáo ban truyền đức ân. 656 

Có Phật Vuơng cầm cân Công-Lý
Ðại Phong-Thần sắc chỉ thứ ban

Lập Cơ Thánh-Ðức Minh-Hoàng
Giang sơn thạnh-trị, Ðạo Vàng chấn-hưng. 660

MẸ mong đợi con đừng bê trễ 
Luật sảy sàng chẳng dễ đâu con

Ngày qua tháng lụn mỏi mòn
Năm dài cũng tới Thất Sơn Hội Trời. 664

Con nào biết nhớ lời MẪU dặn 
Thì sau này mới đặng bảo-toàn

Con nào nghịch mạng dọc ngang
MẪU đưa Luật trị, ngỡ ngàng tình thâm. 668

Tạm dứt điển Đạo Tâm Chơn Lý 
Mẹ chúc con xét kỹ sửa mình

Ơn dày Tạo Hóa Chơn Linh
Một kỳ trọng đại 1uật hình chuyển xây 672

Đạo TRUNG HIẾU thảo ngay ghi nhớ 
Làm cho tròn phận tớ Thầy ban

Đến cơn bát loạn lọc lừa
Con nhờ ĐẠO ĐỨC TAM THỪA thoát nguy 676

CẨM NANG THƠ DIÊU TRÌ KIM MẪU 
Ứng Linh Tâm lưu dấu CƠ HUYỀN

Mẹ hồi Thượng Cảnh Cung Tiên
Chúc con Nam Nữ Đạo Hiền đắc thông. 680

HẾT





Danh hiệu của Phật Mẫu

Danh hiệu niệm của Phật Mẫu :



Nam Mô Mẫu Hoàng vô cực đại từ tôn.

Nam Mô Diêu Trị Kim Mẫu Vô Cực Đại Từ Tôn





Diêu Trì Kim Mẫu

Diêu Trì Kim Mẫu - Phật Mẫu Diêu Trì:






Kim Mẫu : là từ nói tắt của danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung. Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu chứa các nguyên chất để tạo ra chơn thần cho vạn linh.

Kim: - Vàng, vua loài kim. - Màu vàng. - Quí báu như vàng. - Tiền bạc. Mẫu: Mẹ.

Kim Mẫu là nói tắt danh hiệu: Kim Bàn Phật Mẫu, là Đức Đại Từ Mẫu nơi cõi thiêng liêng.

* Diêu Trì Kim Mẫu là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung.

* Phật Mẫu Diêu Trì là Đức Phật Mẫu ở Diêu Trì Cung.

Đây là hai danh hiệu của Đức Phật Mẫu.

NGHĨA " DIÊU-TRÌ KIM-MẪU "
Chữ Diêu, hoặc chữ Dao cũng được, có nghĩa là ngọc diêu, một thứ đá quí báu ( pierre précieuse ).

Chữ Trì nghĩa là ao nước, hay là hồ nước.

Hai chữ Diêu Trì hiệp lại có nghĩa là : Ao hay hồ nước, trong đó có nhiều ngọc quí báu. Đây có nghĩa là một cảnh trí, một cung điện, ở trên một chót núi Hi-mã-lạp-nhã (Himalaya), làm ranh giới giữa nước An Độ và nước Trung Hoa, gọi tên núi là Côn Lôn. Ai có coi truyện thần tiên thì biết đó là chỗ Ngọc Đế ngự và nhiều vị Đại Tiên tu luyện.

Chữ Kim là vàng, cũng có nghĩa là các loại kim, như bạc, đồng, chì, sắt . . .thuộc về Tây phương. Theo Bát quái hậu thiên (Lạc thơ), Kim nầy ở ngôi Đoài, mà Đoài là Âm kim.

Chữ Mẫu là mẹ, là chủ tể, thuộc về hữu hình. Như cuốn Đạo Đức kinh nói: "Hữu danh, vạn vật chi mẫu.", nghĩa là chừng Đạo có hình, có tên, Nó là mẹ sanh muôn vật.

Người ta thường hiểu chữ "mẫu" theo nghĩa thông thường, là người đàn bà sanh con, nên gọi Đức Diêu Trì Kim Mẫu là Bà Tây Vương Mẫu.

Theo sách vở của người Trung Hoa, Ngài là một vị Thần Tiên từ đời xưa, xa xăm. [ . . .]

Tây Vương Mẫu cũng là một vị ban thuốc trường sanh. Ngài trở thành một vị chủ tể vườn đào,. Ơ cõi trên trời, và cai quản các vị thần tiên cõi đó, có khác hơn cõi ta ở dưới trần nầy là đặng sống lâu và hưởng vô cùng khoái lạc (jouit d’une félicité parfaite). 
Vườn Tây Vương Mẫu ở trên chót núi Côn Lôn – như tôi đã nói ở trên. Ngài ở trong lầu các bằng ngọc, có 9 từng huyền thất và chung quanh có vách thành bằng vàng.

Trong lầu có đơn phòng Tử Túy, bên trái có ao Diêu Trì, bên mặt có sông Huờn Túy. Dưới chơn có 9 từng nhược thủy ( nước yếu ), sóng cao muôn trượng, không có tiên xa ( xe nhờ bạo phong thổi đi ), vủ luân ( bánh xe bằng lông chim ) thì không thể nào đi đến đó được. [ . . . ]


II. NGHĨA " VÔ CỰC TỪ TÔN "

Tại sao gọi Đức Diêu Trì Kim Mẫu là Vô Cực Từ Tôn ?

Có lẽ chư đạo hữu còn nhớ nghĩa Tam cực đã có giải nhiều lần. [ . . .]

Tam cực nghĩa là Ba ngôi cực cao cả, gọi là :

1. – Vô cực

2. – Thái cực

3. – Hoàng cực


1)- Vô cực : Vô cực nghĩa là cực vô, trong đó cực kỳ trống không, chẳng có gì khác lạ hơn nó nữa, gây ra các sự trở ngại cho Nó, nên gọi là Khí hồn nhiên. Tuy vậy mà Nó đủ các đức tính tiềm tàng, còn kín đáo, ẩn núp, cũng như con gà còn trong trứng gà, chưa có lộ hình dạng mà ta có thể thấy được. Cũng như trong một hột giống lúa, tuy ta chưa thấy cây lúa, mà trong đó có đủ sinh lực để sanh ra sau nầy cây lúa vậy.

Đạo Đức Kinh gọi cái đó là: "Đạo tự hư vô sanh nhứt khí", nghĩa là từ trong Đạo hư vô mà sanh ra Nhứt khí. Nhứt khí có ba phương diện hay là Ba ngôi, mà ngôi Thứ nhứt gọi là Vô cực.

2)- Thái cực: Thái cực nghĩa là cực thái hay là cực đại. Từ trong Vô cực là ngôi thứ nhứt lại có một điểm khí dương phát sanh. Hễ khí động phát sanh tức là khí dương, thì phần tịnh còn lại là khí âm. Cho nên Kinh Dịch nói : " Thái cực sanh lưỡng nghi" , nghĩa là Thái cực sanh ra khí âm và khí dương. Đạo Đức kinh gọi là Một sanh ra hai. Đây là ngôi thứ nhì của Nhứt khí, mà ngôi Thứ nhì gọi là Thái cực.

3)- Hoàng cực: Hoàng nghĩa là ông vua. Cực là cực cao như nói trên. Cũng gọi là Nhơn cực hay là cái phần tinh thần, phần tâm linh cực cao, chẳng phải ở trong vua chúa mà thôi, như người xưa hiểu , mà ở trong tất cả mỗi con người. Nói theo Nho giáo, thông thường, ta có thể gọi Nó là Lương tâm, là Lương tri, Lương năng, là Tánh lý, là Thiên lương, là Thiên chơn, . . .

Thái cực (thèse) sanh ra âm dương, mới có hai bên tương đối (anti thèse), còn Hoàng cực, đây có nghĩa là hổn hiệp âm dương (synthèse) , mói có xuất ra vạn pháp. Nếu không có âm dương tương hiệp, thì làm sao sanh hóa được ! Nên Kinh Đạo Đức nói: "Hai sanh ba", là âm dương hiệp sanh ra Hoàng cực.

Vậy thì Ba ngôi chỉ có Nhứt khí, mà mỗi ngôi đều có một vai tuồng riêng biệt, chẳng giống nhau mà luôn luôn bổ túc cho nhau. Tuy phân ba thời kỳ cho dễ hiểu, kỳ thiệt là Ba ngôi cùng đồng thời, phân cao hạ.

Đức Diêu Trì Kim Mẫu vẫn có một vai tuồng đặc biệt, thuộc về ngôi Vô cực, nên lấy hiệu là: Vô cực Từ Tôn. Nghĩa là Ngài đại diện cho ngôi Thứ nhứt là ngôi Vô cực.

Sao gọi là Từ Tôn ?

"Từ" là nhân từ, từ bi, có lòng thương xót, độ dẫn tất cả chúng sanh. Như theo thế gian, mẹ thuơng con một cách diệu hiền nên gọi là từ mẫu, từ thân. Trái lại, đối với cha, thì dùng chữ nghiêm, nghĩa là nghiêm minh, nên gọi là nghiêm phụ, nghiêm quân.

"Tôn" là cao cả, bực rất mực tôn nghiêm. Hoặc gọi là Thiên tôn, nghĩa là bực cao cả, tôn nghiêm, ỏ trên các từng trời, hay là trên thiên đàng.

ĐỊA MẪU CHÂN KINH
( Chú Giải )

Hồi mới tạo Thiên lập Địa, Vua Bàn Cổ xuất thế trị đời trước nhất, Ngài mới sắp đặt ngôi thứ, vì lẽ tự nhiên Ngài phong tặng cho Mẫu đây đến bậc tối cao tối đại.

Âm Dương hai khí đủ rồi mới kết cấu cùng nhau hiệp thành hôn phối. Nhờ có mưa thuận gió hòa, hiệp tác mới hóa sinh muôn loài vạn vật. Ấy vậy ai mới bước vào đường đạo đức thì phải trì kinh Địa Mẫu này trước hơn hết mới nhằm đạo hạnh. Trên thì cầu xin với Hoàng Thiên hoan lạc hỉ xả tội lỗi cho tất cả chúng sinh. Còn dưới thì khấn nguyện cùng Địa Hậu vui lòng bảo hộ muôn dân cho đặng an nhàn trường cửu.

Kể từ đấy Đất – Trời đã phân biệt rồi, chẳng còn mù mịt mờ ám như khi trước nữa. Đất là Âm, Trời là Dương. Âm Dương mới khắng khít cùng nhau chẳng hề rời rã. Thông đồng khắp cả cùng Trời Đất thấu đáo Nhật – Nguyệt – Tinh là ba ánh sáng và bao trùm tất cả Càn Khôn Vũ Trụ chẳng sót hướng nào; Bắc, Nam, Đông, Tây là bốn góc chính trụ. Hiệp với Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam là tám hướng bao vòng quanh nơi ngoài gọi là Trời đó. Còn Mẫu đây, Mẫu cố thủ trung ương ( trung tâm ) Mồ Kỷ ( Mậu – Kỷ ) gọi rằng đất. Bởi vậy cho nên Mẫu bao đường cho muôn loài từ hồi đời Tiên Thiên nhất khí, còn gọi là đời thượng cổ dĩ chí đời hậu thiên gọi là đời hậu lai ác thế cầu trọng. Còn phu quân Mẫu vốn thật là một vì Đồng Tử trường sinh bất lão, huyền diệu cao minh vô cùng. Ngài thì điếc, còn Mẫu đây thì câm đôi ta kết bạn cùng nhau rất nên hòa nhã, sách có chữ rằng: Thiên lung Địa á. Thần cũng là Dương, Khí cũng là Âm, lúc ban sơ Dương thịnh Âm suy phối hiệp mới sinh ra Trời Đất.

Đến chừng tạo Thiên lập Địa rồi thì Dương khứ Âm lai, Khí Thần giao cảm mới hóa sinh ra loài người hiền lành chân chính. Chân Khí là Mẫu đây. Mẫu mới thật là Âm Khí. Còn Chân Thần thì biến trở lại làm chúng sinh của Mẫu. Chân Thần là nhất điểm linh quang ấy là Dương Khí đó. Âm Dương hội hiệp gọi rằng Đấng Tạo Hóa. Tạo Hóa ra Thiên Địa trước hết, rồi sau mới hóa sinh ra Chúa – Thánh – Tôi – Hiền. Tuy là chẳng thấy Âm Dương giao cấu như phàm phu tục thế nhưng mà có thật vì Thiên Can với Địa chi thường thường luân chuyển sinh sinh hóa hóa ra hoài chẳng dứt. Tám sưu là mười hai, ấy là Thập Nhị Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Còn nhị bát là mười, ấy là Thập Thiên Can: Giáp, At, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Can – Chi là Âm – Dương đó. Tử với Mẫu chẳng rời nhau thì thọ thai liền. Thai nghén cưu mang như vậy cho đến 10 năm chẵn. Mười năm chẵn thét mới đúng quẻ hào đã định, vì trong Bát Quái có phân chia 8 hướng, mỗi một hướng chia ra là 8 quẻ, mỗi quẻ ra là 6 hào, cộng chung lại là 64 quẻ, tẻ ra làm 384 hào. Đúng giờ mãn nguyện trúc cơ, thì trong thân của Mẫu xuất hiện ra 6 vị Thánh Đế Minh Quân kể ra dưới đây: Một là Vua Thiên Hoàng, hai là Vua Địa Hoàng, ba là Vua Nhân Hoàng, bốn là Vua Phục Hy, năm là Vua Thần Nông, sáu là Vua Hiên Viên. Qua đến đời Vua Phục Hy thì Ngài đã hiểu rõ máy biến hóa ra Trời Đất. Ngài bèn phân định 2 khí Âm Dương và họa ra một cái Bát Quái Tiên Thiên rõ 8 hướng trong Càn Khôn Vũ Trụ. Đến đời Vua Thần Nông thì Ngài tiên đắc tìm kiếm ra được 5 giống lúa và 6 thứ gạo. Đến đời Vua Hiên Viên thì Ngài kiếm ra đủ cách để chế tạo ra y phục và các đồ vật dụng cho người đời cần dùng, chẳng sót món nào.

Con người mà đặng ăn no mặc lành kẻ từ 2 đời Vương đó. Rồi lưu truyền kiểu mẫu lại cho hợp thời tiết và hợp phong thổ.

Phật Địa Mẫu phát lạc rằng: 3 kiếp Phật xuất thế, kiếp nào cũng trong thân Mẫu mà ra. Chư vị Bồ Tát cũng vậy. Chẳng có vị nào lìa xa khỏi thân Mẫu này được nữa. Nếu họ ra khỏi thân Mẫu rồi họ nương tựa ở xứ nào cho được bao giờ. Vì bởi khắp cùng Đông, Tây, Nam, Bắc thì đã có 4 Bộ châu bao chùm tất cả các xứ rồi. Cùng là Xuân, Hạ, Thu, Đông; 4 mùa, 8 tiết trở xoay cũng do Mẫu tạo thành. Nào sông rạch, hồ, biển đâu đâu cũng chẳng rời khỏi thân Mẫu. Cùng muôn nước 9 Châu cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Trải qua các đời Vương Đế đại danh chưa có ai ra khỏi thân Mẫu. Cùng cả thảy lớn bé trong Cung Điện cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Khắp trong thiên hạ có Mẫu Nhạc là 5 danh sơn thắng cảnh hơn hết. Cùng là núi cao rừng thẳm cổ thụ ngàn năm, cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Các sắc nhân dân trăm họ đâu có ai lìa ra khỏi thân Mẫu được. Cùng 5 giống lúa 6 thứ gạo cũng do nơi Mẫu vun dưỡng tốt tươi. 72 cảnh thanh lương địa kia chẳng phải ở ngoài thân Mẫu này được. Cùng muôn loài cầm thú cây cỏ cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Con người trần thế mà sống đặng đây thì cũng nhờ ăn uống vật thực của Mẫu mới sống. Đến chừng chết rồi cũng phải chôn thây cất xác trở vào mình Mẫu. Sách có chũ rằng: sinh tại thế, tử hườn tại thổ. Tất cả Châu, Quận, Phủ, Huyện cũng chẳng rời khỏi thân Mẫu được. Nào am tĩnh, quán xá, thư viện, lâu đài cũng nhờ lấy tài liệu và vật chất trong thân thể của Mẫu mới làm ra được vững bền tốt đẹp.

Thánh Thần Tiên Hiền lớn nhỏ cũng nhờ Mẫu phong thưởng bày đặt lớp lang. Còn các chư Phật mà đặng kim thân bất hoại thì cũng nhờ Mẫu chứng nhận công quả cho mới đắc thành chánh giác. Huỳnh kim là vàng ròng của Mẫu ban bố hun đúc ra vóc ngọc mình vàng của các chư Phật kia. Thật là quý báu hơn tất cả chân châu bửu ngọc trong bốn phương trời. Thiếu chi người ham muốn vọng tưởng đến chừng kết cuộc rồi có mấy ai được đắc thành nguyện. Còn nào là những vàng thoi bạc nén, cùng các loại kim khí khác cũng do nơi Mẫu sản xuất mới có.Vậy chúng con xét lại đó mà coi có còn sót món nào ở ngoài thân Mẫu này đặng chăng? Các nhà Vương hầu tiểu nhược quốc nhờ Mẫu phong tặng tôn kính. Còn trải qua các nhà Đế Vương đại cường quốc thì cũng nhờ Mẫu sùng tôn cho mới được an hưởng thạnh trị lâu dài. Nước nào mà bị giặc giã cưỡng bức lấn lướt cũng do nơi Mẫu vận chuyển phạt hành mới có cảnh quan đấu khởi. Vậy mà chẳng thấy nước nào biết trọng kính đến thân danh của Lão Mẫu ráo trọi.

Lãnh, nhiễu, the, lụa, gai thô, … thứ nào cũng do Mẫu sản xuất. Cùng là bông, hoa, cây, trái, rau cải đủ thứ cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Các loại chua, ngọt, cay, đắng, do nơi Mẫu sản xuất. Cùng thuốc uống, lúa ăn trong 4 mùa cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành. Hành, hẹ, tỏi, nén kiệu do nơi Mẫu sản xuất. Cùng là gừng, đường, tiêu, ớt cũng do nơi Mẫu vun dưỡng trưởng thành.

Khắp trong thiên hạ, đàn ông chí những đàn bà, con nít đều sinh ra nhiều chứng bệnh. Bởi vậy cho nên Mẫu tạo ra sẵn sàng cả muôn thứ thuốc đề phòng điều trị. Lại cũng có hiếm hạng người nam nữ chẳng ưa dùng tửu nhục mỹ vị. Vì vậy cho nên Mẫu đã tạo sẵn nào là dầu, muối, tương, giấm đặng cho chúng nó dùng cho vừa miệng. Món nào món ấy cũng do nơi Mẫu sản xuất. Trăm ban, vạn sự cũng do nơi mẫu vun dưỡng trưởng thành tất cả. Phật Địa Mẫu than rằng: Mẫu đã lao tâm tổn huyết với chúng con đã tận tuyệt rồi. Công lao tiêu trừ ấy biết lấy bút mực nào mà tả cho hết được. Vì tình Mẹ thương con nam nữ, dầu khổ lao thế mấy Mẫu cũng chẳng sờn. Sách còn có chữ: Phụ Mẫu ái tử chi tâm, vô sơ bất chí, vậy mà chúng con nỡ lòng nào quên dứt ơn sâu nghĩa cả của Mẹ cho đành. Vật ăn phẩm uống trang sức cân đai gì Mẫu cũng tạo hóa. Hễ Mẫu tạo hóa ra món nào, Mẫu hết lòng vun dưỡng trưởng thành món nấy, còn hoài cho đến ngày chung cuộc mà thôi. Mẫu cũng có thể chế biến ra tiền bạc đủ thứ và đủ kiểu cho chúng con mua bán chi dụng hằng ngày. Vậy mà chẳng thấy ai để lòng tưởng niệm đến Mẫu một tiếng coi thử. Trên đời chẳng còn sót món nào ở ngoài thân Mẫu. Ấy vậy mà loài vạn vật cũng hườn lại một tay Mẫu tạo hóa sinh thành tất cả không? Nam mô nhất tâm thành kính. Nam mô A Di Đà Phật, thật y như lời của Mẫu truyền bảo chẳng sai. Trước khi Mẫu hóa sinh ra có một vật thô sản mà thôi. Gọi rằng quả Địa cầu. Rồi nơi quả địa cầu ấy Mẫu tích trữ chẳng biết bao nhiêu tài liệu và phẩm thực, dành để cho sáu ngả luân hồi cần dùng chẳng hay gì hết được.

Trên đời này chỉ có mình Trời là lớn hơn hết mà thôi chứ có ai nào biết đến Mẫu. Chớ như Địa Mẫu này sánh cùng Hoàng Thiên kia cũng đồng một bực đó mà. Khi nào trên trời mưa xuống một giọt nước cam lồ Thủy, thì dưới đất bèn hóa sinh ra các loại ngũ cốc đầy đồng lấp ruộng. Tuy là hạt mưa ngọt ngào trong sạch kia rớt xuống đất đượm nhuần mát mẻ, vậy mà ai có biết đặng gốc hạt mưa ấy bởi nơi đâu mà ra chăng? Cũng bởi hút nước ở trong cốt tủy tinh vị của Mẫu đem lên không trung làm mây, rồi mây ấy bèn đông đặc lại thành giá, giá ấy gặp một luồng điển quang chiếu diệu vào, liền tan ra rơi xuống đất, thành ra mưa đó. Rồng, Cù tàng hình ẩn dạng dưới ngàn sông, muôn suối cũng chưa ra khỏi thân Mẫu được. Bởi vậy cho nên bão tố gió mây gì cũng do nơi Mẫu vận chuyển thực hành tất cả. Nếu Mẫu chẳng điều khiển rồng làm gió làm mây, thì bao giờ ai có thấy Rồng tự chuyên làm mưa xuống xứ nào đặng. Xứ nào mà chẳng có Rồng, Cù tàng hình ẩn dạng ở dưới, hễ nghe lệnh Mẫu hô phong hoán vũ thích lịch lôi đình nơi nào, thì Rồng nơi đó hiện ra làm gió làm mưa liền.

Nhắc tới nhắc lui mà nghe, chớ việc nào cũng do Mẫu vận trù quyết sách cả thay. Vậy mà người đời có mấy ai để tâm xét đến. Mẫu rất đau lòng xót dạ. Nhọc nhằn cay đắng bao nhiêu thì để Mẫu chịu. Còn mặc tốt ăn ngon thì chúng con toại hưởng vui cười. Phật Mẫu phát lạc rằng: từ xưa tới nay, Mẫu chẳng hề nhắm mắt. Hễ Mẫu nhắm mắt lại rồi, ắt có tai to nạn lớn sắp xảy đến cho tất cả chúng sinh liền, chẳng đợi tới giờ nhắm mắt làm cho. Nếu Mẫu xoay lưng sấp mặt trong chừng một giờ, thì con cá Ngao to lớn trở mình lăn qua một cái nó sẽ xủ tiêu sạch bách. Trời thì tan Đất thì rã. Trời Đất đâu có thấy nữa. Trên đời này sẽ thành ra một tràng không thì trống trơn trống lỏng rồi đó. Chừng đó các chư Phật Như Lai cũng phải tàng ẩn ngoài Càn Khôn. Còn chư vị Bồ Tát thì sẽ đào tẩu biệt hình dạng. Nào Vua, Chúa, Quan, Dân đằng sẽ bị diệt tiêu tan rụi hết. Trời Đất Thánh Thần sẽ bị tiêu tan rã rọt, cũng như bị thiêu trong lò bát quái kia vậy. Sẽ chẳng còn biết đâu là Đông, Tây, Nam, Bắc chẳng nhận ra hướng nào cho đặng. Đến chừng đó, muôn loài vật sẽ tan nát biến ra như tro bụi kia vậy.

Phật Địa Mẫu ngự trên cõi thượng tầng tối cao huyền hóa và bảo dưỡng nhân sinh, trải hết lòng lành rất quảng đại như vậy đó.

ĐỨC HỘ PHÁP THUYẾT VỀ PHẬT MẪU NHƯ SAU
Quyền làm MẸ Vạn linh:

Đức Phật Mẫu là bà MẸ thiêng liêng của toàn cả Vạn linh, mà Vạn linh thì gồm đủ Bát Hồn (tức là 8 phẩm Chơn linh) gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Nhưng tại sao quyền hành của Đức Phật Mẫu lại nhỏ hơn quyền hành của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật hay Đức Di-Lạc Vương Phật?

Đức Hộ Pháp thuyết đạo Con đường TLHS giải như sau:

"Bần đạo đi ngang Cung Hỗn Nguơn Thượng Thiên , là nơi Đức Di-Lạc đã thâu pháp, đã định vị nơi ấy. Bần đạo có tả mà trong tâm còn mờ hồ, không biết tại sao, vì lẽ gì, Đức Phật Mẫu là MẸ mà phải chịu dưới quyền con là Đức Di-Lạc, trong bụng coi hơi bất mãn.

Liền khi ấy, Bần đạo ngó thấy cái tướng hình của Đức Phật Mẫu đứng đằng trước, còn Đức Di-Lạc ở đằng sau lưng, quì xuống, đưa hai bàn tay lên, đặng tỏ cho Bần đạo hiểu, dầu cho người con ấy mạnh mẽ, quyền hành thế nào, mà quyền MẸ vẫn là quyền MẸ, không thế gì qua được. Ngài chỉ tuân theo mạng lịnh của Đức Phật Mẫu đặng trị thế mà thôi."

Cũng trong Con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo, thuật lại lúc Ngài vào Diêu Trì Cung bái kiến Đức Phật Mẫu, thấy cái huyền năng vô biên của Đức Phật Mẫu:

Bần đạo cùng các bạn kỳ trước đã ghé nơi Tạo Hóa Thiên, tức Tòa Thiên Cung Phật Mẫu là Diêu Trì Cung.

Bần đạo có nói một điều làm cho chúng ta nên suy nghĩ nhiều là: Huyền bí vô biên của Phật Mẫu.

"Bần đạo nói sơ lược huyền năng thế nào, mà khi chúng ta vào kiến diện Đức Phật Mẫu, ta ngó trên mặt Ngài, ta thấy mặt bà mẹ ta, sanh ta, đương như buổi sống, đương lo buổi trở về. Bần đạo tưởng ngó thấy bà mẹ sanh Bần đạo, tưởng cả thảy cũng đều ngó thấy người mẹ của họ vậy.

Nếu lấy theo cái trí học tưởng tượng không biết con mắt thiêng liêng có chiếu hình mẹ ta chiếu diệu ra không? hay là Huyền diệu vô biên của Phật Mẫu cho chúng ta thấy như vậy.

Bà mẹ hình hài chúng ta đây là nhơn viên của Đức Phật Mẫu bên phái nữ đó....

Có điều trọng hệ là dầu nam nữ cũng vậy, ráng giữ một điều nầy: Coi chừng đừng thất hiếu với cha mẹ. Ngày mình ngó thấy hình ảnh Đức Phật Mẫu thì thấy người Mẹ nhơn từ, hiền hậu vô cùng, hạnh phúc mình được hưởng đó, còn trái ngược lụng lại, nếu ta thất hiếu, ta dòm vào hình ảnh của Phật Mẫu, ta thấy nét mặt nghiêm nghị và lãnh đạm, chúng ta sẽ hết sức đau khổ đó."

Việc thờ phượng Đức Phật Mẫu hiện nay tạm đặt tại Báo Ân Từ trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh. Trong Báo Ân Từ, Đức Phạm Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu theo sự tích Hớn rước Diêu Trì, tức là vua Hớn Võ Đế cầu Đức Phật Mẫu giáng xuống Hoa Điện:

Sự tích: Hớn rước Diêu Trì:
Vua Hớn Võ Đế hay Hán Vũ Đế (141-87 trước Tây lịch) là vị vua thứ 5 của nhà Hớn (Hán) bên Tàu, có hùng tài đại lược, nhưng cũng rất tín ngưỡng Trời Phật.

Khi Hớn Võ Đế mới lên ngôi, Ngài có phát nguyện lập một cảnh chùa thật tráng lệ gọi là HOA ĐIỆN để sùng bái Trời Phật. Gọi là Hoa Điện, vì chùa nầy được chạm khắc hình các thứ hoa trên các vật liệu xây dựng, nên mới trông vào thấy như là một Cung Điện toàn bằng hoa.

Ngôi chùa lớn lao cực kỳ xinh đẹp như thế, nhưng nhà vua chưa quyết định thờ Đấng nào, chỉ để trống, chủ tâm là chờ đợi đến chừng nào nhà vua thấy được sự huyền diệu hiện tượng ra thì nhà vua mới sùng bái.

Đến năm Hớn Võ Đế được 61 tuổi, nhà vua tổ chức một Lễ Khánh thọ Đáo tuế long trọng, Ngài có sở vọng cầu khẩn thế nào cho có Đức Phật Mẫu giáng xuống chứng lễ, nên nhà vua lập bàn hương án trước sân chùa cầu khẩn ngày đêm, mà không biết Đức Phật Mẫu ngự ở nơi nào và có thấu biết chăng?

Lúc bấy giờ có Ông Đông Phương Sóc, tu đắc đạo thành Tiên, mà trước kia Ông có làm quan trong triều đình của Hớn Võ Đế, sau về núi tu luyện, đang ngồi tịnh, chợt động tâm, liền đoán biết hiểu rõ mọi việc của Võ Đế nơi triều đình. Ông liền xuống núi, đi đến kinh đô, vào triều đình yết kiến Võ Đế.

Vua Hớn Võ Đế gặp Đông Phương Sóc thì rất mừng rỡ, thuật hết mọi việc cho Đông Phương Sóc nghe và nói rõ ước vọng của nhà vua nhân cuộc Lễ Khánh thọ Đáo tuế là sở cầu Đức Phật Mẫu đến chứng lễ, mà không biết Đức Phật Mẫu ở nơi nào, và nhờ ai đi thỉnh, may mắn có Đông Phương Sóc tới, vậy nhờ khanh giúp trẫm đi thỉnh Đức Phật Mẫu được chăng?

Ông Đông Phương Sóc tâu rằng:

- Bệ Hạ đã định thì hạ thần phục mạng, dầu khổ nhọc thế nào, hạ thần cũng đến Diêu Trì Cung thỉnh Đức Phật Mẫu, nhưng kết quả được cùng chăng là do lòng thành cầu nguyện của Bệ Hạ. Vậy xin Bệ Hạ ban chiếu cho Thần đi thỉnh.

Đoạn Đông Phương Sóc lãnh chiếu chỉ ra đi.

Ông dùng huyền diệu Tiên gia, chỉ trong chốc lát, Đông Phương Sóc đã đến được Diêu Trì Cung nơi cõi Tạo Hóa Thiên.

Đông Phương Sóc xin vào yết kiến Đức Phật Mẫu và tâu bày hết các việc của vua Hớn Võ Đế khẩn cầu.

Đức Phật Mẫu cảm động và phán:

- Phật Mẫu sẽ giáng phàm vào đêm Trung Thu chứng lễ Khánh thọ của Hớn Võ Đế theo sự khẩn cầu, sẽ đem theo 4 Tiên đồng nữ nhạc đờn ngâm bài chúc thọ, và tặng 4 quả Đào Tiên . Khi Phật Mẫu đến có Thanh loan báo tin trước.

Phương Sóc rất vui mừng, bái tạ Đức Phật Mẫu, rồi cấp tốc trở lại trần gian, tâu bày các việc cho vua Võ Đế biết.

Nhà vua rất vui mừng và hỏi: - Thanh loan là gì?

Đông Phương Sóc đáp: - Thanh loan là con chim loan màu xanh, đó là con chim lịnh của Đức Phật Mẫu, dùng để chở Đức Phật Mẫu du hành khắp nơi.

Xin Bệ Hạ chỉnh trang cho long trọng, trang nghiêm, tinh khiết để nghinh tiếp Đức Phật Mẫu, phải lập bàn hương án bên trong và bên ngoài, xông hương khử trược.

Đêm rằm Trung Thu năm đó, trăng sáng vằng vặc, đầu giờ Tý, Hớn Võ Đế quì trước Hoa Điện, thành tâm cầu khẩn.

Xảy thấy một con chim Thanh loan đáp xuống sân Hoa Điện. Liền khi đó, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và bốn Tiên đồng nữ nhạc giáng lâm trước Hoa Điện.

Hớn Võ Đế cung nghinh Đức Phật Mẫu vào ngự nơi Chánh điện của Hoa Điện.

Đức Phật Mẫu dạy bốn Tiên đồng nữ nhạc trao tặng cho Hớn Võ Đế 4 quả Đào Tiên và ca ngâm bài chúc thọ. Ông Đông Phương Sóc quì, hai tay nâng cái dĩa lên để rước lộc (rước 4 quả Đào Tiên).

Bốn vị Tiên đồng nữ nhạc ấy có tên là: Hứa Phi Yến, An Phát Trinh, Đổng Song Thành và Vương Tử Phá.

Sau khi chứng lễ Đáo tuế của Vua Hớn Võ Đế xong, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương và 4 Tiên đồng nữ nhạc cỡi chim Thanh loan trở về DTC nơi cõi Thiêng liêng.

Vua Hớn Võ Đế ghi nhớ hình ảnh của Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên, cho thợ khéo, tạc hình Đức Phật Mẫu và Chín vị Nữ Tiên nơi Hoa Điện để ghi nhớ sự tích và phụng thờ Đức Phật Mẫu.

Sự tích nầy được truyền tụng đến ngày nay.

Do đó, nơi thờ Đức Phật Mẫu được gọi là ĐIỆN chớ không gọi là ĐỀN.

Do theo sự tích nầy, Đức Hộ Pháp dạy đắp tượng thờ Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương nơi Báo Ân Từ như sau:

" 1. Trên hết là chơn dung Đức Phật Mẫu (ĐPM) cỡi thanh loan, tức là con chim loan màu xanh.

2. Kế đắp 9 pho tượng của Cửu vị Tiên Nương.

3. Đắp thêm 4 pho tượng của 4 Nữ nhạc theo hầu ĐPM.

4. Pho tượng ông Đông Phương Sóc quì bưng bằng hai tay một cái dĩa nâng lên khỏi đầu, trên dĩa có 4 quả đào Tiên do ĐPM ban tặng. Ông Đông Phương Sóc quì bên hữu ĐPM.

5. Pho tượng Đức Cao Thượng Phẩm quì trước sân Hoa Điện.

Trong khuôn tượng, đắp lên một cảnh chùa cổ tự, kiểu xưa gọi là Hoa Điện.

Đáng lẽ tạo hình Hớn Võ Đế, nhưng vì đời Hớn Võ Đế đến nay quá xa thẳm, lại nữa, nguyên căn của Hớn Võ Đế là chơn linh Hớn Chung Ly trong Bát Tiên giáng phàm. Nay là thời Hạ nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng nguơn Tứ Chuyển, Bát Tiên lãnh lịnh giáng phàm làm tướng soái cho Đức Chí Tôn mở Đạo, Đức Cao Thượng Phẩm chính là chơn linh Hớn Chung Ly giáng phàm kỳ nầy, nên tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm thay vào chỗ Hớn Võ Đế thì thuận hơn."

DIÊU TRÌ CUNG CỦA PHẬT MẪU

Diêu Trì Cung:
Diêu: Ngọc Diêu hay ngọc Dao, là loại ngọc rất quí ở cõi thiêng liêng. Trì: cái ao. Cung: cung điện.

Diêu trì hay Dao trì là cái ao làm bằng ngọc diêu nơi cõi thiêng liêng, ở từng Trời thứ 9 Tạo Hóa Thiên.

Diêu Trì Cung là cung điện bên cạnh ao Diêu Trì, là nơi thường ngự của Đức Phật Mẫu.

Bát Nương giáng cơ đêm 10-1-Nhâm Thìn (1952) giảng về Diêu Trì Cung như sau:

"Chị chào mấy em. Đêm nay Chị đến đặng chỉ cho mấy em rõ Diêu Trì Cung là nơi nào?

Nơi ao Diêu Trì có một đài phát hiện Âm quang, đài ấy thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực rồi đem Dương quang hiệp với Âm quang mà tạo nên chơn thần cho vạn linh trong CKVT.

Phật Mẫu là Đấng nắm Cơ Sanh hóa, thay quyền Chí Tôn, đứng ra thâu cả Thập Thiên can đem hiệp với Thập nhị Địa chi mà tạo nên vạn vật. Nơi Cung Diêu Trì là nơi tạo nên chơn thần và thể xác đó vậy.

Diêu Trì Cung là cung điện bằng ngọc diêu ở bên Ao Thất bửu, chớ chẳng chi lạ. Ngọc tượng trưng cho sự quí giá, còn Diêu là chất hơi kết tụ mà thành.

Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ Giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ Phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu.

Quan Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam Hải, ở An Nhàn động, còn Diêu Trì Cung thì ở tại Tạo Hóa Thiên.

Nơi Cung Diêu Trì còn có một cõi Âm Quang riêng biệt gọi là Phong Đô đặng giáo hóa các chơn hồn đã bị lạc nẻo trên đường trần.

Vậy, vắn tắt hơn, Diêu Trì Cung là Cơ Sanh hóa vạn linh và vạn vật đó."